Đột phá chuyển đổi số, xây dựng Tòa án điện tử - yêu cầu cấp thiết trong xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại
Chuyển đổi số, xây dựng Tòa án điện tử là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là ứng dụng công nghệ thông tin hay chuyển hồ sơ giấy thành dữ liệu điện tử, mà là quá trình đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo, quản trị Tòa án, tổ chức hoạt động tố tụng và cung cấp dịch vụ tư pháp trên môi trường số. Trước yêu cầu của Nghị quyết số 27-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW, quá trình này phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của các cấp ủy đảng; triển khai đồng bộ trên các trụ cột thể chế, quy trình, dữ liệu, nền tảng, hạ tầng, công nghệ, nhân lực và văn hóa số; đồng thời, bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu, quyền con người, quyền công dân và nguyên tắc độc lập xét xử. Mục tiêu xuyên suốt là xây dựng Tòa án hiện đại, quản trị dựa trên dữ liệu, lấy người dân và khả năng tiếp cận công lý làm trung tâm, tạo nền tảng tiến tới Tòa án số, Tòa án thông minh.
1. Xây dựng Tòa án điện tử - yêu cầu khách quan của cải cách tư pháp trong kỷ nguyên số
Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tổ chức, vận hành của Nhà nước, cách thức cung cấp dịch vụ công và quan hệ giữa cơ quan công quyền với người dân, doanh nghiệp. Trong lĩnh vực tư pháp, sự thay đổi đó có ý nghĩa đặc biệt, bởi hoạt động của Tòa án gắn trực tiếp với bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân và bảo đảm thượng tôn Hiến pháp, pháp luật.
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xác định mục tiêu xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; đồng thời đặt ra nhiệm vụ "xây dựng Tòa án điện tử". Đây là định hướng chiến lược đối với việc hiện đại hóa hoạt động Tòa án trong tổng thể xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia tiếp tục tạo bước chuyển quan trọng về nhận thức và hành động. Nghị quyết xác định thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi; thể chế phải đi trước một bước, dữ liệu là nguồn tài nguyên quan trọng; an ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin là yêu cầu xuyên suốt.
Đặt hai định hướng chiến lược này trong mối quan hệ thống nhất có thể thấy: xây dựng Tòa án điện tử không còn là một lựa chọn mang tính khuyến khích, càng không phải một dự án công nghệ riêng lẻ, mà là bộ phận cấu thành của cải cách tư pháp và hiện đại hóa phương thức thực hiện quyền tư pháp.
Nếu chuyển đổi số chỉ được hiểu là trang bị máy tính, xây dựng phần mềm, số hóa văn bản hoặc thay hồ sơ giấy bằng tệp điện tử thì mới dừng ở tin học hóa. Chuyển đổi số phải làm thay đổi cách Tòa án quản trị công việc; cách Thẩm phán và các chức danh tư pháp tiếp cận thông tin, xử lý vụ việc; cách người dân thực hiện quyền tố tụng, tiếp cận công lý; đồng thời chuyển từ quản lý chủ yếu bằng báo cáo thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu.
Vì vậy, Tòa án điện tử không phải là Tòa án truyền thống được "điện tử hóa", mà là mô hình hoạt động tư pháp được thiết kế lại phù hợp với môi trường số, trên cơ sở giữ vững các nguyên tắc cốt lõi của tư pháp.
2. Từ số hóa từng phần đến hình thành phương thức tư pháp trên môi trường số
Những năm qua, hệ thống Tòa án nhân dân đã từng bước hình thành nhiều cấu phần quan trọng của Tòa án điện tử. Thể chế cho hoạt động tư pháp trên môi trường số tiếp tục được hoàn thiện; việc công khai bản án, quyết định, tổ chức phiên tòa trực tuyến, triển khai Trợ lý ảo hỗ trợ Thẩm phán, xây dựng phần mềm quản lý án, số hóa hồ sơ và cung cấp dịch vụ tư pháp công trực tuyến đã đạt những kết quả bước đầu. Dữ liệu của Tòa án cũng từng bước được chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu của ban, bộ, ngành theo quy định, góp phần giảm thu thập, nhập lại thông tin, hỗ trợ giải quyết án và nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo, điều hành.
