HOÀN THIỆN BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Improving the Criminal Procedure Code to meet the requirements for the exercise of judicial power by the People’s Courts in the new period

(TCTA) - Trong bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa án nhân dân giữ vị trí trung tâm của hệ thống tư pháp và là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp. Bản chất của quyền tư pháp không chỉ dừng lại ở hoạt động xét xử chuyên môn, mà còn là công cụ pháp lý tối thượng nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, cũng như lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Bài viết tập trung phân tích làm rõ các cơ sở cần thiết cho việc tiếp tục hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi; đồng thời phân tích, làm rõ một số nội dung trong dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi năm 2026 (dự thảo ngày 15/10/2026); từ đó đưa ra một số nội dung định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu thực hiện quyền tư pháp của Tòa án nhân dân. Abstract: In the socialist rule-of-law State of Vietnam, the People’s Courts play a central role in judicial system and serves as the only bodies exercising judicial power. The nature of judicial power extends beyond the professional function of adjudication. It constitutes the supreme legal mechanism for protecting justice, human rights, civil rights, the socialist regime as well as the legitimate interests of the State, organisations and individuals. The article analyses essential grounds for the ongoing process of improving the amended Criminal Procedure Code and examines several issues in the Draft Criminal Procedure Code amended in 2026 (dated 15 October 2026). On that basis, it proposes orientations and recommendations for improving the Criminal Procedure Code to meet the requirements for the exercise of judicial power by the People’s Courts.

1. Đặt vấn đề

Quyền tư pháp là một trong những quyền năng cốt lõi của nhà nước pháp quyền và cũng là một bộ phận quan trọng trong nền tảng chính trị - xã hội hiện đại. Quyền tư pháp có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các giá trị công lý, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và duy trì sự ổn định xã hội. Quyền tư pháp là quyền phán xét về tính hợp hiến, hợp pháp của hành vi, quyết định, và trong lĩnh vực hình sự là quyền quyết định một người có tội hay không có tội, có bị áp dụng hình phạt hay không. Hiến pháp năm 2013 xác định Tòa án nhân dân (TAND) là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp (Điều 102)[1]. Trong lĩnh vực hình sự, quyền tư pháp được hiện thực hóa qua việc Tòa án quyết định một người có tội hay không có tội và áp dụng hình phạt tương xứng, nên chất lượng của mỗi bản án tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân và niềm tin của Nhân dân vào công lý. Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) là công cụ pháp lý quy định trình tự, thủ tục mà Tòa án phải tuân theo khi thực hiện quyền lực đó.

Trong bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp. Bản chất của quyền tư pháp không chỉ dừng lại ở hoạt động xét xử chuyên môn, mà còn là công cụ pháp lý tối thượng nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, cũng như lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.

Bối cảnh phát triển của đất nước hiện nay đang đặt ra những yêu cầu và thách thức mới đối với việc thực thi quyền tư pháp. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quyết tâm chiến lược trong việc xây dựng nền tư pháp Việt Nam “chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân”. Những chủ trương này là sự nối tiếp và nâng tầm tinh thần của Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 27-NQ/TW), kết hợp chặt chẽ với định hướng đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị.

Đặt trong tiến trình đó, một số quy định của BLTTHS hiện hành đã bắt đầu bộc lộ những hạn chế, chưa hoàn toàn tương thích với yêu cầu đẩy mạnh tố tụng tranh tụng, chưa kịp thời thể chế hóa các thủ tục tố tụng điện tử, chứng cứ điện tử, Tòa án điện tử hay các chế định về khoan hồng, phân hóa trách nhiệm hình sự. Do đó, việc nghiên cứu, rà soát và đề xuất các giải pháp hoàn thiện BLTTHS đặc biệt trong định hướng sửa đổi, bổ sung năm 2026 - là một đòi hỏi cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn xét xử. Việc hoàn thiện này không chỉ góp phần tháo gỡ các vướng mắc tố tụng phát sinh từ thực tiễn, mà còn tạo tiền đề vững chắc để Tòa án nhân dân thực hiện đầy đủ, hiệu quả quyền tư pháp, bảo đảm tính thượng tôn pháp luật. Vì vậy, hoàn thiện BLTTHS không chỉ là yêu cầu của kỹ thuật lập pháp mà còn là điều kiện để Tòa án thực hiện quyền tư pháp độc lập, khách quan, đúng pháp luật.

2. Cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn

2.1. Cơ sở chính trị

Nghiên cứu, sửa đổi toàn diện BLTTHS là yêu cầu khách quan mang tính chiến lược, nhằm thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và hoàn thiện thể chế trong giai đoạn phát triển mới.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khẳng định quyết tâm xây dựng nền tư pháp Việt Nam “chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân”. Văn kiện Đại hội đặt ra các yêu cầu cốt lõi đối với hoạt động tố tụng hình sự, bao gồm: bảo đảm quyền tiếp cận công lý, quyền được xét xử công bằng của người dân; kiên quyết không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện và ứng dụng công nghệ hiện đại trong các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Đây là yêu cầu chính trị hàng đầu buộc BLTTHS phải chuyển mình để đáp ứng sự kỳ vọng của Nhân dân vào công lý.

Nghị quyết số 27-NQ/TW tiếp tục nhấn mạnh vị trí trung tâm của Tòa án nhân dân trong việc thực hiện quyền tư pháp, coi xét xử là trọng tâm và tranh tụng là bước đột phá. Đồng thời, Nghị quyết đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan tố tụng; đổi mới chính sách xử lý hình sự theo hướng nhân văn, mở rộng phạm vi áp dụng các thủ tục rút gọn, khuyến khích tự nguyện khắc phục hậu quả, hạn chế áp dụng biện pháp tạm giam và bảo đảm quyền bào chữa, quyền tự bảo vệ của người dân. Việc sửa đổi BLTTHS chính là bước cụ thể hóa các định hướng nền tảng này vào quy trình tố tụng thực tế.

