Giải quyết xung đột pháp lý giữa tịch thu vật chứng hình sự và bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba ngay tình

Việc tịch thu các công cụ, phương tiện được sử dụng vào việc phạm tội không chỉ mang ý nghĩa trừng trị người phạm tội mà còn loại bỏ điều kiện vật chất phục vụ cho hành vi phạm tội trong tương lai. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử những năm gần đây đã đặt ra một vấn đề pháp lý rất đáng quan tâm: nhiều phương tiện phạm tội đồng thời là tài sản đang được thế chấp hợp pháp tại các tổ chức tín dụng; khi đó, việc áp dụng quy định tịch thu vật chứng không chỉ tác động đến người phạm tội mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba hoàn toàn không liên quan đến hành vi phạm tội.

1. Bản chất của xung đột pháp lý giữa tịch thu vật chứng hình sự và bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba ngay tình

“Vật chứng” là những vật, tiền có liên quan đến tội phạm trong vụ án hình sự đang được cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng1. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, sau khi vật chứng của vụ án được khai thác, sử dụng vào quá trình chứng minh, nó sẽ được xử lý theo những hình thức nhất định, trong đó có hình thức tịch thu sung quỹ Nhà nước2

Theo Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội thuộc trường hợp bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy. Quy định này được cụ thể hóa về phương diện tố tụng tại Điều 89 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, theo đó vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy. Đây là cơ chế xử lý vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, nhằm loại bỏ những công cụ, phương tiện có liên quan đến việc thực hiện tội phạm và bảo đảm hiệu quả của chính sách hình sự.

Tuy nhiên, trong quan hệ dân sự, một tài sản có thể đồng thời là đối tượng của biện pháp thế chấp và được sử dụng làm vật chứng trong vụ án hình sự. Đối với tổ chức tín dụng, việc nhận thế chấp tài sản được thực hiện trên cơ sở xác lập hợp đồng bảo đảm, kiểm tra tình trạng pháp lý của tài sản và đối với trường hợp pháp luật yêu cầu, đăng ký biện pháp bảo đảm để xác lập hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Theo pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, việc đăng ký là một trong những căn cứ làm phát sinh hiệu lực đối kháng của biện pháp bảo đảm đối với người thứ ba. Trong trường hợp tổ chức tín dụng đã thực hiện việc thẩm định, xác lập và đăng ký biện pháp bảo đảm theo đúng quy định pháp luật, đồng thời không biết và không có căn cứ để biết việc tài sản sau đó bị sử dụng vào việc phạm tội, thì có cơ sở để xem xét họ với tư cách là bên thứ ba ngay tình trong quan hệ pháp luật liên quan.

Xung đột pháp lý thực sự phát sinh khi một tài sản đồng thời mang hai tư cách pháp lý: vừa là vật chứng có liên quan trực tiếp đến tội phạm, vừa là tài sản bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Một mặt, pháp luật hình sự và tố tụng hình sự đặt ra yêu cầu xử lý vật chứng theo tính chất và mức độ liên quan của tài sản đối với hành vi phạm tội; mặt khác, pháp luật dân sự và pháp luật về giao dịch bảo đảm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm được xác lập trước và không có lỗi đối với việc tài sản bị sử dụng vào việc phạm tội.

Đặc biệt, khoản 9 Điều 21 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP định chi tiết việc thi hành Bộ luật Dân sự năm 2015 về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã quy định trường hợp tài sản bảo đảm bị tiêu hủy, bị tổn thất toàn bộ, bị phá dỡ hoặc bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được xác định là không còn tài sản bảo đảm, trừ các trường hợp luật định. Như vậy, khi tài sản thế chấp bị tịch thu, vấn đề pháp lý không đơn thuần là việc xử lý vật chứng mà còn là hệ quả đối với quyền bảo đảm của tổ chức tín dụng. Khi đối tượng bảo đảm không còn, bên nhận thế chấp có nguy cơ mất đi cơ sở vật chất để thực hiện quyền xử lý tài sản bảo đảm, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hồi khoản nợ được bảo đảm. Do đó, bản chất của xung đột không phải là sự đối lập tuyệt đối giữa quyền của Nhà nước trong việc tịch thu vật chứng và quyền sở hữu của bên thứ ba ngay tình, mà là sự xung đột giữa yêu cầu xử lý tài sản nhằm bảo đảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm với yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể dân sự không có lỗi trong việc tài sản bị sử dụng vào tội phạm. Vấn đề đặt ra là pháp luật cần xác định cơ chế cân bằng hợp lý giữa hai lợi ích này, đặc biệt trong trường hợp bên nhận bảo đảm đã xác lập quyền bảo đảm hợp pháp trước thời điểm tài sản bị sử dụng vào việc phạm tội và hoàn toàn không biết, không thể biết về hành vi phạm tội.

