Đề xuất tăng phụ cấp chức vụ đối với lãnh đạo, quản lý ngành Tòa án nhân dân

(TCTA) - Dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc phê chuẩn bảng phụ cấp chức vụ đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ ngành Tòa án nhân dân đang được Tòa án nhân dân tối cao lấy ý kiến. So với Nghị quyết số 730/2004/NQ-UBTVQH11, dự thảo đề xuất tăng hệ số phụ cấp đối với Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh; xác lập mức phụ cấp mới đối với lãnh đạo Tòa án nhân dân khu vực và bổ sung chế độ cho nhiều chức vụ phát sinh sau khi tổ chức lại hệ thống Tòa án.

Hoàn thiện chế độ phụ cấp phù hợp với mô hình Tòa án ba cấp

Tòa án nhân dân tối cao đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc phê chuẩn bảng phụ cấp chức vụ đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ ngành Tòa án nhân dân.

Theo Tờ trình, việc xây dựng Nghị quyết mới xuất phát từ những thay đổi căn bản trong tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân. Từ ngày 01/7/2025, hệ thống Tòa án được tổ chức theo mô hình ba cấp, gồm Tòa án nhân dân tối cao, 34 Tòa án nhân dân cấp tỉnh và 355 Tòa án nhân dân khu vực; đồng thời kết thúc hoạt động của ba Tòa án nhân dân cấp cao và 693 Tòa án nhân dân cấp huyện, thành lập ba Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.

Việc tổ chức lại bộ máy kéo theo sự thay đổi về tên gọi, vị trí pháp lý, phạm vi quản lý, nhiệm vụ và thẩm quyền của nhiều chức vụ lãnh đạo, quản lý. Trong khi đó, chế độ phụ cấp hiện nay chủ yếu được xây dựng trên cơ sở mô hình tổ chức cũ theo Nghị quyết số 730/2004/NQ-UBTVQH11 và các nghị quyết sửa đổi, bổ sung.

Thực tiễn này đòi hỏi phải xây dựng một khung phụ cấp thống nhất, phản ánh đúng vị trí, trách nhiệm và khối lượng công việc của từng chức vụ trong mô hình mới. Việc ban hành Nghị quyết mới còn nhằm tập trung hóa các quy định đang nằm rải rác tại Nghị quyết số 730/2004/NQ-UBTVQH11, Nghị quyết số 823/2009/UBTVQH12, Nghị quyết số 1212/2016/UBTVQH13 và Nghị quyết số 66/2025/UBTVQH15.

Dự thảo Nghị quyết gồm hai điều: Điều 1 quy định phạm vi điều chỉnh; Điều 2 quy định hiệu lực, việc thay thế các quy định hiện hành và trách nhiệm tổ chức thi hành. Kèm theo dự thảo là bảng phụ cấp chức vụ đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý và bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ ngành Tòa án nhân dân.

Tăng phụ cấp đối với Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Một trong những nội dung đáng chú ý nhất là đề xuất tăng hệ số phụ cấp chức vụ đối với Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Theo Tòa án nhân dân tối cao, sau khi thực hiện sắp xếp, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có phạm vi quản lý rộng hơn, đồng thời tiếp nhận một phần nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân cấp cao sau khi cấp Tòa án này kết thúc hoạt động. Tòa án nhân dân cấp tỉnh còn được bổ sung thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng nghị.

Riêng Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phải giải quyết số lượng vụ án, vụ việc lớn, tính chất phức tạp, đồng thời được giao thẩm quyền theo lãnh thổ đối với nhiều vụ việc về trọng tài, phá sản và sở hữu trí tuệ phát sinh tại nhiều tỉnh, thành phố.

Trên cơ sở đó, dự thảo đề xuất:

Chức vụ

Phạm vi áp dụng

Hệ số hiện hành

Hệ số đề xuất

Mức tăng

Chánh án TAND cấp tỉnh

Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh

1,05

1,10

0,05

Phó Chánh án TAND cấp tỉnh

Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh

0,90

0,95

0,05

Chánh án TAND cấp tỉnh

Các tỉnh, thành phố còn lại

0,95

1,05

0,10

Phó Chánh án TAND cấp tỉnh

Các tỉnh, thành phố còn lại

0,80

0,85

0,05

Như vậy, mức tăng cao nhất thuộc về Chánh án Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố ngoài Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tăng 0,10; các chức vụ còn lại tăng 0,05.

Đối với Chánh tòa, Phó Chánh tòa thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh, dự thảo giữ nguyên hệ số hiện hành. Theo đó, tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Chánh tòa hưởng hệ số 0,75, Phó Chánh tòa hưởng hệ số 0,60; tại các tỉnh, thành phố còn lại, các mức tương ứng là 0,65 và 0,50.

Bên cạnh đó, dự thảo đưa trực tiếp vào Nghị quyết mức phụ cấp của Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và tương đương thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Trưởng phòng tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh được đề xuất hưởng hệ số 0,75; tại các địa phương còn lại là 0,65. Phó Trưởng phòng hưởng hệ số tương ứng là 0,60 và 0,50.

