Điều kiện không truy cứu, loại trừ, tạm hoãn, miễn trách nhiệm hình sự theo Nghị quyết 37/2026/QH16 của Quốc hội
(TCTA) - Nghị quyết số 37/2026/QH16 thiết lập cơ chế đặc thù trong xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Điểm nổi bật của Nghị quyết là phân hóa rõ các trường hợp không truy cứu trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự; qua đó vừa bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật, vừa khuyến khích, bảo vệ người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Ngày 24/8/2026, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 37/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026 và được thực hiện trong thời hạn ba năm. Với 3 chương, 13 điều, Nghị quyết không chỉ đưa ra những căn cứ đặc thù trong xử lý trách nhiệm hình sự mà còn quy định cơ chế xử lý tố tụng, thi hành án hình sự và trách nhiệm kỷ luật đối với người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức.
Xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng
Nghị quyết số 37/2026/QH16 điều chỉnh các hành vi vi phạm pháp luật về hình sự và xử lý kỷ luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhưng vì lợi ích chung.
Tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết là việc áp dụng chính sách khoan hồng không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý hoặc hợp pháp hóa hành vi vi phạm. Việc xử lý phải tuân thủ Hiến pháp, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đúng người, đúng vi phạm; đồng thời thể hiện tính nhân văn, khoan hồng của Đảng và Nhà nước, khuyến khích, bảo vệ người năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.
Khi xem xét từng trường hợp, cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá khách quan, toàn diện vai trò, động cơ, mục đích của người vi phạm; bối cảnh lịch sử cụ thể; hậu quả thiệt hại; kết quả khắc phục hậu quả và hiệu quả về chính trị, kinh tế - xã hội. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm tránh áp dụng cơ học, chỉ căn cứ vào hậu quả vật chất mà không xem xét đầy đủ động cơ, hoàn cảnh và giá trị thực tế do hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh hoặc đổi mới sáng tạo mang lại.
Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh việc phân định trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hành chính, dân sự; trách nhiệm của pháp nhân với trách nhiệm của cá nhân. Hành vi tham nhũng phải bị xử lý nghiêm; đối với hành vi vi phạm nhưng vì lợi ích chung, không tham nhũng và đã chủ động khắc phục hậu quả thì được xem xét khoan hồng, giảm nhẹ. Các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính được ưu tiên áp dụng; xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng. Đồng thời, việc xử lý trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phải được tách bạch với giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khắc phục hậu quả đối với dự án, công trình. Quy định này góp phần hạn chế tình trạng một vụ việc bị xử lý hình sự dẫn đến đình trệ toàn bộ dự án, gây lãng phí nguồn lực và làm phát sinh thêm thiệt hại.
Điều kiện không truy cứu trách nhiệm hình sự
Điều 5 Nghị quyết số 37/2026/QH16 quy định cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ năm điều kiện.
Thứ nhất, người có hành vi vi phạm không tham nhũng. “Không tham nhũng” không chỉ được xác định trên cơ sở nhận định chủ quan mà phải được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền kết luận bằng văn bản rằng người đó không thực hiện hành vi tham nhũng theo Luật Phòng, chống tham nhũng và không phạm các tội về tham nhũng quy định trong Bộ luật Hình sự.
Thứ hai, hành vi được thực hiện vì lợi ích chung, tức là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, ngành, lĩnh vực hoặc địa phương; nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; không vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và không có động cơ vụ lợi.
Thứ ba, hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh hoặc ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước.
Thứ tư, không có khiếu nại, tố cáo; nếu có thì phải được giải quyết dứt điểm theo quy định. Nghị quyết xác định việc giải quyết dứt điểm phải được thể hiện bằng thông báo chấm dứt thụ lý, giải quyết hoặc văn bản giải quyết đã có hiệu lực thuộc lĩnh vực tư pháp.
Thứ năm, hành vi không gây thất thoát, lãng phí tài sản; nếu có gây thất thoát, lãng phí thì phải khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại.
Cần lưu ý, đây là các điều kiện mang tính tích lũy, nghĩa là phải đáp ứng đầy đủ, không thể chỉ căn cứ vào việc người vi phạm “không vụ lợi” hoặc dự án mang lại hiệu quả để mặc nhiên không truy cứu trách nhiệm hình sự. Đặc biệt, hiệu quả kinh tế - xã hội phải là hiệu quả thực tế, được cơ quan có thẩm quyền đánh giá và chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá.