2. Một số bất cập trong thực tiễn xét xử

Thực tiễn xét xử cho thấy, xung đột giữa yêu cầu xử lý vật chứng theo pháp luật hình sự và việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên thứ ba ngay tình không chỉ tồn tại trên phương diện lý luận mà đã phát sinh trong những vụ án cụ thể. Đáng chú ý là trường hợp tài sản được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nhưng trước đó đã được chủ sở hữu dùng để thế chấp hợp pháp cho tổ chức tín dụng.

Điển hình là Bản án số 30/2019/HS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh H. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Hồng P sử dụng xe ô tô KIA SEDONA để vận chuyển hơn 19.000 bao thuốc lá nhập lậu. Tòa án cấp sơ thẩm xác định chiếc xe là phương tiện phạm tội và quyết định tịch thu sung công quỹ nhà nước. Tuy nhiên, chiếc xe trước đó đã được thế chấp tại ngân hàng để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ. Tình huống này đặt ra vấn đề về việc xử lý mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước đối với vật chứng là phương tiện phạm tội và quyền của ngân hàng với tư cách bên nhận thế chấp, trong trường hợp ngân hàng đã xác lập quyền bảo đảm hợp pháp và không biết việc tài sản được sử dụng vào việc phạm tội. Nếu tài sản bị tịch thu mà không có cơ chế xem xét thỏa đáng quyền của bên nhận bảo đảm ngay tình, quyền xử lý tài sản bảo đảm của ngân hàng có thể bị ảnh hưởng trực tiếp, mặc dù ngân hàng không có lỗi đối với việc tài sản được sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Vấn đề tương tự cũng được đặt ra trong Bản án số 04/2024/HS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh T, khi bị cáo sử dụng chiếc xe ô tô HYUNDAI KONA đang được thế chấp tại ngân hàng để thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Việc tài sản vừa mang tư cách là phương tiện phạm tội, vừa là tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ dân sự của chủ sở hữu cho thấy yêu cầu xử lý vật chứng theo pháp luật hình sự có thể tác động trực tiếp đến quyền tài sản của chủ thể không tham gia và không có lỗi trong hành vi phạm tội.

Các trường hợp trên cho thấy, việc xác định và xử lý vật chứng trong thực tiễn xét xử có thể phát sinh vấn đề phức tạp khi vật chứng đồng thời là đối tượng của một giao dịch bảo đảm được xác lập trước đó. Trong trường hợp này, nếu việc xử lý vật chứng chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội mà chưa xem xét đầy đủ tình trạng pháp lý của tài sản, quyền của bên nhận bảo đảm và mức độ ngay tình của chủ thể này, thì có thể dẫn đến sự dịch chuyển rủi ro từ người thực hiện hành vi phạm tội sang một chủ thể không có lỗi. Bất cập này có ý nghĩa đặc biệt trong trường hợp tài sản có giá trị lớn và thường được sử dụng trong các giao dịch bảo đảm, như phương tiện giao thông, máy móc, thiết bị hoặc các tài sản khác. Khi những tài sản này bị tịch thu, việc xử lý vật chứng không chỉ làm thay đổi tình trạng pháp lý của tài sản mà còn có thể ảnh hưởng đến khả năng thực hiện quyền bảo đảm và thu hồi nợ của bên nhận thế chấp. Do đó, thực tiễn xét xử đặt ra yêu cầu cần có cơ chế pháp lý rõ ràng để vừa bảo đảm xử lý nghiêm công cụ, phương tiện phạm tội, vừa bảo vệ hợp lý quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba ngay tình, đặc biệt là bên nhận bảo đảm đã xác lập quyền trước khi tài sản được sử dụng vào việc phạm tội.