Các mức này được xác định ngang với hệ số của Chánh tòa, Phó Chánh tòa cùng cấp. Đây không hoàn toàn là việc tăng từ một hệ số được quy định trực tiếp trong Nghị quyết số 730/2004/NQ-UBTVQH11, mà chủ yếu là sự bổ sung, luật hóa cụ thể chế độ phụ cấp cho các chức vụ lãnh đạo cấp phòng trong cơ cấu tổ chức mới.

Xác lập mặt bằng phụ cấp mới cho Tòa án nhân dân khu vực

Tòa án nhân dân khu vực là cấp Tòa án mới, được thành lập trên cơ sở tổ chức lại các Tòa án nhân dân cấp huyện. Vì vậy, việc so sánh với mức phụ cấp của Tòa án nhân dân cấp huyện trước đây chỉ mang tính tương quan về cấp xét xử và vị trí công tác, không phải sự chuyển đổi hoàn toàn tương ứng giữa từng cơ quan hoặc từng chức vụ.

Dự thảo đề xuất hệ số phụ cấp như sau:

Chức vụ

TAND khu vực tại Hà Nội, TP.HCM

TAND khu vực tại các địa phương còn lại

Chánh án

0,80

0,75

Phó Chánh án

0,65

0,60

Chánh tòa

0,40

0,40

Phó Chánh tòa

0,30

0,30

Chánh Văn phòng

0,40

0,40

Phó Chánh Văn phòng

0,30

0,30

So với phụ cấp của lãnh đạo Tòa án nhân dân cấp huyện trước đây, mức tăng rõ nhất thuộc về Chánh án và Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực.

Đối với các Tòa án tại quận thuộc Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trước đây, Chánh án hưởng hệ số 0,60, Phó Chánh án hưởng hệ số 0,45. Theo dự thảo, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực tại hai thành phố này hưởng hệ số 0,80, tăng 0,20; Phó Chánh án hưởng hệ số 0,65, cũng tăng 0,20.

Đối với Tòa án nhân dân khu vực tại các tỉnh, thành phố còn lại, tùy loại đơn vị hành chính nơi Tòa án cấp huyện trước đây đặt trụ sở, hệ số của Chánh án cũ dao động từ 0,55 đến 0,65, còn Phó Chánh án từ 0,40 đến 0,50. Dự thảo thống nhất mức 0,75 đối với Chánh án và 0,60 đối với Phó Chánh án. Vì vậy, mức chênh lệch tăng tương ứng từ 0,10 đến 0,20.

Đối với các chức vụ còn lại, mức thay đổi không hoàn toàn đồng đều do Nghị quyết số 730/2004/NQ-UBTVQH11 phân loại Tòa án cấp huyện theo nhiều nhóm địa bàn, trong khi dự thảo chỉ còn hai nhóm Tòa án nhân dân khu vực. Cụ thể:

Chánh tòa được đề xuất hưởng hệ số 0,40, so với mức cũ từ 0,30 đến 0,40, tương ứng giữ nguyên hoặc tăng tối đa 0,10.

Phó Chánh tòa hưởng hệ số 0,30, so với mức cũ từ 0,25 đến 0,35. Vì vậy, có trường hợp tăng 0,05, giữ nguyên hoặc thấp hơn 0,05 so với mức của một số đơn vị thuộc nhóm địa bàn cao trước đây.

Chánh Văn phòng hưởng hệ số 0,40, so với mức cũ từ 0,25 đến 0,35, tương ứng tăng từ 0,05 đến 0,15.

Phó Chánh Văn phòng hưởng hệ số 0,30, so với mức cũ từ 0,20 đến 0,30, tương ứng giữ nguyên hoặc tăng từ 0,05 đến 0,10.

Như vậy, không phải toàn bộ chức vụ tại Tòa án nhân dân khu vực đều được tăng phụ cấp. Dự thảo chủ yếu nâng mạnh hệ số của Chánh án, Phó Chánh án; nâng hoặc giữ ổn định đối với Chánh tòa, Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng; riêng Phó Chánh tòa có thể tăng, giữ nguyên hoặc giảm nhẹ tùy nhóm địa bàn được dùng làm cơ sở so sánh.

Theo Tờ trình, việc nâng mặt bằng phụ cấp xuất phát từ phạm vi thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực lớn hơn nhiều so với Tòa án nhân dân cấp huyện. Mỗi Tòa án nhân dân khu vực có phạm vi lãnh thổ bằng khoảng ba đến bốn lần phạm vi của Tòa án cấp huyện trước đây; thẩm quyền sơ thẩm được mở rộng đối với vụ án hình sự, hành chính, dân sự và các vụ việc khác. Một số Tòa án nhân dân khu vực tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh còn được giao giải quyết vụ việc phá sản, sở hữu trí tuệ trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố.