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về “đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật” đã tạo ra sự chuyển dịch căn bản về tư pháp và lập pháp. Nghị quyết đòi hỏi phải đổi mới tư duy xây dựng pháp luật tố tụng hình sự: chuyển mạnh từ tư duy “quản lý, thắt chặt” sang tư duy “kiến tạo phát triển”, vừa nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm, vừa khơi thông các nguồn lực xã hội, tạo động lực cho sự phát triển. Nghị quyết số 66-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ cấp bách là xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp phù hợp với mục tiêu, định hướng cải cách tư pháp. Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hệ thống dịch vụ pháp lý, hỗ trợ pháp lý, trợ giúp pháp lý, đăng ký biện pháp bảo đảm để người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận pháp luật, quản trị rủi ro pháp lý. Đồng thời, nghiên cứu mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục tố tụng tư pháp rút gọn; kết hợp các phương thức phi tố tụng tư pháp với các phương thức tố tụng tư pháp.

Thông báo số 01-TB/BCĐTW ngày 06/7/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật về Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật tại Phiên họp thứ nhất nhấn mạnh: việc sửa đổi BLTTHS không được tiếp cận như một đợt sửa đổi một số thủ tục mang tính kỹ thuật đơn thuần, mà phải được đặt trong tổng thể yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và khơi thông nguồn lực phát triển. Ban Chỉ đạo yêu cầu sửa đổi BLTTHS phải dựa trên 05 nguyên tắc nền tảng của pháp luật hiện đại: Công bằng - Công khai - Minh bạch - Hiệu quả - Nhân văn, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với Bộ luật Hình sự và các đạo luật liên quan.

2.2. Cơ sở pháp lý

Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức TAND và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; theo đó, tổ chức bộ máy của Tòa án và Viện kiểm sát được cơ cấu lại theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp Tòa án và Viện kiểm sát.

Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI dự kiến thông qua dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự để điều chỉnh về thẩm quyền, cơ cấu tổ chức của hệ thống cơ quan điều tra, cơ quan có thẩm quyền điều tra.

Kể từ ngày 01/7/2025, hệ thống TAND vận hành theo mô hình ba cấp gồm Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), TAND cấp tỉnh và TAND khu vực; chấm dứt hoạt động của TAND cấp cao và TAND cấp huyện. Đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa là việc chuyển đổi mô hình tổ chức hệ thống TAND từ bốn cấp sang ba cấp, sự thành lập của 355 TAND khu vực theo Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 không phải chỉ là việc sắp xếp lại địa giới hành chính tư pháp hay kế thừa pháp lý đối với hệ thống Tòa án cấp huyện trước đây; mà là sự thay đổi căn bản về phương thức vận hành và phân định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ.

Thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm được phân định lại; TAND khu vực được tăng cường năng lực và mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với phần lớn các vụ án hình sự; xử lý kịp thời các vụ việc ngay tại cơ sở, bảo đảm tiêu chí "Tòa án gần dân", giảm tải áp lực cho Tòa án cấp trên. TAND cấp tỉnh đóng vai trò là cấp xét xử phúc thẩm tập trung đối với các bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị của TAND khu vực. Đồng thời, TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với một số vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, và mở rộng thẩm quyền trực tiếp giải quyết thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND khu vực thuộc phạm vi địa bàn quản lý. TANDTC tập trung thực hiện nhiệm vụ, thẩm quyền cơ quan xét xử cao nhất, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ, tổng kết thực tiễn xét xử, và thực hiện thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định của các Tòa án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới.

Để đáp ứng các yêu cầu đó, Quốc hội đã ban hành Luật số 99/2025/QH15 ngày 27/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Tuy nhiên, Luật này chủ yếu điều chỉnh các quy định để phù hợp với việc sắp xếp bộ máy và bước đầu bổ sung quy định về chuyển đổi số. Những vấn đề có tính căn bản đòi hỏi phải sửa đổi toàn diện BLTTHS, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.

2.3. Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025) cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực, hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và TAND các cấp nói riêng đang phải đối mặt với áp lực vô cùng lớn do sự gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất phức tạp của các vụ án hình sự.

Thứ nhất, việc thiếu sự phân hóa trong thủ tục tố tụng gây lãng phí nguồn lực xét xử. Qua công tác tổng kết thực tiễn xét xử, giải đáp vướng mắc nghiệp vụ, chúng tôi thấy, cơ chế hiện hành về khuyến khích hợp tác tố tụng và khắc phục hậu quả tài sản còn thiếu linh hoạt. Thực tiễn giải quyết các vụ án kinh tế, tham nhũng, chức vụ cho thấy mục tiêu quan trọng hàng đầu là thu hồi tài sản bị thất thoát cho Nhà nước và người bị hại. Tuy nhiên, quy định tố tụng hiện hành chưa tạo điều kiện pháp lý đủ mạnh về mặt thời gian và cơ chế hoãn/dừng tố tụng để bị can, bị cáo thực hiện cam kết khắc phục hậu quả. Điều này khiến phán quyết của Tòa án trong một số trường hợp dù đúng luật nhưng hiệu quả thi hành án về tài sản lại đạt tỷ lệ thấp.

Thứ hai, trước yêu cầu chuyển đổi số và hiện đại hóa tố tụng, BLTTHS hiện hành chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ thông tin trong kỷ nguyên số. Việc triển khai các phiên tòa trực tuyến và ứng dụng công nghệ thông tin thời gian qua mang lại hiệu quả rõ rệt, tuy nhiên, khung khổ pháp lý tố tụng hiện hành mới chỉ dừng ở mức áp dụng ở một số vụ án, vụ việc đơn giản[2]. Việc ghi nhận chứng cứ điện tử, hồ sơ vụ án số hóa, giao nhận tài liệu tố tụng qua môi trường điện tử và thực hiện tố tụng điện tử toàn trình chưa được luật hóa kịp thời, đồng bộ.