3. Bảo vệ bên thứ ba ngay tình phải dựa trên những điều kiện chặt chẽ

Việc bảo vệ bên thứ ba ngay tình trong trường hợp tài sản bảo đảm đồng thời là công cụ, phương tiện phạm tội không thể được đặt ra một cách tuyệt đối. Việc bảo vệ phải dựa trên những tiêu chí nhất định nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu xử lý tài sản liên quan đến tội phạm và quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể không có lỗi. Theo đó, cần phân biệt rõ trường hợp bên nhận bảo đảm thực sự ngay tình với trường hợp chủ thể này biết, phải biết hoặc có lỗi trong việc để tài sản được sử dụng vào việc phạm tội.

Thứ nhất, giao dịch bảo đảm phải được xác lập hợp pháp và có hiệu lực theo quy định của pháp luật. Đây là cơ sở quan trọng để xác định quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản. Trong trường hợp giao dịch bảo đảm được xác lập trước khi tài sản được sử dụng vào việc phạm tội và đáp ứng các điều kiện về hiệu lực, đăng ký hoặc hiệu lực đối kháng với người thứ ba theo quy định của pháp luật, quyền của bên nhận bảo đảm có cơ sở để được xem xét, bảo vệ khi cơ quan tiến hành tố tụng xử lý vật chứng.

Thứ hai, bên nhận bảo đảm phải thực sự ngay tình và không có lỗi liên quan đến việc tài sản được sử dụng vào việc phạm tội. Đây là tiêu chí có ý nghĩa quyết định trong việc xác định phạm vi bảo vệ. Không thể bảo vệ bên nhận bảo đảm nếu chủ thể này biết hoặc có căn cứ rõ ràng để biết tài sản được sử dụng vào hoạt động phạm tội mà vẫn xác lập hoặc duy trì giao dịch bảo đảm. Ngược lại, trường hợp bên nhận bảo đảm đã xác lập quyền hợp pháp và không biết, không thể biết việc tài sản sau đó được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì cần có cơ chế xem xét, bảo vệ quyền lợi của họ.

Thứ ba, cần xem xét hành vi và mức độ lỗi của bên nhận bảo đảm trong quá trình xác lập và thực hiện giao dịch. Đối với tổ chức tín dụng, việc thực hiện các hoạt động thẩm định khách hàng, kiểm tra tình trạng pháp lý của tài sản, xác định quyền của bên thế chấp và đăng ký biện pháp bảo đảm là những yếu tố có ý nghĩa trong việc đánh giá tính ngay tình. Tuy nhiên, các yêu cầu về thẩm định, định giá hoặc quy trình nghiệp vụ của tổ chức tín dụng nên được xem là căn cứ để đánh giá việc có lỗi hay không, chứ không nên mặc nhiên coi đây là những điều kiện độc lập mà pháp luật đặt ra để bên nhận bảo đảm được bảo vệ.

Thứ tư, quyền của bên nhận bảo đảm phải được xác lập trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền phát hiện hoặc xử lý hành vi phạm tội và không phải là kết quả của hành vi nhằm che giấu, tẩu tán hoặc hợp thức hóa tài sản liên quan đến tội phạm. Tiêu chí này có ý nghĩa ngăn ngừa trường hợp các chủ thể cố ý thiết lập giao dịch bảo đảm giả tạo hoặc giao dịch được xác lập nhằm làm cản trở việc xử lý tài sản theo pháp luật hình sự.

Việc đặt ra các tiêu chí trên không nhằm làm suy giảm hiệu lực của chế định tịch thu vật chứng mà nhằm xác định ranh giới giữa tài sản thực sự thuộc phạm vi cần tịch thu và quyền tài sản hợp pháp của chủ thể thứ ba không có lỗi. Cách tiếp cận này cũng phù hợp với hướng phát triển của thực tiễn xét xử. Đáng chú ý, Tòa án nhân dân tối cao từng xây dựng Dự thảo Án lệ số 033 về xử lý phương tiện phạm tội là tài sản bảo đảm trong hợp đồng thế chấp hợp pháp. Dự thảo xác định tình huống khi bị cáo sử dụng tài sản đã thế chấp hợp pháp làm phương tiện phạm tội nhưng bên nhận thế chấp không có lỗi trong việc để tài sản được sử dụng vào việc phạm tội, đồng thời đề xuất giải pháp xử lý bán đấu giá tài sản để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm.