Bổ sung phụ cấp cho các chức vụ mới tại Tòa án nhân dân tối cao

Ở Tòa án nhân dân tối cao, dự thảo giữ nguyên hệ số 1,30 đối với Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và 1,25 đối với Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Điểm mới là bổ sung phụ cấp cho lãnh đạo ba Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao. Chánh tòa Tòa Phúc thẩm được đề xuất hưởng hệ số 1,05, ngang Vụ trưởng; Phó Chánh tòa hưởng hệ số 0,85, ngang Phó Vụ trưởng.

Đồng thời, thay vì chỉ quy định trực tiếp đối với Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng Vụ Giám đốc, kiểm tra như trước đây, dự thảo mở rộng áp dụng thống nhất mức 1,05 đối với Vụ trưởng và tương đương, mức 0,85 đối với Phó Vụ trưởng và tương đương tại các cục, vụ, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và cơ quan báo chí thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Trưởng phòng và tương đương tại Tòa án nhân dân tối cao được quy định hệ số 0,75; Phó Trưởng phòng và tương đương hưởng hệ số 0,60. Việc đưa trực tiếp các chức vụ này vào bảng phụ cấp góp phần khắc phục tình trạng phải viện dẫn mức phụ cấp tương ứng của các chức danh thuộc Bộ do Chính phủ quy định.

Sự điều chỉnh này hướng đến bảo đảm bình đẳng về chế độ giữa các chức vụ có cùng cấp quản lý, mức độ trách nhiệm và yêu cầu chuyên môn; đồng thời tạo thuận lợi cho việc điều động, luân chuyển cán bộ giữa các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ cơ bản được giữ nguyên

Khác với bảng phụ cấp chức vụ, dự thảo không điều chỉnh hệ số của bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ ngành Tòa án nhân dân. Ba nhóm chức danh A3, A2 và A1 tiếp tục áp dụng các hệ số hiện hành:

Loại A3 gồm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 3, Thẩm tra viên cao cấp, Thư ký viên cao cấp, gồm sáu bậc, từ hệ số 6,20 đến 8,00.

Loại A2 gồm Thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 2, Thẩm tra viên chính, Thư ký viên chính, gồm tám bậc, từ hệ số 4,40 đến 6,78.

Loại A1 gồm Thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 1, Thẩm tra viên, Thư ký viên, gồm chín bậc, từ hệ số 2,34 đến 4,98.

Như vậy, nội dung thay đổi trọng tâm của dự thảo là phụ cấp chức vụ lãnh đạo, quản lý, không phải nâng hệ số lương chuyên môn, nghiệp vụ của Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký viên.

Cần thống nhất quy định về thời điểm áp dụng

Theo dự thảo, Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Tuy nhiên, tại Tờ trình, Tòa án nhân dân tối cao đề nghị áp dụng các mức phụ cấp mới kể từ ngày 01/7/2025 - thời điểm hệ thống Tòa án theo mô hình mới chính thức đi vào hoạt động. Hai mốc thời gian này cần được tiếp tục rà soát và thể hiện thống nhất trong điều khoản thi hành. Nếu chủ trương là cho hưởng phụ cấp từ ngày 01/7/2025 thì nội dung này cần được quy định rõ trong Nghị quyết, qua đó tạo căn cứ pháp lý trực tiếp cho việc truy lĩnh phần chênh lệch, xác định nguồn kinh phí và tổ chức chi trả.

Bên cạnh đó, dự thảo cần rà soát lại tên gọi của bảng kèm theo. Nội dung dự thảo và Tờ trình đều xác định đây là “bảng phụ cấp chức vụ”, nhưng tiêu đề bảng trong phụ lục lại thể hiện “Bảng lương chức vụ đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành Tòa án nhân dân”. Đơn vị tính “1.000 đồng” cũng chưa phù hợp với các cột đang thể hiện bằng hệ số. Đây là những vấn đề kỹ thuật lập pháp cần được chỉnh lý để bảo đảm thống nhất giữa tên gọi, nội dung điều chỉnh và phương pháp tính hưởng.

Có thể thấy, dự thảo Nghị quyết không đơn thuần nâng một số mức phụ cấp mà còn thiết lập lại toàn bộ khung phụ cấp chức vụ phù hợp với mô hình Tòa án ba cấp. Việc tăng hệ số đối với các chức vụ có phạm vi quản lý, thẩm quyền và trách nhiệm lớn hơn; bổ sung chế độ cho các chức vụ mới và thống nhất chính sách giữa các đơn vị là cần thiết. Đây cũng là cơ sở góp phần bảo đảm điều kiện thực hiện nhiệm vụ, nâng cao trách nhiệm công vụ và ổn định đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống Tòa án nhân dân sau quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy.

QUANG PHÚC - THANH THỦY

Trụ sở Tòa án nhân dân tối cao - ảnh: KHẢI HOÀN/TCTA.