Những kết quả đó cho thấy chuyển đổi số đã đi vào thực tiễn hoạt động của Tòa án, tạo tiền đề chuyển từ ứng dụng công nghệ theo từng nhiệm vụ sang hình thành một phương thức hoạt động tư pháp thống nhất trên môi trường số.
Chỉ thị số 02/CT-CA ngày 15/01/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng Tòa án điện tử đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế: hạ tầng kỹ thuật chưa đồng đều; kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan tư pháp còn hạn chế; tình trạng "cát cứ thông tin", "co cụm dữ liệu" vẫn tồn tại; một số hoạt động còn thực hiện thủ công; tỷ lệ sử dụng dịch vụ tư pháp công trực tuyến chưa cao. Điều đó cho thấy điểm nghẽn không chỉ nằm ở thiết bị, phần mềm, mà còn ở thể chế, quy trình nghiệp vụ, dữ liệu, phương thức tổ chức thực hiện và nhận thức của đội ngũ cán bộ.
Đến năm 2026, quá trình này bước sang giai đoạn phát triển mới. Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP ngày 15/01/2026 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số, tạo cơ sở pháp lý cho việc gửi, nhận tài liệu, chứng cứ điện tử; thực hiện giao dịch điện tử, thanh toán trực tuyến nghĩa vụ tài chính; tổ chức phiên họp, phiên tòa trực tuyến; yêu cầu cấp bản sao bản án, quyết định trên môi trường số. Đây là bước tiến quan trọng, từng bước đưa môi trường số từ vị trí hỗ trợ trở thành một phương thức thực hiện hoạt động tố tụng khi đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp lý và kỹ thuật.
Định hướng chuyển đổi số năm 2026 của hệ thống Tòa án đặt mục tiêu đến năm 2027 triển khai Tòa án điện tử trong toàn hệ thống, tiến tới xây dựng Tòa án số vào năm 2030. Trong năm 2026, phấn đấu 100% Tòa án có hạ tầng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu an toàn; 100% Tòa án đủ điều kiện tổ chức hội nghị và phiên tòa trực tuyến; tối thiểu 80% quy trình nghiệp vụ trọng yếu được xử lý trên nền tảng quản lý án toàn trình; 100% hồ sơ đủ điều kiện được số hóa; đội ngũ cán bộ được bồi dưỡng kỹ năng số và kỹ năng khai thác trí tuệ nhân tạo. Đây là các mục tiêu chuyển tiếp nhằm kết nối những cấu phần đã hình thành một hệ thống thống nhất, đồng bộ, liên thông.
Vấn đề đặt ra hiện nay không còn là có chuyển đổi số hay không, mà là làm thế nào chuyển từ số hóa từng phần, từ các hệ thống và ứng dụng riêng lẻ sang mô hình Tòa án điện tử thống nhất, tạo thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, quản trị, hoạt động tố tụng và phục vụ Nhân dân.
3. Những vấn đề cần giải quyết để tạo đột phá thực chất
Trước hết, điểm nghẽn về thể chế và quy trình nghiệp vụ
Công nghệ chỉ phát huy tác dụng khi quy trình được xác định rõ ràng, thống nhất và hợp lý. Nếu một quy trình thủ công còn nhiều tầng nấc, nhiều khâu trung gian không cần thiết được chuyển nguyên trạng lên môi trường điện tử thì kết quả chỉ là "số hóa thủ tục", chưa phải chuyển đổi số. Vì vậy, phải rà soát, chuẩn hóa và tái thiết kế quy trình nghiệp vụ theo nguyên tắc số ngay từ đầu.
Thứ hai, chất lượng và khả năng liên thông của dữ liệu tư pháp
Tòa án điện tử không thể vận hành hiệu quả nếu dữ liệu phân tán, thiếu đầy đủ, không chuẩn hóa hoặc không thể liên thông. Dữ liệu về bản án, quyết định, hồ sơ vụ án, đương sự, quá trình tố tụng, án lệ, văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và quản trị phải từng bước hợp thành hệ sinh thái dữ liệu tư pháp thống nhất, được quản trị tập trung, có cấu trúc và được khai thác đúng thẩm quyền. Khi đó, dữ liệu không chỉ phục vụ lưu trữ, thống kê, mà trở thành nền tảng cho giải quyết án, tổng kết thực tiễn xét xử, phát triển án lệ, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và quản trị, chỉ đạo, điều hành theo dữ liệu cập nhật kịp thời.