4. Xu hướng chuyển từ “tịch thu hiện vật sang xử lý theo giá trị” bước tiến của tư duy pháp lý

Một hướng tiếp cận đáng chú ý trong thực tiễn xét xử là không tuyệt đối hóa việc tịch thu hiện vật trong trường hợp tài sản vừa là phương tiện phạm tội vừa là tài sản bảo đảm hợp pháp của bên thứ ba ngay tình. Thay vào đó, có thể xem xét cơ chế xử lý tài sản theo giá trị, qua đó bảo đảm đồng thời yêu cầu xử lý tài sản liên quan đến tội phạm và quyền, lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm. Điển hình là Bản án số 30/2019/HS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh H. Trong vụ án này, chiếc xe ô tô KIA SEDONA được bị cáo sử dụng làm phương tiện vận chuyển thuốc lá nhập lậu. Mặc dù Tòa án xác định đây là phương tiện phạm tội, nhưng chiếc xe đã được thế chấp hợp pháp tại ngân hàng và hợp đồng thế chấp đã được đăng ký. Tòa án đồng thời xác định ngân hàng không biết việc bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội. Trên cơ sở đó, Tòa án phúc thẩm không duy trì việc tịch thu trực tiếp chiếc xe như bản án sơ thẩm mà quyết định giao cơ quan thi hành án phối hợp với ngân hàng xử lý bán đấu giá tài sản để ngân hàng thu hồi khoản nợ; phần giá trị còn lại, nếu có, được tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Cách giải quyết này có ý nghĩa ở chỗ đối tượng cuối cùng bị tịch thu được chuyển từ chính hiện vật sang phần giá trị còn lại của tài sản sau khi thực hiện quyền bảo đảm hợp pháp. Như vậy, việc xử lý không phủ nhận hoàn toàn tính chất là phương tiện phạm tội của tài sản, nhưng đồng thời cũng không làm mất toàn bộ quyền lợi của bên nhận bảo đảm ngay tình.

Thứ nhất, cách tiếp cận này vẫn bảo đảm mục tiêu của pháp luật hình sự. Nhà nước vẫn có thể thu hồi phần giá trị thuộc về người phạm tội sau khi thực hiện nghĩa vụ bảo đảm hợp pháp, qua đó bảo đảm tài sản có liên quan đến hành vi phạm tội không được sử dụng để mang lại lợi ích bất hợp pháp cho người phạm tội.

Thứ hai, quyền và lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm được bảo vệ trong phạm vi tương ứng với quyền bảo đảm đã được xác lập hợp pháp. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với tổ chức tín dụng, bởi nếu tài sản bị tịch thu hoàn toàn mà không xem xét quyền bảo đảm của ngân hàng, rủi ro từ hành vi phạm tội của người thế chấp có thể được chuyển sang một chủ thể không có lỗi.

Thứ ba, cơ chế xử lý theo giá trị có thể hạn chế sự xung đột giữa mục tiêu của pháp luật hình sự và yêu cầu bảo đảm an toàn của các giao dịch dân sự, tín dụng. Trong Dự thảo Án lệ số 03 và tổ chức lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học đối với dự thảo án lệ về xử lý phương tiện phạm tội là tài sản bảo đảm trong hợp đồng thế chấp hợp pháp vấn đề này cũng được đặt ra. Điều đó cho thấy, vấn đề này đã được nhận diện ở cấp độ xây dựng và phát triển pháp luật, chứ không chỉ là vấn đề phát sinh trong một vụ án đơn lẻ.