Thứ ba, yêu cầu về bảo vệ Thẩm phán và tính độc lập của hoạt động xét xử. Thực tiễn xét xử cho thấy Thẩm phán và Hội đồng xét xử phải chịu nhiều áp lực từ các hành vi can thiệp trái pháp luật, sự đe dọa hoặc các áp lực ngoài tố tụng. Nếu BLTTHS không bổ sung các nguyên tắc và cơ chế pháp lý đủ mạnh để bảo vệ chức danh tư pháp và người tiến hành tố tụng, nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” sẽ khó được thực thi một cách triệt để.

Thứ tư, sự chưa đồng bộ trong cơ chế phân cấp, phân quyền tố tụng và yêu cầu tăng cường tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của Thẩm phán. Một bất cập từ thực tiễn giải quyết án hình sự hiện nay là cơ chế phân định thẩm quyền tố tụng giữa Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng (Chánh án, Phó Chánh án) với người trực tiếp tiến hành tố tụng (Thẩm phán) chưa bảo đảm phân cấp, phân quyền, còn mang nặng tính hành chính hóa. Nhiều quyết định tố tụng mang tính chuyên môn nghiệp vụ, phát sinh trực tiếp trong quá trình xét xử vẫn bắt buộc phải do Chánh án Tòa án quyết định như xử lý vật chứng, thay đổi, áp dụng, hủy bỏ biện pháp tạm giam… dẫn đến sự chậm trễ không cần thiết, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án và giảm tính chủ động và chịu trách nhiệm của Thẩm phán. Thực tiễn nêu trên dẫn đến yêu cầu phải hoàn thiện thẩm quyền tố tụng theo hướng phân định rõ rành mạch giữa chức năng quản lý hành chính tư pháp của người đứng đầu với thẩm quyền tố tụng độc lập của Thẩm phán; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho Thẩm phán trực tiếp thụ lý, giải quyết vụ án.

Thứ năm, yêu cầu tiếp tục phân định rành mạch thẩm quyền, trách nhiệm tố tụng; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Cần trao cho Thẩm phán quyền chủ động điều hành phiên tòa trên cơ sở tranh tụng bình đẳng, loại bỏ các thủ tục mang tính hành chính, bảo đảm mọi phán quyết của Tòa án đều xuất phát từ kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ công khai tại phiên tòa. Đồng thời cần đơn giản hóa một số thủ tục mang tính hành chính tư pháp tại phiên tòa, đơn giản mô hình quyết định theo cơ chế Hội đồng. Cơ chế phán quyết bằng Hội đồng ở một số thủ tục như xem xét kháng cáo quá hạn, xét tha tù trước thời hạn… đã tạo ra sự xơ cứng, làm phát sinh nhiều thủ tục rườm rà không cần thiết và kéo dài thời hạn giải quyết vụ án, gây lãng phí nguồn lực để Tòa án tập trung giải quyết, nâng cao chất lượng xét xử các vụ án phức tạp.

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đánh giá mức độ đáp ứng của BLTTHS hiện hành đối với yêu cầu thực hiện quyền tư pháp của TAND trong giai đoạn mới còn chưa tương xứng, việc nhận diện những khoảng trống còn lại và đề xuất định hướng hoàn thiện, bảo đảm tính đồng bộ với các đạo luật liên quan, phù hợp chủ trương của Đảng và yêu cầu phát triển đất nước là yêu cầu cấp thiết.

3. Định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu thực hiện quyền tư pháp của Tòa án nhân dân

3.1. Yêu cầu hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự phải được đặt trong tổng thể xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó tập trung yêu cầu về cải cách tư pháp

Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra yêu cầu xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính; bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; đồng thời xác định quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả. Đây phải là tư tưởng xuyên suốt trong sửa đổi BLTTHS.

Những yêu cầu mới của phát triển đất nước cũng làm thay đổi sâu sắc môi trường mà pháp luật tố tụng hình sự vận hành. Chuyển đổi số tạo ra những loại chứng cứ, dữ liệu và phương thức thực hiện hành vi phạm tội mới; tội phạm có tổ chức, tội phạm kinh tế, tham nhũng, rửa tiền, tội phạm công nghệ cao ngày càng phức tạp; nhiều vụ án có số lượng bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng và khối lượng tài liệu rất lớn. Đồng thời, yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh hợp pháp và môi trường đầu tư cũng đòi hỏi các biện pháp tố tụng liên quan đến doanh nghiệp, tài sản phải được áp dụng đúng căn cứ, đúng phạm vi và tương xứng.