Loại trừ trách nhiệm hình sự đối với rủi ro trong đổi mới sáng tạo
Điều 6 Nghị quyết quy định hai nhóm trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gây thiệt hại trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Nhóm thứ nhất là người gây thiệt hại do gặp rủi ro mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy định và áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng ngừa. Trường hợp này, thiệt hại được nhìn nhận là hệ quả của rủi ro khách quan gắn với hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng công nghệ, không phải kết quả của sự cẩu thả, tùy tiện hoặc cố ý vi phạm.
Nhóm thứ hai là người thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, gây thiệt hại trong lĩnh vực chưa có pháp luật điều chỉnh hoặc pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc loại trừ trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra khi hành động xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, có cách làm đột phá nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, nút thắt; đồng thời đáp ứng đủ ba điều kiện: không tham nhũng; vì lợi ích chung; hoạt động đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh hoặc thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Về bản chất pháp lý, loại trừ trách nhiệm hình sự khác với miễn trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp loại trừ, người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự vì hành vi gây thiệt hại được đặt trong hoàn cảnh rủi ro được pháp luật chấp nhận hoặc hoàn cảnh đặc thù cần được bảo vệ. Do đó, khi có đủ căn cứ tại Điều 6, Cơ quan điều tra có thể quyết định không khởi tố vụ án; nếu vụ án đã được khởi tố thì cơ quan tiến hành tố tụng đình chỉ theo giai đoạn tương ứng.
Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả
Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự được áp dụng khi có đủ ba điều kiện: hành vi được thực hiện vì lợi ích chung; có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng không tham nhũng; hoạt động đang được thực hiện, chưa hoàn thành và chưa khắc phục được hậu quả do nguyên nhân khách quan nhưng vẫn có điều kiện, khả năng và phương án khả thi để khắc phục, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Tổ chức, cá nhân có liên quan phải có cam kết khắc phục hậu quả.
Đây không phải là trường hợp chấm dứt trách nhiệm hình sự mà là cơ chế tạm dừng có điều kiện, nhằm tạo cơ hội hoàn thành dự án và khắc phục hậu quả. Tùy từng giai đoạn tố tụng, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm, tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án hoặc hoãn phiên tòa. Thời hạn tạm đình chỉ tối đa là hai năm kể từ ngày ban hành quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong thời gian này, cơ quan tiến hành tố tụng phải phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện cam kết.
Hết thời hạn, nếu toàn bộ hậu quả thiệt hại đã được khắc phục thì vụ việc có thể được giải quyết theo hướng không khởi tố hoặc đình chỉ. Nếu không khắc phục được toàn bộ, thủ tục tố tụng tiếp tục được thực hiện; tỷ lệ khắc phục và hiệu quả kinh tế - xã hội được xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trường hợp không thực hiện đúng cam kết mà không có lý do chính đáng, quyết định tạm đình chỉ có thể bị hủy bỏ để tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự.
Miễn trách nhiệm hình sự phải gắn với từng giai đoạn tố tụng
Điều 8 quy định trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố hoặc xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng quyết định miễn trách nhiệm hình sự đối với trường hợp đáp ứng các điều kiện tại Điều 5.
Như vậy, Điều 5 xác lập căn cứ nội dung để không truy cứu trách nhiệm hình sự, còn Điều 8 xác định cơ chế áp dụng căn cứ đó khi vụ việc đã được đưa vào quá trình tố tụng. Ở giai đoạn giải quyết nguồn tin, nếu có đủ căn cứ theo Điều 5 hoặc Điều 6, Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án. Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo.
Do đó, không nên đồng nhất “không truy cứu trách nhiệm hình sự” với “miễn trách nhiệm hình sự”. Không truy cứu trách nhiệm hình sự là chính sách xử lý về mặt nội dung khi người vi phạm đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định; còn miễn trách nhiệm hình sự là quyết định pháp lý cụ thể của cơ quan, người có thẩm quyền trong quá trình tố tụng.