Tuy nhiên, cần thận trọng khi coi đây là một “xu hướng pháp lý” đã được xác lập ổn định. Thực tiễn xét xử vẫn cho thấy, cách giải quyết chưa hoàn toàn thống nhất. Chẳng hạn, Quyết định giám đốc thẩm số 80/2024/HS-GĐT ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố H không phải là trường hợp áp dụng cơ chế bán đấu giá tài sản thế chấp để ưu tiên thanh toán cho ngân hàng như trường hợp nêu trên. Quyết định này liên quan đến việc xử lý một xe ô tô tải được sử dụng trong hành vi buôn lậu và Hội đồng Giám đốc thẩm đã hủy phần bản án phúc thẩm về xử lý vật chứng để xét xử phúc thẩm lại.

5. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Để giải quyết hài hòa xung đột giữa yêu cầu xử lý vật chứng theo pháp luật hình sự và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên thứ ba ngay tình, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng vừa bảo đảm hiệu quả xử lý tài sản liên quan đến tội phạm, vừa tránh chuyển rủi ro từ người phạm tội sang chủ thể không có lỗi, cụ thể:

Thứ nhất, bổ sung cơ chế xử lý đối với tài sản vừa là công cụ, phương tiện phạm tội vừa là tài sản bảo đảm hợp pháp của bên thứ ba ngay tình.

Pháp luật hình sự và tố tụng hình sự cần bổ sung quy định để phân biệt trường hợp tài sản là công cụ, phương tiện phạm tội nhưng thuộc quyền của người phạm tội với trường hợp tài sản đã được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp pháp đối với bên thứ ba trước khi tài sản được sử dụng vào việc phạm tội. Theo đó, đối với trường hợp bên nhận bảo đảm đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được xác định là bên thứ ba ngay tình, việc tịch thu không nhất thiết phải được thực hiện trực tiếp đối với hiện vật. Cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng cơ chế xử lý tài sản theo giá trị, chẳng hạn bán tài sản theo trình tự pháp luật quy định, thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm trong phạm vi quyền hợp pháp của bên nhận bảo đảm và tịch thu phần giá trị còn lại thuộc về người phạm tội. Cách tiếp cận này không làm mất đi mục tiêu của chế định tịch thu mà chỉ thay đổi phương thức thực hiện trong trường hợp đặc biệt, qua đó bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật hình sự với pháp luật dân sự và pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Thứ hai, quy định rõ điều kiện đối với tài sản được áp dụng cơ chế bảo vệ quyền của bên thứ ba ngay tình.

Cơ chế bảo vệ không nên được áp dụng đối với mọi tài sản đang là đối tượng của giao dịch bảo đảm mà cần giới hạn đối với tài sản đáp ứng đồng thời những điều kiện nhất định. Một là, tài sản phải thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của bên thế chấp tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm và có đủ điều kiện để trở thành đối tượng của biện pháp bảo đảm theo quy định pháp luật. Hai là, giao dịch bảo đảm phải được xác lập hợp pháp, có hiệu lực và trong trường hợp pháp luật yêu cầu đăng ký thì phải được đăng ký theo đúng quy định. Thời điểm xác lập quyền bảo đảm cần được xác định rõ để bảo đảm giao dịch không được tạo lập nhằm mục đích cản trở việc xử lý tài sản liên quan đến tội phạm. Ba là, tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm, tài sản không thuộc trường hợp đang bị kê biên, bị cấm giao dịch hoặc đang là đối tượng của tranh chấp mà bên nhận bảo đảm biết hoặc phải biết theo quy định pháp luật. Bốn là, tài sản phải là đối tượng có thể xử lý được về mặt vật chất hoặc kinh tế. Đối với những vật chứng bắt buộc phải tiêu hủy do tính chất nguy hiểm, bất hợp pháp hoặc không thể lưu thông trên thị trường thì không thể áp dụng cơ chế bán hoặc xử lý theo giá trị như đối với tài sản thông thường.

Thứ ba, xây dựng cơ chế xử lý đối với bên thứ ba không ngay tình hoặc có lỗi.