BLTTHS giữ vị trí đặc biệt quan trọng, là "bộ luật rường cột" trong hệ thống pháp luật quốc gia, tạo hành lang pháp lý để Nhà nước thực hiện quyền lực tư pháp trong việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới thì “Hiến pháp là luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất; một số bộ luật, luật có tính nền tảng là trung tâm của hệ thống pháp luật, bao gồm: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính. Trong các văn bản luật có tính nền tảng, ngoài các quy định chi tiết, cụ thể, còn có các nguyên tắc cơ bản có giá trị chi phối, định hướng các văn bản luật còn lại trong hệ thống pháp luật”. Như vậy, Đảng ta đã xác định việc hoàn thiện và xây dựng dự án BLTTHS (sửa đổi) đóng vai trò then chốt trong công cuộc tinh gọn và nâng cao hiệu năng của cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam. Là đạo luật xương sống điều chỉnh toàn bộ hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, BLTTHS mới không chỉ là công cụ pháp lý sắc bén để đấu tranh phòng, chống tội phạm hiệu quả, mà còn là lá chắn vững chắc bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đặc biệt, tinh thần của Kết luận 09-KL/TW nhấn mạnh tầm quan trọng của bộ luật này trong việc thúc đẩy tranh tụng, phân hóa xử lý nhân văn và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào hoạt động tố tụng. Điều này góp phần xây dựng một nền tư pháp minh bạch, liêm chính, bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật tổng thể và đáp ứng toàn diện yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Dự án BLTTHS (sửa đổi) được xây dựng theo hướng sửa đổi toàn diện, xác định sáu nhóm chính sách lớn, gồm (1) đổi mới thủ tục theo hướng tinh gọn, hiệu quả; (2) phân hóa và khoan hồng trong xử lý tội phạm; (3) hoàn thiện thẩm quyền tố tụng gắn với kiểm soát quyền lực và bảo đảm quyền con người; (4) thực hiện tố tụng điện tử; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; (5) luật hóa những cơ chế đã được thực tiễn kiểm nghiệm và (6) tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong thi hành pháp luật.

Từ góc độ Tòa án, cần nhìn nhận sáu nhóm chính sách đó trong một chỉnh thể chung. Đổi mới thủ tục nhằm rút ngắn thời gian giải quyết vụ án; phân hóa thủ tục nhưng không làm suy giảm các bảo đảm của xét xử công bằng; tăng thẩm quyền cho các chức danh tố tụng phải đồng thời tăng trách nhiệm cá nhân; ứng dụng công nghệ không thể làm giảm khả năng kiểm tra, tranh tụng và đánh giá chứng cứ tại phiên tòa. Mọi cải cách tố tụng phải hướng tới mục tiêu là giúp Tòa án đưa ra một phán quyết đúng pháp luật, khách quan, thuyết phục và bảo vệ công lý.

Đó cũng là cách tiếp cận cần được quán triệt trong lần sửa đổi này: không xem xét từng quy định một cách biệt lập mà đặt từng điều luật trong tổng thể mô hình quyền lực tư pháp, trong mối quan hệ giữa hiệu quả xử lý tội phạm với bảo đảm quyền con người, giữa yêu cầu xử lý nhanh với chất lượng xét xử, giữa quyền hạn với trách nhiệm và giữa đổi mới tổ chức với đổi mới phương thức hoạt động.

3.2. Hoàn thiện thẩm quyền của hệ thống Tòa án nhân dân trong mô hình ba cấp

Một trong những nội dung cần được nhìn nhận toàn diện hơn trong dự thảo là thẩm quyền của hệ thống TAND, bao gồm thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, thẩm quyền theo lãnh thổ, giải quyết tranh chấp thẩm quyền và các thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Thứ nhất, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực và Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Theo pháp luật hiện hành sau khi tổ chức lại hệ thống Tòa án, TAND khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và cả tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt đến 20 năm tù. TAND cấp tỉnh xét xử sơ thẩm các vụ án không thuộc thẩm quyền của Tòa án khu vực và một số vụ án tuy thuộc thẩm quyền của Tòa án khu vực nhưng có tính chất đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, có ảnh hưởng lớn về chính trị, đối ngoại hoặc thuộc các trường hợp luật định.

Dự thảo BLTTHS trình Quốc hội tiếp tục kế thừa cơ bản và thể hiện sự nhất quán về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND khu vực và TAND cấp tỉnh. Hướng kế thừa này theo chúng tôi là hợp lý. Mô hình Tòa án khu vực phải có khả năng giải quyết phần lớn các vụ án hình sự ở cấp sơ thẩm. Nếu thẩm quyền quá hẹp, mô hình khu vực khó phát huy mục tiêu tập trung nguồn lực, chuyên môn hóa và giảm tải cho cấp tỉnh. Cơ chế cho phép TAND cấp tỉnh rút các vụ án thuộc thẩm quyền của TAND khu vực lên để trực tiếp xét xử sơ thẩm khi có tính chất phức tạp là cần thiết để bảo đảm sự linh hoạt. Ngày 10/12/2025, Chánh án TANDTC, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-TANDTC-VKSNDTC quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh và phối hợp chuyển vụ án trong giai đoạn xét xử theo quy định của BLTTHS nhằm “lượng hóa” những tiêu chí nêu trên, bảo đảm thống nhất về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

Thứ hai, thẩm quyền theo lãnh thổ cần bảo đảm thích ứng với thực tiễn mới

Dự thảo BLTTHS trình Quốc hội (Điều 286) tiếp tục xác định nguyên tắc Tòa án nơi tội phạm được thực hiện có thẩm quyền xét xử; nếu tội phạm xảy ra tại nhiều nơi hoặc không xác định được nơi thực hiện thì Tòa án nơi kết thúc điều tra có thẩm quyền. Đối với người phạm tội ở nước ngoài nhưng xét xử tại Việt Nam, dự thảo tiếp tục xác định thẩm quyền theo nơi cư trú cuối cùng của bị cáo, đồng thời quy định thẩm quyền quyết định cuối cùng cũng như giải quyết tranh chấp thuộc về Chánh án TANDTC.

Thực tiễn hiện nay cho thấy sự gia tăng của tội phạm trên không gian mạng và tội phạm công nghệ cao đã khiến cho quy định về phạm vi xét xử theo lãnh thổ bị ảnh hưởng. Khi hành vi vi phạm được thực hiện đồng thời tại nhiều địa phương, dòng tiền và hậu quả thiệt hại phân tán ở nhiều nơi, và toàn bộ hệ thống dữ liệu điện tử - chứng cứ cốt lõi của vụ án lại được lưu trữ trên điện toán đám mây hoặc máy chủ đặt tại nước ngoài, thì tiêu chí “nơi tội phạm được thực hiện” theo cách hiểu truyền thống cần phải đặt ra để nghiên cứu, xem xét cẩn trọng, kỹ lưỡng.

