Hoàn thiện chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam từ kinh nghiệm một số quốc gia

Bài viết mang tới những góc nhìn giá trị về chính sách phát triển kinh tế tuần hoàn của Liên minh Châu Âu (EU) và Trung Quốc, vốn là những nơi đã đạt được thành tựu đáng ghi nhận trong tiến trình phát triển kinh tế tuần hoàn. Từ đó đưa ra một số đề xuất về hoàn thiện chính sách kinh tế tuần hoàn cho Việt Nam.

1. Lịch sử ra đời của ý tưởng kinh tế tuần hoàn

Năm 1990, thuật ngữ “Kinh tế tuần hoàn” (Circular Economy) lần đầu tiên được đề cập bởi Pearce và Turner trong tác phẩm “Kinh tế Tài nguyên Thiên nhiên và Môi trường” của họ, trong đó nêu rằng hệ thống kinh tế hiện tại đang đe dọa môi trường bằng cách biến nó thành một bể chứa chất thải do các hoạt động sản xuất liên tục tạo ra chất thải và ô nhiễm. Vì vậy, hệ thống này cần được chuyển đổi thành một hệ thống tuần hoàn bằng cách xem chất thải như một nguồn tài nguyên mới[1]. Thuật ngữ này sau đó dần dần được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, trong cả hoạt động nghiên cứu khoa học lẫn hoạch định chính sách nhằm mục đích xây dựng một tương lai bền vững hơn cho nhân loại.

2. Thực trạng chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn tại Việt nam

2.1. Chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam hiện tại

Trong các văn kiện của hệ thống chính trị Việt nam, thuật ngữ Kinh tế tuần hoàn lần đầu xuất hiện trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2021. Cụ thể, Nghị quyết này đã đưa ra một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, đó là “xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”. Sau đó, Chiến lược Phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2021-2030 tầm nhìn 2045 đã đặt ra một mục tiêu có nội dung tương thích với nội dung cốt lõi của nền kinh tế tuần hoàn là:“Phải phát huy tối đa lợi thế của các vùng, miền; phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu”.

Trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã lần đầu tiên luật hóa khái niệm kinh tế tuần hoàn tại khoản 11 Điều 5, khẳng định Nhà nước thúc đẩy “Lồng ghép, thúc đẩy các mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh trong xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội”. Khoản 1 Điều 142 Luật này cũng đã định nghĩa rõ khái niệm này, cụ thể là: “Kinh tế tuần hoàn là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ nhằm giảm khai thác nguyên liệu, vật liệu, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế chất thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường”. Có thể thấy, định nghĩa này đã bao hàm ba trụ cột chính của kinh tế tuần hoàn, tiệm cận với các quan điểm thế giới về kinh tế tuần hoàn. Khoản 2, 3, 4 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của các cơ quan nhà nước như Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và các sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong việc thực hiện mục tiêu kinh tế tuần hoàn. Ngoài ra, điểm c khoản 2 Điều 150 Luật này quy định về một cơ chế nhằm hỗ trợ thực hiện kinh tế tuần hoàn, đó là quy định dự án đầu tư áp dụng kinh tế tuần hoàn là một trong các loại dự án được sử dụng nguồn tiền thu được từ trái phiếu xanh.

Nhằm chi tiết hóa các nội dung về môi trường nói chung và kinh tế tuần hoàn nói riêng quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2020 Quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Nghị định số 08 hướng dẫn cụ thể về kinh tế tuần hoàn qua 3 điều luật: Điều 138, Điều 139 và Điều 140. Điều 138 quy định tiêu chí chung về kinh tế tuần hoàn và các biện pháp cần thực hiện để đạt được tiêu chí kinh tế tuần hoàn cho từng nhóm đối tượng chủ thể. Điều 139 quy định lộ trình, trách nhiệm thực hiện kinh tế tuần hoàn cho từng nhóm chủ thể, từ cơ quan nhà nước các cấp cho đến các chủ dự án đầu tư, xây dựng, chủ các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Điều 140 thì quy định về cơ chế khuyến khích thực hiện kinh tế tuần hoàn.

Ngoài quy định trong hai văn bản quy phạm pháp luật cơ bản nói trên thì còn một số quy định khác về ưu đãi, khuyến khích, hỗ trợ một số hoạt động có liên quan đến kinh tế tuần hoàn nằm ở một số văn bản khác nhau.

Pháp luật tài chính nhằm tạo năng lực tài chính khuyến khích kinh doanh theo mô hình kinh tế tuần hoàn: Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành các chính sách tài chính để hỗ trợ về vốn, khuyến khích thuế, trợ giá đối với hoạt động bảo vệ môi trường; đặc biệt với tổ chức, cá nhân ứng dụng kinh tế tuần hoàn thuộc đối tượng được hưởng cơ chế khuyến khích về tín dụng xanh, trái phiếu xanh và các phương thức hỗ trợ khác. Tuy nhiên, chính sách này được đánh giá là còn thiếu cụ thể, gây khó khăn trong việc triển khai và hưởng dụng.