Chính sách đối với trường hợp đã có bản án
Điều 10 Nghị quyết số 37/2026/QH16 quy định cơ chế đặc thù về hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; miễn, giảm hình phạt tù và xóa án tích đối với người đã có bản án. Theo đó, trường hợp đã có bản án nhưng chưa có quyết định thi hành án và có đủ căn cứ tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 7 thì Tòa án quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù trong thời hạn tối đa hai năm. Nếu người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù thì Tòa án có thể quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù với thời hạn tương ứng để tạo điều kiện khắc phục hậu quả thiệt hại. Hết thời hạn này, nếu toàn bộ hậu quả đã được khắc phục, Tòa án quyết định miễn chấp hành hình phạt hoặc miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp không khắc phục hoặc chỉ khắc phục được một phần thì tiếp tục thi hành án, đồng thời tỷ lệ khắc phục được xem xét làm căn cứ giảm mức hình phạt hoặc giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt. Đáng chú ý, người đáp ứng điều kiện không truy cứu hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự theo Điều 5, Điều 6 mà đang chấp hành án, chưa chấp hành án hoặc đang được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án thì được miễn chấp hành hình phạt tương ứng. Người đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích, nếu đáp ứng các điều kiện này, được miễn thời gian thử thách và đương nhiên được xóa án tích. Quy định thể hiện chính sách khoan hồng có điều kiện, lấy kết quả khắc phục hậu quả làm căn cứ quan trọng, nhưng không làm thay đổi hoặc xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người thuộc lực lượng vũ trang, nếu đáp ứng điều kiện tại Điều 5 hoặc Điều 6 thì được xem xét miễn kỷ luật; nếu thuộc Điều 7 thì có thể được xem xét chưa xử lý kỷ luật trong thời hạn tối đa hai năm.
Bảo đảm áp dụng chặt chẽ, không để bị lợi dụng
Nghị quyết số 37/2026/QH16 tạo lập cơ chế pháp lý có ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nhất là trong những lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro và thường xuyên xuất hiện yêu cầu mới mà pháp luật chưa kịp điều chỉnh. Tuy nhiên, cơ chế đặc thù này chỉ được áp dụng trên cơ sở hồ sơ, tài liệu và kết luận của cơ quan có thẩm quyền; không dựa đơn thuần vào lời khai hoặc cam kết của người vi phạm. Việc xác định “không tham nhũng”, “vì lợi ích chung”, hiệu quả kinh tế - xã hội, nguyên nhân khách quan và khả năng khắc phục hậu quả phải được chứng minh, đánh giá cụ thể.
Nghị quyết không được sử dụng để xem xét lại bản án hình sự, quyết định xử lý kỷ luật đã có hiệu lực pháp luật, trừ việc xem xét các chính sách về thi hành hình phạt, xóa án tích hoặc kỷ luật mà Nghị quyết quy định. Riêng vi phạm trong lĩnh vực kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân có liên quan đến đất đai được xử lý theo Nghị quyết số 29/2026/QH16.
Có thể khẳng định, giá trị cốt lõi của Nghị quyết số 37/2026/QH16 nằm ở việc phân định rạch ròi giữa tham nhũng, vụ lợi với sai sót, rủi ro phát sinh trong quá trình đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung. Đây vừa là cơ sở bảo đảm xử lý đúng người, đúng hành vi, vừa góp phần khắc phục tâm lý sợ sai, né tránh trách nhiệm; đồng thời giữ vững yêu cầu phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật.
Nhà Quốc hội - ảnh: KHẢI HOÀN/TCTA.
Bài liên quan
-
Thanh Xuan Valley: Khi hạ tầng chiến lược mở rộng giá trị cho miền xanh nguyên bản
-
Quy định mới về từ chức, thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý
-
Khánh Hòa hoàn thiện cơ sở pháp lý để triển khai chính sách miễn phí sách giáo khoa cho học sinh
-
Yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam được thực hiện như thế nào?
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Bộ Tư pháp xác thực Văn bản hợp nhất quy định về đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực tư pháp
-
Nghiên cứu quy tắc tố tụng cho Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế của Singapore, của Dubai và gợi mở cho Tòa án Việt Nam
-
Điều kiện không truy cứu, loại trừ, tạm hoãn, miễn trách nhiệm hình sự theo Nghị quyết 37/2026/QH16 của Quốc hội
-
Ánh sao độc lập và hành trình kiến tạo Việt Nam hùng cường
-
Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm
Bình luận