Đây là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu cả trong Bộ luật và văn bản hướng dẫn. Mục tiêu hàng đầu là phải thiết kế một cơ chế kiểm soát và ngăn ngừa triệt để hiện tượng xung đột, tranh chấp thẩm quyền - nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc đùn đẩy, “chuyển đi, chuyển lại” hồ sơ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, gây kéo dài thời hạn giải quyết vụ án một cách bất hợp lý. Đối với các vụ án phức tạp có hành vi, hậu quả và đối tượng trải rộng trên mạng lưới địa bàn liên tỉnh, liên khu vực, pháp luật tố tụng hình sự cần chuyển dịch trọng tâm từ “địa giới hành chính” sang “hiệu năng, hiệu quả tư pháp”. Tiêu chí lựa chọn Tòa án có thẩm quyền xét xử phải dựa trên nguyên tắc ưu tiên tối đa cho: (1) Năng lực giải quyết vụ án một cách toàn diện và triệt để; (2) Sự thuận lợi khách quan trong việc triệu tập người tham gia tố tụng và thu thập, kiểm tra hệ thống chứng cứ điện tử; (3) Bảo đảm tối đa quyền bào chữa của bị cáo và quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Thứ ba, thẩm quyền phúc thẩm phải bảo đảm thực chất nguyên tắc hai cấp xét xử

Một nội dung quan trọng của mô hình mới là phân định thẩm quyền xét xử phúc thẩm. Pháp luật hiện hành quy định TAND cấp tỉnh xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của TAND khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa Phúc thẩm TANDTC xét xử phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm của TAND cấp tỉnh.

Dự thảo BLTTHS tiếp tục kế thừa mô hình này. Đây là thiết kế phù hợp với hệ thống Tòa án ba cấp, nhưng cần nhìn nhận ý nghĩa của nó không chỉ trên phương diện phân công công việc. Phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai, là cơ chế tố tụng trực tiếp để kiểm tra tính đúng đắn của bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, chất lượng xét xử phúc thẩm có quan hệ trực tiếp đến việc hạn chế sai sót tư pháp và bảo đảm quyền kháng cáo, kháng nghị. Đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cấp phúc thẩm tại TAND cấp tỉnh thực sự vận hành như một “bộ lọc” kiểm tra độc lập, khách quan, không bị ảnh hưởng bởi áp lực từ công tác xét xử sơ thẩm của chính cấp mình.

TAND cấp tỉnh trong mô hình mới đồng thời thực hiện hai chức năng quan trọng: xét xử sơ thẩm những vụ án thuộc nhóm phức tạp, nghiêm trọng theo luật định và xét xử phúc thẩm đối với bản án, quyết định của các Tòa án khu vực. Điều này đòi hỏi đội ngũ Thẩm phán có tính chuyên môn hóa cao, đồng thời phải bảo đảm cơ chế phân công vụ án khoa học để chất lượng xét xử phúc thẩm thực sự là một lớp kiểm tra độc lập và hiệu quả.

Đối với Tòa Phúc thẩm TANDTC, vị trí mới của thiết chế này trong hệ thống ba cấp cũng đặt ra yêu cầu phải xác định đầy đủ địa vị pháp lý của các chức danh lãnh đạo Tòa Phúc thẩm trong BLTTHS. Thực tiễn thi hành BLTTHS hiện hành cho thấy phát sinh một số bất cập như quy định về thẩm quyền của Chánh án TANDTC đối với một số nhiệm vụ, quyền hạn trong tố tụng là chưa phù hợp (như giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án, quyết định thay đổi Thẩm phán là Chánh án TAND cấp tỉnh hoặc Chánh tòa Tòa Phúc thẩm TANDTC; thông báo giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng là Chánh án TAND cấp tỉnh hoặc Chánh tòa Tòa Phúc thẩm TANDTC; quyết định tổng hợp hình phạt đối với các bản án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo...). Để khắc phục bất cập nêu trên, ngày 06/4/2026, Chánh án TANDTC đã ban hành Quyết định số 77/QĐ-CA quy định về việc ủy quyền ban hành một số quyết định tố tụng, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng thuộc thẩm quyền của Chánh án TANDTC. Tuy nhiên, theo tinh thần sửa đổi, bổ sung toàn diện BLTTHS lần này thì Chánh án Tòa án chỉ được ủy quyền cho Phó Chánh án và việc ủy quyền phải được quy định trong luật.

Như vậy, thực tiễn đã đặt ra yêu cầu phải quy định rõ trong sửa đổi lần này về địa vị pháp lý của các chức danh lãnh đạo thuộc Tòa Phúc thẩm TANDTC. Tòa Phúc thẩm TANDTC là đơn vị kế thừa toàn bộ nhiệm vụ, quyền hạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của TAND cấp cao trước đây. Do đó, về mặt lý luận tố tụng lẫn thực tiễn tư pháp, Tòa Phúc thẩm TANDTC phải được coi là một cấp xét xử trong hệ thống tư pháp, chứ không thể nhìn nhận thuần túy như một đơn vị tòa chuyên trách hay một bộ phận tham mưu, giúp việc thuộc TANDTC.

Chánh tòa Tòa Phúc thẩm TANDTC cần phải được pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận với đầy đủ nhiệm vụ, thẩm quyền của một người giữ chức danh tư pháp đứng đầu một cấp xét xử. Thực tiễn này đòi hỏi BLTTHS (sửa đổi) phải chuẩn hóa, luật hóa rõ ràng thẩm quyền, nhiệm vụ và quyền hạn của các chức danh tư pháp tại Điều 38, Điều 48 và Điều 49.