Thứ ba, an ninh, an toàn và chủ quyền dữ liệu tư pháp
Hồ sơ vụ án có thể chứa bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh và nhiều dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Một sự cố rò rỉ, mất mát hoặc làm sai lệch dữ liệu không chỉ là sự cố công nghệ mà có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và uy tín của cơ quan tư pháp. Vì vậy, an ninh mạng, an toàn thông tin và chủ quyền dữ liệu phải được đặt ra ngay từ khâu thiết kế, xuyên suốt vòng đời của hệ thống.
Thứ tư, nguồn nhân lực và văn hóa tư pháp số
Công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng không tạo ra chuyển đổi nếu người sử dụng coi cập nhật dữ liệu là việc của bộ phận công nghệ thông tin hoặc vẫn duy trì đầy đủ, song song cả quy trình giấy và quy trình số. Chuyển đổi số phải gắn với thay đổi thói quen làm việc, nâng cao kỹ năng số, xác lập trách nhiệm đối với dữ liệu và đổi mới phương thức đánh giá công vụ.
Thứ năm, nhận thức xã hội và niềm tin đối với tư pháp số
Công nghệ càng tham gia sâu vào hoạt động tư pháp, yêu cầu giải thích cho xã hội về cách thức vận hành, phạm vi ứng dụng, giới hạn của công nghệ và cơ chế bảo vệ quyền con người càng cao. Nếu thiếu thông tin chính xác, kịp thời, khoảng trống thông tin dễ bị lấp đầy bởi suy đoán, thông tin sai lệch hoặc cách hiểu không đầy đủ về hoạt động của Tòa án.
4. Những đột phá cần tập trung trong giai đoạn mới
Trước hết, cần thống nhất về đích đến. Tòa án điện tử phải là một chỉnh thể thống nhất, liên thông từ Tòa án nhân dân tối cao đến các Tòa án địa phương; hoạt động lãnh đạo, quản trị, điều hành và nghiệp vụ được thực hiện trên môi trường số; quá trình giải quyết vụ án, vụ việc được quản lý xuyên suốt trên nền tảng quản lý án toàn trình; dữ liệu được quản trị tập trung, kết nối, chia sẻ theo thẩm quyền; người dân và các chủ thể tham gia tố tụng có thể thực hiện thủ tục tư pháp thuận lợi trên môi trường số. Công nghệ mới, nhất là trí tuệ nhân tạo, được sử dụng để hỗ trợ quản trị và chuyên môn, nhưng không thay thế quyền phán quyết của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Trên cơ sở đó, cần tập trung vào các đột phá sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, quản trị Tòa án
Chuyển đổi số là nhiệm vụ chính trị, gắn trực tiếp với đổi mới phương thức lãnh đạo, quản trị và tổ chức hoạt động của Tòa án. Các cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả chuyển đổi số của cơ quan, đơn vị. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong tổ chức thực hiện chuyển đổi số; Chỉ thị số 04/2025/CT-CA của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục xác định đây là trách nhiệm chính trị trực tiếp của người đứng đầu và là nhiệm vụ công vụ bắt buộc đối với cán bộ, công chức, viên chức.
Phải khắc phục triệt để tư duy "khoán chuyển đổi số cho đơn vị công nghệ". Cơ quan chuyên trách về công nghệ thông tin có trách nhiệm tham mưu kiến trúc tổng thể, tổ chức triển khai nền tảng, dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật và an toàn thông tin. Các đơn vị chuyên môn phải xác định yêu cầu nghiệp vụ, chuẩn hóa quy trình, chịu trách nhiệm về chất lượng dữ liệu và tổ chức sử dụng hệ thống. Cấp ủy, người đứng đầu lãnh đạo, kiểm tra và đánh giá hiệu quả thực chất, lấy kết quả chuyển đổi số làm một tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ.
Thứ hai, lấy hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa quy trình làm khâu đột phá đi trước
Cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định về hồ sơ điện tử, chứng cứ điện tử, chữ ký số, tống đạt điện tử, phiên tòa, phiên họp trực tuyến, lưu trữ điện tử, định danh và xác thực điện tử, thanh toán trực tuyến, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa Tòa án với các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan nhà nước có liên quan.