Cơ chế bảo vệ bên thứ ba ngay tình chỉ có ý nghĩa khi đồng thời xác định rõ giới hạn của sự bảo vệ. Trường hợp bên nhận bảo đảm biết hoặc có căn cứ rõ ràng để biết tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội, đang được sử dụng vào việc phạm tội hoặc giao dịch bảo đảm được xác lập nhằm che giấu, tẩu tán tài sản phạm tội thì không nên được hưởng cơ chế bảo vệ dành cho bên thứ ba ngay tình. Đối với trường hợp cố ý lợi dụng giao dịch bảo đảm để che giấu hoặc tẩu tán tài sản liên quan đến tội phạm, cần áp dụng các hậu quả pháp lý tương ứng, bao gồm việc không công nhận hoặc không bảo vệ quyền bảo đảm được xác lập trái pháp luật; xử lý giao dịch theo quy định của pháp luật dân sự và tùy thuộc tính chất, mức độ hành vi, xem xét trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật. Cách tiếp cận này bảo đảm nguyên tắc pháp luật chỉ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể thực sự ngay tình và tuân thủ pháp luật, chứ không tạo ra “lá chắn pháp lý” cho các giao dịch được thiết lập nhằm hợp thức hóa hoặc che giấu tài sản phạm tội.

Thứ tư, xây dựng cơ chế bảo đảm quyền lợi của bên nhận bảo đảm trong trường hợp tài sản không thể xử lý theo giá trị.

Đối với những vật chứng bắt buộc phải tiêu hủy hoặc không thể bán, chuyển nhượng, xử lý vì lý do pháp luật hoặc tính chất của tài sản, cần có cơ chế riêng để hạn chế thiệt hại cho bên nhận bảo đảm ngay tình. Có thể nghiên cứu cơ chế cho phép bên nhận bảo đảm thực hiện quyền yêu cầu thanh toán đối với các tài sản hợp pháp khác của bên có nghĩa vụ trong phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm, hoặc áp dụng cơ chế hoàn trả, bồi hoàn giá trị phù hợp với từng trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cơ chế này cần được thiết kế thận trọng, bởi việc chuyển từ tài sản bảo đảm ban đầu sang tài sản khác để bảo đảm nghĩa vụ không thể được thực hiện một cách tự động nếu không có căn cứ pháp lý rõ ràng. Vì vậy, pháp luật cần xác định cụ thể căn cứ, trình tự, chủ thể có trách nhiệm và phạm vi giá trị được bảo đảm nhằm tránh phát sinh tranh chấp mới.

Thứ năm, thống nhất hướng dẫn áp dụng pháp luật về xử lý vật chứng là tài sản bảo đảm.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần nghiên cứu ban hành nghị quyết hoặc phát triển án lệ để hướng dẫn thống nhất việc xử lý tài sản vừa là công cụ, phương tiện phạm tội vừa là tài sản bảo đảm của bên thứ ba. Nội dung hướng dẫn cần tập trung vào các vấn đề: xác định tình trạng pháp lý của tài sản; xác định hiệu lực của giao dịch bảo đảm; tiêu chí xác định bên thứ ba ngay tình; phương thức xử lý tài sản; thứ tự thanh toán giữa nghĩa vụ được bảo đảm và khoản giá trị bị tịch thu; cũng như cách thức xử lý trong trường hợp tài sản không thể bán hoặc tiêu hủy.

 

TRẦN VĂN PHƯƠNG (Phó Chánh án TAND tỉnh Quảng Trị)

Tài liệu tham khảo

1. Nghị định số 21/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Bộ luật Dân sự năm 2015 về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

2. Lương Khải Ân (2022), Hoàn trả tài sản bảo đảm là vật chứng trong các vụ án hình sự cho các tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 01, tr.72.

3. Nguyễn Minh Hải (2014), Xử lý vật chứng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.19.

4. Quốc Hội, Bộ luật Hình sự năm 2015.

5. Quốc Hội, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.


1 Lương Khải Ân (2022), Hoàn trả tài sản bảo đảm là vật chứng trong các vụ án hình sự cho các tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 01, tr.72.

2 Nguyễn Minh Hải (2014), Xử lý vật chứng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.19.

3 Trang tin điện tử về án lệ TANDTC, Dự thảo án lệ số 03/2025, https://anle.toaan.gov.vn/webcenter/portal/anle/chitietanleduthao?dDocName=TAND367967, truy cập ngày 02/8/2026.

TAND khu vực 5 - Quảng Ninh xét xử vụ án hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - Nguồn: Báo BVPL.