Thứ tư, giám đốc thẩm, tái thẩm phải giữ đúng bản chất là thủ tục đặc biệt

Cùng với hai cấp xét xử, hệ thống Tòa án còn thực hiện chức năng xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Đây là cơ chế đặc biệt để sửa chữa những sai lầm nghiêm trọng đã phát sinh sau khi bản án có hiệu lực, chứ không phải một “cấp xét xử thứ ba”.

Vì vậy, hoàn thiện BLTTHS cần đồng thời bảo đảm hai yêu cầu: khả năng sửa chữa kịp thời sai lầm tư pháp và tính ổn định của bản án đã có hiệu lực pháp luật. Nếu điều kiện kháng nghị quá rộng, sự ổn định của quan hệ pháp luật sẽ bị ảnh hưởng; nhưng nếu điều kiện quá chặt, những sai lầm nghiêm trọng có nguy cơ không được khắc phục.

Định hướng lâu dài phải là nâng cao chất lượng xét xử ngay từ sơ thẩm và phúc thẩm, coi đó là giải pháp căn bản để giảm nhu cầu sử dụng thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Một hệ thống tư pháp tốt không phải là hệ thống có nhiều bản án được sửa ở giai đoạn đặc biệt, mà là hệ thống hạn chế tối đa sai sót ngay từ những cấp xét xử đầu tiên.

3.3. Xác định đúng địa vị của Tòa án và Thẩm phán trong cơ chế thực hiện quyền tư pháp

Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) xác định TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Để tinh thần hiến định này không dừng lại ở mức độ nguyên tắc, việc cụ thể hóa địa vị pháp lý của Tòa án và Thẩm phán trong BLTTHS cần được thực hiện một cách thực chất và đồng bộ. Dự thảo BLTTHS trình Quốc hội đã thể hiện khá rõ định hướng tăng thẩm quyền, tăng trách nhiệm cho những người trực tiếp tiến hành tố tụng. Đây là một trong những điểm tiến bộ cần tiếp tục được hoàn thiện. Dự thảo BLTTHS sửa đổi, bổ sung cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyền xử lý vật chứng trong một số trường hợp và quyết định áp dụng hoặc hủy bỏ thủ tục rút gọn. Ngoài ra, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa có quyền thay đổi, áp dụng biện pháp tạm giam mà hiện hành chỉ có Chánh án, Phó Chánh án Tòa án mới có thẩm quyền này.

Định hướng phân quyền nêu trên hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc tố tụng hiện đại: người trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, trực tiếp tiếp cận chứng cứ và chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng giải quyết vụ án phải có đủ thẩm quyền tố tụng cần thiết để thực thi nhiệm vụ. Nếu mỗi quyết định mang tính nghiệp vụ đều phải chuyển qua một tầng quản lý khác, quyền hạn và trách nhiệm dễ bị tách rời, đồng thời làm phát sinh thủ tục trung gian không cần thiết. Đây là một bước chuyển mang tính tiến bộ nhằm khắc phục tình trạng “hành chính hóa” trong hoạt động tư pháp.

Tuy nhiên, tăng quyền cho Thẩm phán phải đồng thời tăng yêu cầu đối với chất lượng quyết định tố tụng tư pháp. Thẩm phán không chỉ phải đưa ra quyết định đúng mà phải chỉ rõ căn cứ pháp luật, căn cứ thực tế và lý do lựa chọn biện pháp đó. Trách nhiệm giải trình thông qua lập luận tư pháp chính là một trong những cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả nhất.

Từ định hướng trên, để tiếp tục hoàn thiện địa vị pháp lý của Tòa án và Thẩm phán trong dự thảo BLTTHS, cần chú trọng ba yêu cầu sau:

Thứ nhất, phân định rành mạch chức năng quản lý, tổ chức công tác xét xử (như phân công vụ án, kiểm tra thủ tục, bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất) của Chánh án/Phó Chánh án và chức năng, thẩm quyền trong tố tụng của Thẩm phán. Khi Thẩm phán thụ lý vụ án, mọi quyết định tố tụng nghiệp vụ thuộc thẩm quyền phải do Thẩm phán quyết định và tự chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật.

Thứ hai, chuẩn hóa nghĩa vụ lập luận tư pháp và minh bạch hóa trách nhiệm giải trình. Mọi bản án, quyết định tố tụng đều cần phải đánh giá đối chiếu hệ thống chứng cứ và lập luận pháp lý rõ ràng. Thẩm phán phải giải trình công khai lý do chấp nhận hoặc bác bỏ các quan điểm, yêu cầu của Kiểm sát viên, Người bào chữa và người tham gia tố tụng. Nghĩa vụ giải trình sau khi xét xử vụ án chính là “thước đo” năng lực Thẩm phán, đồng thời là căn cứ để Tòa án cấp trên, các cơ quan tố tụng và xã hội thực hiện quyền giám sát tư pháp một cách thực chất.

Thứ ba, giữ vững vị trí “trọng tài khách quan” của Tòa án trong mô hình tố tụng tranh tụng. Cần cụ thể hóa quy định tại Điều 15 của Luật Tổ chức TAND năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025 theo hướng Tòa án không trực tiếp thu thập, bổ sung chứng cứ mà chỉ hỗ trợ cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ. Tòa án không làm thay việc buộc tội của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà Tòa án phải luôn giữ đúng vị thế là trọng tài đứng giữa, bảo đảm sự bình đẳng tranh tụng giữa bên buộc tội và bên bào chữa; mọi chứng cứ thu thập bổ sung phải được đưa ra kiểm tra, tranh luận công khai tại phiên tòa trước khi được Tòa án sử dụng làm căn cứ ra phán quyết.

