Giải quyết về con chung trong vụ án ly hôn khi đương sự không yêu cầu

Bài viết phân tích quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng trong việc giải quyết vấn đề con chung khi các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét trong vụ án ly hôn. Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật thấy rằng, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về trường hợp này, dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tiễn xét xử. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự và trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, bài viết đề xuất cần có hướng dẫn thống nhất của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nhằm bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất, đồng thời, hài hòa giữa quyền tự định đoạt của đương sự và yêu cầu bảo vệ trẻ em.

Đặt vấn đề

Trong thực tiễn giải quyết các vụ án ly hôn, không ít trường hợp vợ chồng có con chung là người chưa thành niên hoặc con đã thành niên, nhưng mất khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình, song, cả hai bên đều thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề liên quan đến con chung, như xác định người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc quyền, nghĩa vụ của cha mẹ sau khi ly hôn. Vấn đề đặt ra là, trong trường hợp này, Tòa án có bắt buộc phải giải quyết quan hệ về con chung, hay chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự theo nguyên tắc tự định đoạt được quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2022, 2023, 2024, 2025) - sau đây gọi tắt là BLTTDS năm 2015?

Đây là vấn đề còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tiễn xét xử. Có quan điểm cho rằng, trẻ em là chủ thể được pháp luật dành sự bảo vệ đặc biệt, nên dù các đương sự không yêu cầu, Tòa án vẫn phải xem xét, quyết định về việc giao con cho một bên trực tiếp nuôi, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ. Quan điểm khác lại cho rằng, quyền yêu cầu giải quyết về con chung thuộc quyền tự định đoạt của đương sự; do đó, nếu các bên không yêu cầu, thì Tòa án không có căn cứ để tự mình giải quyết, vì sẽ vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện. Sự thiếu thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật đối với vấn đề này dẫn đến thực tiễn xét xử không đồng nhất giữa các Tòa án, ảnh hưởng đến yêu cầu bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất.

1. Quy định của pháp luật

Điều 5 BLTTDS năm 2015 quy định: “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”. Quy định này cho thấy, nguyên tắc giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự không phải là nguyên tắc tuyệt đối. Trong một số trường hợp đặc biệt, nhằm bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể yếu thế, pháp luật có thể trao cho Tòa án quyền hoặc nghĩa vụ giải quyết vượt ra ngoài phạm vi yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, việc áp dụng ngoại lệ này phải được quy định rõ ràng trong văn bản quy phạm pháp luật, không thể được suy luận hoặc mở rộng bằng cách giải thích.

Quy định của Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2014 cho thấy, pháp luật chỉ quy định Tòa án quyết định người trực tiếp nuôi con khi cha mẹ không thỏa thuận được (Điều 81), nhưng không có quy định nào xác định việc giải quyết về con chung là nội dung bắt buộc trong mọi vụ án ly hôn, bất kể các bên có yêu cầu hay không.

Do đó, nếu Tòa án tự mình quyết định về người trực tiếp nuôi con, mặc dù các đương sự không có yêu cầu,thì có thể dẫn đến cách hiểu rằng, Tòa án đã mở rộng phạm vi xét xử vượt quá giới hạn mà pháp luật tố tụng dân sự cho phép.

Tương tự, điểm b khoản 4 Điều 397 BLTTDS năm 2015 về công nhận thuận tình ly hôn cũng ghi nhận điều kiện để Tòa án ra quyết định công nhận là hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản chung, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Điều này thể hiện ý chí của nhà làm luật trong việc tôn trọng quyền tự thỏa thuận của vợ chồng đối với việc nuôi con sau ly hôn.

Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể trường hợp các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung, thì Tòa án phải xử lý như thế nào. Khoảng trống này dẫn đến nhiều cách áp dụng khác nhau trong thực tiễn, với hệ quả là: có Tòa án yêu cầu nguyên đơn bổ sung yêu cầu về con chung mới thụ lý vụ án; có Tòa án vẫn thụ lý và ghi nhận trong bản án rằng, các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét; cũng có Tòa án chủ động quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi, mặc dù các bên không có yêu cầu.

Tại Câu hỏi số 16, trang 29 cuốn 100 câu hỏi về giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án do Chu Xuân Minh (chủ biên), Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản, tác giả cho rằng, việc giải quyết vấn đề nuôi con sau ly hôn phải được Tòa án xem xét, công nhận hoặc quyết định, kể cả trong trường hợp các đương sự có thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, qua nghiên cứu thực tiễn xét xử, tác giả nhận thấy vấn đề này được giải quyết chưa thực sự thống nhất. Cụ thể, trong một số quyết định công nhận thuận tình ly hôn, Tòa án ghi nhận việc các đương sự không yêu cầu giải quyết về con chung và không xem xét nội dung này[1]. Ngược lại, cũng có trường hợp Thẩm phán yêu cầu các đương sự bổ sung yêu cầu về con chung để Tòa án giải quyết với quan điểm đây là nội dung bắt buộc phải được xem xét trong vụ án ly hôn. Tuy nhiên, việc yêu cầu bổ sung này chủ yếu được thực hiện thông qua trao đổi trực tiếp với đương sự, không được thể hiện bằng văn bản tố tụng, do hiện nay chưa có quy định pháp luật hoặc hướng dẫn cụ thể làm căn cứ để buộc đương sự phải bổ sung yêu cầu.