Mục tiêu không chỉ là tạo căn cứ pháp lý cho từng phần mềm, mà là từng bước hình thành hệ thống thể chế đồng bộ cho hoạt động tư pháp trên môi trường số, bảo đảm giá trị pháp lý, tính xác thực, toàn vẹn, khả năng kiểm chứng và trách nhiệm của các chủ thể tham gia.
Cùng với hoàn thiện thể chế, phải thực hiện nhất quán nguyên tắc: không số hóa nguyên trạng một quy trình bất hợp lý; cải cách, chuẩn hóa và tái thiết kế quy trình phải đi trước hoặc tiến hành đồng thời với số hóa. Đây là điều kiện để chuyển đổi số thực sự cắt giảm thời gian, chi phí, giấy tờ và thao tác không cần thiết cho cả Tòa án và người dân.
Thứ ba, xây dựng dữ liệu tư pháp thành hạ tầng cốt lõi của Tòa án điện tử và nền tảng của quản trị dựa trên dữ liệu
Cần chuyển mạnh từ tư duy "xây dựng phần mềm" sang "xây dựng, quản trị và khai thác dữ liệu"; coi dữ liệu là tài sản chiến lược của hệ thống Tòa án, là nền tảng liên thông hoạt động nghiệp vụ, quản trị và phục vụ người dân.
Dữ liệu phải được tạo lập từ hoạt động nghiệp vụ, bảo đảm đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất và dùng chung. Mỗi dữ liệu chỉ tạo lập một lần tại nguồn và được khai thác nhiều lần theo thẩm quyền. Hạn chế tối đa việc yêu cầu cán bộ nhập lại, người dân cung cấp lại thông tin đã có trong hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của Tòa án hoặc có thể khai thác hợp pháp từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của bộ, ngành.
Trên nền tảng đó, cần hoàn thiện kiến trúc và khung quản trị dữ liệu; quy định rõ việc phân loại, phân quyền truy cập, kiểm soát lịch sử khai thác và trách nhiệm đối với từng nhóm dữ liệu; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu của Tòa án với các cơ sở dữ liệu quốc gia và dữ liệu của cơ quan tư pháp theo quy định của pháp luật. Dữ liệu phải được khai thác cho các hệ thống phân tích, giám sát, cảnh báo, giúp lãnh đạo các cấp nắm chắc tình hình, tiến độ, chất lượng hoạt động, từng bước chỉ đạo, điều hành theo thời gian thực.
Một hệ sinh thái dữ liệu tư pháp đầy đủ, tin cậy và được quản trị tốt không chỉ phục vụ giải quyết án, mà còn là nguồn tư liệu có giá trị cho tổng kết thực tiễn, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ, nghiên cứu khoa học, hoạch định chính sách tư pháp và phát triển các công cụ trí tuệ nhân tạo của hệ thống Tòa án.
Thứ tư, phát triển đồng bộ nền tảng số, tạo đột phá trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo nhưng bảo đảm con người kiểm soát quyết định tư pháp
Tòa án điện tử phải được xây dựng trên kiến trúc tổng thể thống nhất, liên thông từ Tòa án nhân dân tối cao đến các Tòa án địa phương. Các nền tảng dùng chung, trọng tâm là nền tảng quản lý án toàn trình, phải quản lý xuyên suốt vòng đời vụ án, vụ việc; kết nối với dịch vụ tư pháp số, dữ liệu tư pháp, công cụ quản trị và các hệ thống có liên quan; khắc phục đầu tư manh mún, trùng lặp và hình thành các "ốc đảo" công nghệ.
Trí tuệ nhân tạo cần được phát triển như một năng lực dùng chung của Tòa án điện tử, dựa trên dữ liệu tư pháp có chất lượng và cơ chế quản trị, kiểm soát thống nhất. AI có thể hỗ trợ tra cứu pháp luật, tìm kiếm án lệ, tổng hợp hồ sơ, nhận diện và phân loại tài liệu, kiểm tra hình thức văn bản, phát hiện mâu thuẫn thông tin, thống kê, phân tích và hỗ trợ một số hoạt động quản trị; qua đó giảm công việc hành chính để Thẩm phán tập trung cho nghiên cứu hồ sơ và xét xử.
Tuy nhiên, phải xác lập rõ ranh giới: công nghệ và AI chỉ hỗ trợ, không thay thế quyền phán quyết và trách nhiệm nghề nghiệp của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Hệ thống AI trong tư pháp phải có sự kiểm soát của con người, có khả năng truy vết, kiểm tra, giải thích và đánh giá kết quả; không để khuyến nghị của thuật toán trở thành áp lực vô hình đối với sự độc lập xét xử. Đây là nguyên tắc phân biệt ứng dụng AI trong tư pháp với nhiều lĩnh vực hành chính thông thường.