3.4. Thẩm quyền quyết định tạm giam và yêu cầu tăng cường kiểm soát các biện pháp hạn chế quyền con người

Về bản chất pháp lý, tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, hạn chế quyền tự do thân thể của người bị buộc tội khi chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Do đó, để bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội, việc áp dụng biện pháp không được lạm dụng như một hình thức "xử lý sớm", mà bắt buộc phải dựa trên căn cứ luật định nghiêm ngặt, đáp ứng đầy đủ tính cần thiết, tính hợp lý và tính tương xứng với nguy cơ tố tụng mà nó nhằm ngăn chặn.

Dự thảo BLTTHS đã thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo của Đảng về hạn chế tạm giam và tăng các biện pháp thay thế. Điều 130 được sửa đổi theo hướng thu hẹp điều kiện tạm giam đối với một số trường hợp; Điều 134 thiết kế biện pháp giám sát điện tử là biện pháp thay thế tạm giam và quy định về căn cứ, thời hạn, thẩm quyền, nghĩa vụ của người bị áp dụng.

Tuy nhiên, bất kỳ biện pháp thay thế nào cũng cần bảo đảm tính khả thi, đúng quy định và không tạo ra một hình thức hạn chế quyền con người, quyền công dân một cách thiếu kiểm soát. Với giám sát điện tử, ngoài điều kiện áp dụng, cần đặc biệt quan tâm đến dữ liệu vị trí, phạm vi giám sát, thời gian lưu trữ dữ liệu, quyền truy cập và trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân. Tuy nhiên, từ góc độ bảo đảm quyền con người, bất kỳ biện pháp thay thế nào dù mang tính công nghệ cũng cần phải được kiểm soát chặt chẽ, không để lạm dụng để hạn chế quyền con người, quyền công dân. Đối với biện pháp giám sát điện tử, bên cạnh các điều kiện áp dụng khắt khe, pháp luật tố tụng hình sự cần quy định rõ hành lang pháp lý minh bạch về: thẩm quyền thu thập và xử lý dữ liệu vị trí; giới hạn không gian - thời gian giám sát; thời hạn lưu trữ dữ liệu; quyền tiếp cận thông tin và đặc biệt là trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân của người bị áp dụng nhằm tránh xâm phạm sâu vào quyền riêng tư, bí mật đời tư ngoài phạm vi tố tụng.

Từ góc độ thực tiễn xét xử, theo chúng tôi, việc giao Thẩm phán chủ tọa quyền quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (bao gồm cả biện pháp tạm giam, biện pháp giám sát điện tử) có thể làm tăng trách nhiệm cá nhân, nhưng lại giảm tầng nấc và bảo đảm việc xem xét, áp dụng biện pháp ngăn chặn gắn với diễn biến và yêu cầu giải quyết vụ án. Từ góc độ này, mục tiêu của sửa đổi không nên chỉ là trả lời “ai có quyền ký quyết định tạm giam”, mà quan trọng hơn là xây dựng một cơ chế để mọi quyết định hạn chế quyền con người đều được xem xét cẩn trọng, có căn cứ, có thể kiểm tra và gắn với trách nhiệm cá nhân của người ra quyết định.

3.5. Thể chế hóa chính sách khoan hồng và phân hóa xử lý trách nhiệm hình sự tại giai đoạn xét xử

Thứ nhất, về tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự

Chế định tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự tại Chương IX  (Điều 156 - Điều 159)  dự thảo BLTTHS là bước chuyển đổi tư duy tư pháp quan trọng trong chính sách xử lý đối với tội phạm, trong đó chuyển từ cơ chế mang tính trừng phạt sang kết hợp hài hòa giữa trừng phạt, răn đe, phục hồi và khắc phục tối đa hậu quả thiệt hại. Dự thảo quy định thời hạn tạm hoãn tối đa là không quá 02 năm và có thể gia hạn 01 lần không quá 01 năm nhằm tạo không gian và thời gian cho người bị buộc tội, tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện nghĩa vụ bồi thường, khắc phục hậu quả.

Dự thảo BLTTHS đã tiếp thu tối đa tinh thần Nghị quyết số 29/2026/QH16[3] và Nghị quyết số 37/2026/QH16[4], theo đó Tòa án xem xét, quyết định áp dụng tạm hoãn truy cứu TNHS linh hoạt thông qua 02 hình thức: (i) Quyết định tạm đình chỉ giải quyết; hoặc (ii) Quyết định hoãn phiên tòa. Để bảo đảm thống nhất áp dụng pháp luật, ngày 18/8/2026, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định về cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết, xét xử vi phạm pháp luật về đất đai quy định tại Nghị quyết 29/2026/QH16.

Dự thảo BLTTHS và các Nghị quyết về cơ chế chính sách đặc thù mới được Quốc hội thông qua là sự thể chế hóa quan điểm của Đảng được nêu tại Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Chương trình hành động về “Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân,…; xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả;… bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân”; “xử lý kịp thời, đồng bộ, bảo đảm vừa nghiêm minh, vừa nhân văn; ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, kinh tế, hành chính, tổ chức, trường hợp đến mức phải xử lý hình sự thì cho phép chủ động khắc phục hậu quả kinh tế trước, nhưng có thời hạn thực hiện cụ thể; bảo vệ người đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; chú trọng thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực”. Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới đề ra nhiệm vụ “Xử lý nghiêm minh, kịp thời, nhân văn, thuyết phục, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; đồng thời bảo đảm khách quan, toàn diện, xem xét kỹ bối cảnh lịch sử cụ thể và lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội, lợi ích quốc gia - dân tộc để xử lý phù hợp. Ưu tiên thu hồi tối đa tài sản, khuyến khích chủ động khắc phục hậu quả”…

