Yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam được thực hiện như thế nào?
Ngày 29 tháng 06 năm 2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao liên tịch ban hành Thông tư liên tịch số 12/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP-BNG quy định chi tiết một số điều của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự và việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự (sau đây gọi chung là Thông tư liên tịch số 12/2026).
Thông tư liên tịch này gồm 03 chương, 14 Điều và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Thông tư liên tịch này ra đời thay thế cho Thông tư liên tịch số 02/2013/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BNG ngày 16 tháng 8 năm 2013 giữa Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự (Thông tư liên tịch số 02/2013).
Thông tư liên tịch này quy định chi tiết Điều 14, khoản 3 Điều 18, Điều 25, Điều 26, khoản 1 Điều 31, Điều 33, Điều 37 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15 và việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự.
So với Thông tư liên tịch số 02/2013 thì Thông tư liên tịch này có nhiều nội dung mới được sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm nâng cao hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội phạm có yếu tố nước ngoài. Các nội dung được ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng hơn, trong đó có quy định về Yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trước đây, Thông tư liên tịch số 02/2013 không có điều luật độc lập quy định về yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự, nội dung này nằm rải rác trong một số điều luật và tại phụ lục mẫu văn bản. Tuy nhiên, đến Thông tư liên tịch số 12/2026, nội dung này được ghi nhận tại Điều 8 với những quy định rất cụ thể như sau:
Về hồ sơ, khoản 1 Điều 8 Thông tư liên tịch số 12/2026 quy định:
Cơ quan lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự lập hồ sơ yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam mà người đó đã trốn ra nước ngoài nhưng không dẫn độ được, hồ sơ gồm:
- Công văn đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển hồ sơ cho nước ngoài kèm bảng thống kê tài liệu, vật chứng trong hồ sơ;
- Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự được lập theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định biểu mẫu văn bản nghiệp vụ thực hiện trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự. Trường hợp phía nước ngoài đề nghị lập văn bản yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự theo mẫu do phía nước ngoài ban hành thì lập văn bản theo mẫu đó;
- Tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người phạm tội;
- Tài liệu thể hiện người phạm tội đang có mặt tại nước được yêu cầu hoặc tài liệu thể hiện quốc tịch của người phạm tội trong trường hợp đề nghị nước người phạm tội mang quốc tịch truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Tài liệu thể hiện việc không dẫn độ được người phạm tội về Việt Nam để truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Các tài liệu, vật chứng có liên quan.
Việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng để yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện như sau:
- Cơ quan lập yêu cầu chuyển giao trực tiếp hồ sơ, vật chứng đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định chuyển hồ sơ qua kênh ngoại giao thì sau khi nhận hồ sơ, vật chứng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển giao trực tiếp cho Bộ Ngoại giao;
- Việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và nước ngoài hoặc giữa Bộ Ngoại giao và nước ngoài có thể thực hiện trực tiếp hoặc qua đường bưu điện;
- Trường hợp chuyển giao trực tiếp hồ sơ, vật chứng, việc chuyển giao phải được lập thành biên bản, thể hiện đầy đủ các tài liệu có trong hồ sơ, danh mục và tình trạng vật chứng được chuyển giao, có chữ ký của bên giao và bên nhận. Trường hợp chuyển giao qua đường bưu điện, cơ quan thực hiện việc chuyển giao phải niêm phong hồ sơ, vật chứng trước khi gửi và lưu biên nhận của bưu điện.
Việc tiếp nhận, bảo quản vật chứng giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam được thực hiện như sau:
- Trường hợp vật chứng kèm theo hồ sơ thì khi chuyển giao hồ sơ, cơ quan lập yêu cầu có trách nhiệm phải chuyển giao cả vật chứng kèm theo. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm bảo quản vật chứng kèm theo trong thời gian quản lý hồ sơ;
- Trường hợp vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng thì cơ quan lập yêu cầu phải chụp ảnh hoặc ghi hình kèm theo mô tả vật chứng để đưa vào hồ sơ và thông báo bằng văn bản cho cơ quan bảo quản vật chứng biết. Cơ quan đang bảo quản vật chứng có trách nhiệm tiếp tục bảo quản vật chứng cho đến khi có lệnh xuất kho vật chứng của cơ quan có thẩm quyền hoặc khi có quyết định xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Việc giao nhận, bảo quản vật chứng giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước ngoài được thực hiện như sau:
- Nếu vật chứng cần chuyển giao cho nước ngoài kèm theo hồ sơ thì khi chuyển giao hồ sơ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Bộ Ngoại giao chuyển giao cả vật chứng đó cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài;
- Nếu vật chứng cần chuyển giao được bảo quản tại kho vật chứng thì xử lý như sau:
Chậm nhất là 05 ngày làm việc trước ngày chuyển giao cho nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo bằng văn bản cho cơ quan lập yêu cầu biết về thời gian, địa điểm chuyển giao. Cơ quan lập yêu cầu có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan bảo quản vật chứng thực hiện việc xuất và vận chuyển vật chứng theo đúng thời gian, địa điểm nêu trong thông báo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trường hợp Bộ Ngoại giao thực hiện việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng thì Bộ Ngoại giao phải thống nhất về việc chuyển giao với nước ngoài trong thời hạn chậm nhất là 07 ngày trước ngày thực hiện chuyển giao. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi thống nhất về việc chuyển giao với nước ngoài, Bộ Ngoại giao thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao biết và phối hợp thực hiện việc chuyển giao.
Khi chuyển giao vật chứng cho nước ngoài có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan lập yêu cầu và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Đối với trường hợp vụ án có đồng phạm đang bị điều tra, truy tố hoặc xét xử tại Việt Nam, khoản 5 Điều 8 Thông tư liên tịch số 12/2026 quy định cần căn cứ vào việc quyết định yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, cơ quan lập yêu cầu tách hoặc trích lập riêng hồ sơ vụ án đối với người đó trước khi lập hồ sơ gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Khoản 6 Điều 8 Thông tư này cũng quy định các trường hợp không dẫn độ được theo quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự gồm:
- Người bị yêu cầu dẫn độ thuộc trường hợp từ chối dẫn độ theo quy định của điều ước quốc tế về dẫn độ giữa Việt Nam và nước ngoài đang có hiệu lực;
- Người bị yêu cầu dẫn độ thuộc trường hợp từ chối dẫn độ theo quy định của pháp luật nước ngoài;
- Nước ngoài có văn bản từ chối dẫn độ;
- Các trường hợp không thể dẫn độ được vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Bàn về việc kiểm soát thiết bị điện tử tại phiên tòa - Một số giải pháp nhằm áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn
-
Bàn về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật
-
Cầu truyền hình "Đi tìm đồng đội - Sao sáng dẫn đường": Tôn vinh, tri ân sự hy sinh cao cả của các Anh hùng liệt sĩ
-
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có vô hiệu không?
-
“Sao sáng dẫn đường” hành trình tri ân kết nối quá khứ với tương lai
Bình luận