Thứ năm, đầu tư đồng bộ hạ tầng số đi đôi với bảo đảm an ninh, an toàn và chủ quyền dữ liệu
Hạ tầng số phải đáp ứng yêu cầu vận hành liên tục, có khả năng dự phòng, mở rộng và thích ứng với công nghệ mới; tuân thủ kiến trúc tổng thể của Tòa án điện tử; hạn chế phụ thuộc quá mức vào một công nghệ hoặc nhà cung cấp. Đầu tư hạ tầng phải gắn với hiệu quả khai thác, khả năng kết nối, chia sẻ và yêu cầu phát triển lâu dài của toàn hệ thống.
Cùng với đó, phải xây dựng cơ chế giám sát an toàn thông tin tập trung; kiểm soát chặt chẽ quyền truy cập; mã hóa dữ liệu quan trọng; tổ chức sao lưu, dự phòng, phục hồi sau sự cố và kiểm tra an ninh định kỳ. Đối với dữ liệu tư pháp trọng yếu, yêu cầu về chủ quyền dữ liệu và khả năng kiểm soát của hệ thống Tòa án phải được đặt ra ngay từ khâu thiết kế hệ thống.
Thứ sáu, lấy kết quả phục vụ người dân và khả năng tiếp cận công lý làm thước đo của chuyển đổi số
Tòa án điện tử chỉ có ý nghĩa khi người dân thực sự được thụ hưởng. Người dân ở xa có thể nộp đơn, gửi tài liệu, theo dõi tình trạng xử lý, thực hiện nghĩa vụ tài chính, nhận văn bản tố tụng mà không phải đi lại nhiều lần; luật sư có thể gửi chứng cứ, thực hiện quyền tố tụng trên môi trường điện tử; thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu nhà nước không bị yêu cầu cung cấp lại một cách không cần thiết. Đó là những biểu hiện cụ thể của nền tư pháp số phục vụ Nhân dân.
Số hóa cũng không được tạo ra rào cản mới đối với người cao tuổi, người khuyết tật, người có hoàn cảnh khó khăn hoặc hạn chế về kỹ năng số. Trong giai đoạn chuyển tiếp, cần duy trì các cơ chế hướng dẫn, hỗ trợ và phương thức tiếp cận phù hợp, bảo đảm chuyển đổi số mở rộng chứ không thu hẹp khả năng tiếp cận công lý.
Thứ bảy, phát triển nguồn nhân lực số và hình thành văn hóa dữ liệu trong toàn hệ thống Tòa án
Đào tạo chuyển đổi số không thể chỉ dừng ở hướng dẫn sử dụng phần mềm. Cần hình thành đồng bộ ba nhóm năng lực: sử dụng công nghệ; hiểu, khai thác và chịu trách nhiệm đối với dữ liệu; nhận diện rủi ro pháp lý, đạo đức và an ninh khi sử dụng công nghệ mới, nhất là trí tuệ nhân tạo.
Đồng thời, phải xây dựng kỷ luật dữ liệu và văn hóa làm việc trên môi trường số. Khi nền tảng quản lý án và các hệ thống nghiệp vụ được xác định là nguồn dữ liệu chính thức, việc cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời phải trở thành trách nhiệm công vụ và tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Dữ liệu có chất lượng là điều kiện để quản trị Tòa án dựa trên bằng chứng, giảm phụ thuộc vào báo cáo thủ công.
Thứ tám, gắn chuyển đổi số với công tác xây dựng Đảng, nghiên cứu lý luận, đào tạo và truyền thông tư pháp
Chuyển đổi số không chỉ thay đổi công cụ làm việc mà còn tác động đến nhận thức, phương thức tổ chức và văn hóa công vụ. Vì vậy, công tác xây dựng Đảng, công tác tư tưởng, kiểm tra, giám sát, nghiên cứu lý luận, đào tạo và truyền thông phải được đặt trong tổng thể xây dựng Tòa án điện tử, góp phần tạo sự thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động trong toàn hệ thống.
Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường lãnh đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số; kịp thời chấn chỉnh biểu hiện hình thức, né tránh trách nhiệm hoặc duy trì phương thức làm việc cũ làm giảm hiệu quả của hệ thống số. Công tác tư tưởng phải đi trước, tạo đồng thuận trong đội ngũ Thẩm phán, cán bộ, công chức, viên chức về yêu cầu đổi mới phương thức làm việc, trách nhiệm cập nhật, khai thác dữ liệu và sử dụng công nghệ mới có trách nhiệm.
Ban Tuyên giáo và Dân vận, Ban Chỉ đạo 35 của Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao cùng các cơ quan tham mưu công tác Đảng cần chủ động nắm bắt, phân tích, dự báo tình hình tư tưởng và dư luận liên quan đến cải cách tư pháp, chuyển đổi số; cung cấp, định hướng thông tin đối với vấn đề mới, phức tạp, nhạy cảm; kịp thời nhận diện, đấu tranh với thông tin giả, thông tin sai sự thật, xuyên tạc hoạt động của Tòa án. Truyền thông phải chuyển mạnh từ "đưa tin" sang truyền thông chủ động, truyền thông giải thích, làm rõ lợi ích, giới hạn và cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng điện tử, xét xử trực tuyến, khai thác dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Các cơ quan nghiên cứu, Học viện Tòa án và đội ngũ chuyên gia cần đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động của mô hình thí điểm, phát hiện khoảng trống pháp lý và cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện chính sách. Công tác đào tạo, bồi dưỡng phải đồng thời trang bị năng lực số, văn hóa dữ liệu, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và khả năng nhận diện rủi ro pháp lý, đạo đức, an ninh khi sử dụng công nghệ mới.
Tạp chí Tòa án nhân dân, Báo Công lý, Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao và các kênh thông tin chính thống cần phát huy vai trò nghiên cứu, trao đổi, phổ biến tri thức và truyền thông về cải cách tư pháp, chuyển đổi số; làm cầu nối giữa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với thực tiễn xét xử và yêu cầu của Nhân dân.
Cần hình thành cơ chế phối hợp thường xuyên giữa đơn vị chuyên môn, cơ quan công nghệ thông tin, cơ quan tham mưu công tác Đảng, cơ quan nghiên cứu, đào tạo và báo chí, truyền thông; xác định rõ trách nhiệm và cơ chế cung cấp thông tin. Khi sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động chuyên môn, công nghệ, nghiên cứu và truyền thông được kết nối trong một chỉnh thể thống nhất, chuyển đổi số mới tạo ra thay đổi bền vững trong toàn hệ thống Tòa án.
5. Chuyển đổi số phải hướng tới một nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại
Thước đo cuối cùng của Tòa án điện tử không phải là số lượng phần mềm, máy chủ hay hồ sơ được quét thành tệp điện tử, mà là chất lượng hoạt động tư pháp: thời gian giải quyết công việc có được rút ngắn; người dân có dễ tiếp cận Tòa án hơn; dữ liệu có giúp giảm thủ tục và nâng cao chất lượng quản trị; hoạt động của Tòa án có minh bạch, trách nhiệm hơn; Thẩm phán có được hỗ trợ tốt hơn để tập trung vào xét xử; và quan trọng nhất, quyền con người, quyền công dân, nguyên tắc độc lập xét xử có được bảo đảm tốt hơn hay không.
Bên cạnh chỉ tiêu về tỷ lệ số hóa hoặc mức độ sử dụng phần mềm, cần xây dựng các chỉ số phản ánh hiệu quả thực chất: thời gian xử lý thủ tục; mức độ giảm giấy tờ và thao tác lặp lại; tỷ lệ người dân sử dụng thành công dịch vụ tư pháp trực tuyến; mức độ hài lòng của người sử dụng; chất lượng dữ liệu; số lượng, mức độ sự cố an toàn thông tin; hiệu quả hỗ trợ của công nghệ đối với Thẩm phán và hoạt động quản trị.
Cần mạnh dạn thí điểm mô hình mới nhưng phải có cơ chế đánh giá khoa học, khách quan. Vấn đề đã rõ, đủ căn cứ pháp lý và thực tiễn thì triển khai nhanh; vấn đề mới, tác động trực tiếp đến quyền con người hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến độc lập tư pháp thì phải thí điểm thận trọng, kiểm soát rủi ro, đánh giá độc lập và chỉ nhân rộng khi chứng minh được hiệu quả.