Thứ hai, về chế định tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt

Đây là thủ tục tố tụng hoàn toàn mới, nhằm bảo đảm cơ chế kiểm soát quyền lực, trong chế định này, Tòa án phải giữ vai trò quyết định độc lập. Theo đó, Tòa án phải kiểm tra tính tự nguyện và tính có căn cứ  (Điều 460 dự thảo) ; Tòa án không bị ràng buộc tuyệt đối bởi biên bản ghi nhận giữa Viện kiểm sát và bị cáo. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải kiểm tra trực tiếp tính tự nguyện, năng lực hành vi, sự hiểu biết của bị cáo về hậu quả pháp lý, cũng như đánh giá xem lời nhận tội có phù hợp với hệ thống tài liệu, chứng cứ khách quan trong hồ sơ. Tòa án có quyền không chấp nhận đề nghị thỏa thuận của Viện kiểm sát nếu xét thấy mức hình phạt không tương xứng với tính chất hành vi, không đáp ứng yêu cầu khắc phục hậu quả, hoặc việc nhận tội không tự nguyện. Trong trường hợp đó, Tòa án có quyền quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Khi Bản án của Tòa án ghi nhận đúng các nội dung thỏa thuận mà các bên đã thống nhất tự nguyện, pháp luật tố tụng cần quy định không được kháng cáo, kháng nghị đối với các nội dung đã thỏa thuận (trừ trường hợp phát hiện có sự cưỡng ép, lừa dối hoặc vi phạm thủ tục nghiêm trọng).

Cơ quan chủ trì soạn thảo có thể tham khảo một số mô hình trên thế giới để chọn lọc cơ chế áp dụng phù hợp nhất với hệ thống pháp luật Việt Nam. Ở Mỹ (plea bargaining), hệ thống tư pháp Mỹ áp dụng rộng rãi cơ chế thỏa thuận nhận tội (giải quyết trên 90% vụ án hình sự). Tuy nhiên, Thẩm phán Mỹ giữ vai trò là “chủ thể kiểm soát độc lập”, Thẩm phán có nghĩa vụ tổ chức điều tra công khai tại Tòa án[5], bảo đảm bị cáo tự nguyện từ bỏ quyền được xét xử bởi Bồi thẩm đoàn, hiểu rõ khung hình phạt tối thiểu/tối đa. Thẩm phán có quyền bác bỏ thỏa thuận (rejection of plea agreement) nếu thấy thỏa thuận đó không phục vụ lợi ích công cộng hoặc hình phạt đề xuất quá nhẹ hoặc quá khắc nghiệt. Ở Trung Quốc, BLTTHS (sửa đổi năm 2018) cho phép áp dụng cơ chế này đối với hầu hết các loại tội phạm nhưng đề cao vai trò của TAND trong việc thẩm tra. Tòa án kiểm tra tính chân thực của lời khai, tính hợp pháp của việc khắc phục hậu quả và tính hợp lý trong đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát. Nếu Tòa án thấy đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát không đúng, Tòa án đề nghị Viện kiểm sát điều chỉnh; nếu Viện kiểm sát không điều chỉnh, Tòa án sẽ tự mình ra phán quyết theo quy định chung. Nhật Bản bổ sung chế định thỏa thuận tư pháp (bargaing/agreements system) vào năm 2018, theo đó, chủ yếu áp dụng chế định cho tội phạm kinh tế, tài chính, tham nhũng và tội phạm tổ chức. Khác với Mỹ, Nhật Bản quy định thỏa thuận chỉ được thực hiện khi có sự tham gia bắt buộc của Luật sư bào chữa. Tòa án Nhật Bản duy trì quyền phán quyết tuyệt đối, kiểm tra nghiêm ngặt việc bị cáo cung cấp chứng cứ/lời khai có thực sự giúp ích cho việc giải quyết vụ án hay không trước khi chấp nhận mức án giảm nhẹ.

Việc luật hóa chế định tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự và thỏa thuận nhận tội, chấp nhận hình phạt vào dự thảo BLTTHS sửa đổi là bước đi đột phá, thể hiện tinh thần đổi mới tư duy trong xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế. Đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới, TAND phải tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm trong quá trình xét xử khi xem xét áp dụng các biện pháp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự hay công nhận thỏa thuận nhận tội.

Kết luận

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống TAND - cơ quan thực hiện quyền tư pháp, giữ vị trí trung tâm của hệ thống tư pháp. Trong tiến trình đó, BLTTHS đóng vai trò là “bộ luật rường cột”, tạo hành lang pháp lý bảo đảm cho Tòa án thực hiện quyền tư pháp một cách độc lập, khách quan, công bằng, nghiêm minh và liêm chính, vừa nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm, vừa bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Hoàn thiện BLTTHS đáp ứng yêu cầu thực hiện quyền tư pháp của TAND là một nhiệm vụ chiến lược, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự phát triển bền vững của hệ thống cơ quan tư pháp, tạo tiền đề pháp lý vững chắc để xây dựng một nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, củng cố niềm tin vững chắc của Nhân dân vào công lý và chế độ xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới./.

LÊ TIẾN - Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

[1] Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

[2] Theo quy định tại Nghị quyết số 33/2021/QH15 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến, TAND được tổ chức phiên tòa trực tuyến để xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, dân sự, hành chính có tình tiết, tính chất đơn giản; tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án rõ ràng, trừ các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

[3] Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.

[4] Nghị quyết số 37/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

[5] Rule 11 - Federal Rules of Criminal Procedure.

Tài liệu tham khảo

1. Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

2. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025).

3. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

4. Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

5. Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi (bản ngày 15/10/2026).