Có thể thấy, sự khác biệt trong thực tiễn xét xử xuất phát từ việc chưa có sự thống nhất trong việc xác định mối quan hệ giữa nguyên tắc tự định đoạt của đương sự với trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em.

2. Những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng

Thứ nhất, pháp luật hiện hành chưa xác định rõ việc giải quyết quan hệ về con chung có phải là nội dung bắt buộc trong mọi vụ án ly hôn hay không. Mặc dù Điều 81 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định trường hợp cha mẹ không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định, nhưng lại không điều chỉnh trường hợp các bên thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thứ hai, việc Tòa án chủ động quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi trong khi các đương sự không có yêu cầu có thể làm phát sinh quan điểm cho rằng, Tòa án đã vượt quá phạm vi xét xử theo Điều 5 BLTTDS năm 2015. Điều này cũng đặt ra vấn đề về giới hạn quyền chủ động của Tòa án trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em.

Thứ ba, nếu Tòa án chỉ ghi nhận việc “không xem xét” mà không tiến hành xác minh điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con, thì có nguy cơ bỏ sót việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, nhất là trong trường hợp cha mẹ đều không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, hoặc tồn tại nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển của con.

Thứ tư, do chưa có văn bản hướng dẫn thống nhất, nên cùng một tình huống pháp lý, nhưng các Tòa án địa phương áp dụng khác nhau, thậm chí, giữa các Thẩm phán trong cùng một đơn vị cũng có quan điểm không thống nhất.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những phân tích nêu trên, tác giả cho rằng, cần có hướng dẫn thống nhất của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo các nội dung sau:

Một là, xác định rõ việc giải quyết về con chung không phải là nội dung bắt buộc trong mọi vụ án ly hôn, nếu các đương sự không yêu cầu và không phát sinh tranh chấp. Hướng dẫn này sẽ bảo đảm nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự và tránh việc Tòa án giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu.

Hai là, quy định trách nhiệm của Tòa án phải tiến hành xác minh sơ bộ về tình trạng chăm sóc, nuôi dưỡng con trước khi quyết định không xem xét yêu cầu về con chung. Chỉ trong trường hợp có căn cứ xác định quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em vẫn được bảo đảm, thì Tòa án mới không giải quyết nội dung này.

Ba là, hướng dẫn thống nhất cách thể hiện trong bản án đối với trường hợp các đương sự không yêu cầu giải quyết về con chung, nhằm bảo đảm sự thống nhất trong thực tiễn xét xử và tạo thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật.

Kết luận

Quyền tự định đoạt của đương sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự và cần được tôn trọng trong quá trình giải quyết các vụ án ly hôn. Tuy nhiên, việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em cũng là yêu cầu có tính bắt buộc, xuất phát từ chính sách bảo vệ trẻ em của Nhà nước. Do đó, việc giải quyết về con chung trong trường hợp các đương sự không có yêu cầu cần được tiếp cận theo hướng hài hòa giữa hai yêu cầu này. Theo tác giả, Tòa án không nên mặc nhiên coi việc giải quyết về con chung là nội dung bắt buộc trong mọi vụ án ly hôn. Tuy nhiên, trước khi quyết định không xem xét, Tòa án cần thực hiện việc xác minh cần thiết để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của con là người chưa thành niên, hoặc con đã thành niên, nhưng không có khả năng tự nuôi mình không bị ảnh hưởng.

Việc ban hành văn bản hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sẽ góp phần khắc phục khoảng trống pháp lý hiện nay, bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất, đồng thời, dung hòa giữa nguyên tắc tự định đoạt của đương sự và trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em trong các vụ án hôn nhân và gia đình.

 

ĐẶNG THỊ LÀI (Thẩm phán bậc 1, Tòa án nhân dân khu vực 10, tỉnh Lâm Đồng)

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sugn năm 2019, 2022, 2023, 2024, 2025.

2. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.

4. Chu Xuân Minh, 100 câu hỏi về giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án, Nxb. Tư pháp, 2018.

5. Quyết định số 119/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân khu vực 17 - Lâm Đồng).

6. Quyết định số 10/2026/QĐST-HNGĐ ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh Lâm Đồng.


[1] Quyết định số 119/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân khu vực 17 - Lâm Đồng); Quyết định số 10/2026/QĐST-HNGĐ ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Lâm Đồng; Quyết định số 165/2026/QĐST-HNGĐ ngày 17/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Lâm Đồng.

Một phiên tòa tại TAND Khu vực 2 - Lai Châu (Nguồn: Trang điện tử VKSND tỉnh Lai Châu).