Đó là sự kết hợp cần thiết giữa tinh thần đột phá của chuyển đổi số với tính thận trọng, chuẩn mực của hoạt động tư pháp.
Kết luận
Xây dựng Tòa án điện tử là bước phát triển tất yếu trong tiến trình xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Yêu cầu hiện nay không chỉ là đưa thêm công nghệ vào Tòa án, mà là sử dụng công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo để tổ chức lại phương thức quản trị và hoạt động tư pháp theo hướng hiệu quả, minh bạch, dễ tiếp cận và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Đây là quá trình đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo, quản trị và tổ chức hoạt động tư pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng; lấy dữ liệu làm nền tảng, công nghệ làm công cụ, con người làm trung tâm và khả năng tiếp cận công lý của Nhân dân làm thước đo.
Từ nay đến năm 2030 là giai đoạn có ý nghĩa quyết định để chuyển từ các ứng dụng số riêng lẻ sang hình thành Tòa án điện tử thống nhất, liên thông trong toàn hệ thống; quản trị, điều hành và nghiệp vụ được thực hiện trên môi trường số; quá trình giải quyết vụ án, vụ việc được quản lý xuyên suốt; dữ liệu được quản trị tập trung, chia sẻ theo thẩm quyền; người dân tiếp cận dịch vụ tư pháp thuận lợi hơn; trí tuệ nhân tạo và công nghệ mới được ứng dụng có trách nhiệm để hỗ trợ hoạt động tư pháp. Đó là nền tảng tiến tới Tòa án số, Tòa án thông minh.
Để tạo đột phá thực chất, phải triển khai đồng bộ từ tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa và tái thiết kế quy trình, xây dựng dữ liệu tư pháp, phát triển nền tảng và hạ tầng số, bảo đảm an ninh, an toàn, ứng dụng có trách nhiệm trí tuệ nhân tạo đến phát triển nguồn nhân lực, văn hóa số, nghiên cứu, đào tạo và truyền thông. Trong mọi trường hợp, công nghệ có thể làm thay đổi phương tiện thực hiện công lý, nhưng các giá trị cốt lõi của tư pháp - độc lập, công bằng, liêm chính, nhân văn, thượng tôn pháp luật và phụng sự Nhân dân - phải luôn là điểm xuất phát và đích đến của mọi quá trình chuyển đổi.
Đột phá chuyển đổi số, xây dựng Tòa án điện tử không nhằm tạo thêm nhiều phần mềm hay phô diễn công nghệ hiện đại, mà hướng đến xây dựng một nền tư pháp tốt hơn: chuyên nghiệp hơn, hiện đại hơn, minh bạch hơn, gần dân hơn, quản trị hiệu quả hơn và đủ năng lực thực hiện sứ mệnh bảo vệ công lý trong kỷ nguyên số.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
2. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chỉ thị số 02/CT-CA ngày 15/01/2024 về đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng Tòa án điện tử.
4. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chỉ thị số 04/2025/CT-CA ngày 31/12/2025 về các nhiệm vụ trọng tâm chuyển đổi số, xây dựng Tòa án điện tử trong hệ thống Tòa án nhân dân.
5. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP ngày 15/01/2026 hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân.
6. Kế hoạch triển khai thực hiện chuyển đổi số trong Tòa án nhân dân năm 2026.
7. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 422/QĐ-TTg ngày 10/3/2026 phê duyệt Đề án chuyển đổi số trong hoạt động tố tụng hình sự và thi hành án hình sự.
Lễ ký kết Chương trình phối hợp công tác giữa TANDTC và Đài Truyền hình Việt Nam giai đoạn 2026-2030 - Ảnh: Báo Công lý.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Tòa phúc thẩm tuyên hủy án, điều tra lại vụ cựu Hiệu trưởng thu sai tiền dạy thêm
-
TANDTC họp giao ban công tác, tập trung hoàn thành nhiệm vụ trọng tâm năm 2026
-
Sôi nổi Giải thể thao Tòa án nhân dân năm 2026
-
TAND Hà Tĩnh tổ chức Giải Pickleball, Kéo co chào mừng 81 năm Ngày truyền thống Tòa án nhân dân
-
Bảo vệ quyền của nạn nhân tội phạm mua bán người theo Công ước ACTIP và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam
Bình luận