Pháp luật đất đai nhằm tạo ưu đãi trong giao, cho thuê và sử dụng đất cho mô hình kinh tế tuần hoàn: Điều 140 Nghị định số 08 quy định chủ thể áp dụng kinh tế tuần hoàn sẽ thuộc đối tượng được hỗ trợ về đất đai tại Điều 132 Nghị định này, đồng thời dẫn chiếu sang quy định về miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại Điều 110 Luật Đất đai năm 2013 (cho đối tượng được ưu đãi đầu tư theo pháp luật đầu tư). Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này trong giao đất, cho thuê đất còn nhiều “rào cản” và chưa thật sự thống nhất trong quy định pháp luật hiện hữu và sự rõ ràng của các luật liên quan.

Pháp luật về khoa học công nghệ và sở hữu trí tuệ: Điều 11 Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 đã chỉ rõ những công nghệ được khuyến khích chuyển giao và điều khoản hỗ trợ về miễn giảm thuế nhập khẩu công nghệ. Có ba loại công nghệ trọng tâm liên quan đến sản xuất và tiêu dùng xanh, đó là công nghệ tiết kiệm năng lượng, công nghệ sử dụng năng lượng mới và công nghệ sản xuất sạch, thân thiện với môi trường. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi năm 2019 đã đặt ra cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với các phát minh, sáng chế trong kinh tế tuần hoàn như quyền tác giả (đối với các thiết kế sinh thái - ecodesign), quyền sở hữu công nghiệp (đối với các quy trình, công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường)...

2.2. Những hạn chế trong chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam

Với việc kinh tế tuần hoàn chính thức được luật hóa với định nghĩa rõ ràng và các biện pháp, phương hướng thực hiện cụ thể và một số cơ chế hỗ trợ thực hiện, Việt Nam đã có những nền tảng pháp lý đầu tiên để thúc đẩy, quản lý việc thực hiện mô hình kinh tế tuần hoàn. Điều này đã giúp Việt Nam có điều kiện để bắt kịp với xu thế thế giới và khuyến nghị của Liên hợp quốc về phát triển bền vững. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một khách quan thì chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn của Việt Nam vẫn mang những hạn chế, thiếu sót đáng kể mà nếu không sớm khắc phục thì không thể triển khai mô hình này một cách thuận lợi, đi vào thực tiễn được.

Thứ nhất, quy định pháp luật về kinh tế tuần hoàn còn phân tán, thiếu đồng bộ.

Như đã đề cập ở phần trên, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã chính thức ghi nhận về kinh tế tuần hoàn và khẳng định đây là chính sách phát triển quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Việc quy định về kinh tế tuần hoàn trực tiếp trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cho thấy tầm quan trọng của định hướng xây dựng kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam là một chính sách xuyên suốt thống nhất và đồng bộ. Tuy nhiên kinh tế tuần hoàn là một mô hình phát triển kinh tế còn khá mới mẻ, việc chuyển đổi gặp nhiều khó khăn, thách thức nên cần có hệ thống chính sách và công cụ thúc đẩy mang tính toàn diện, đồng bộ, với lộ trình, mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cần thiết phải được quy định chi tiết và đầy đủ. Trong khi đó, các quy định về kinh tế tuần hoàn hiện tại ở Việt Nam mới dừng lại ở mức độ khung, chưa có dẫn chiếu đến các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trước đó để tạo ra hành lang pháp lý đồng bộ cho việc phát triển mô hình kinh tế này ở Việt Nam hiện nay[2].

Ngoài ra, theo tác giả Lại Văn Mạnh và Phạm Anh Huyền trong bài nghiên cứu “Kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam”[3] thì một số công cụ chính sách, chẳng hạn như đầu tư công, quyền lợi của người tiêu dùng, thuế giá trị gia tăng và thuế bảo vệ môi trường, chưa được đồng bộ để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và bền vững trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Các công cụ này cũng chưa tạo ra áp lực tài chính và động lực thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và người tiêu dùng để thực hiện các mục tiêu của nền kinh tế tuần hoàn. Ví dụ, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) năm 2020 quy định lĩnh vực thu gom, xử lý, tái chế hoặc tái sử dụng chất thải là ngành nghề được ưu đãi đầu tư; Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng đưa xử lý nước thải, chất thải là các hoạt động đầu tư kinh doanh về bảo vệ môi trường được hưởng ưu đãi hỗ trợ, nhưng đến nay vẫn chưa có các quy định cụ thể để áp dụng trên thực tế[4].

Thứ hai, quy định pháp luật về kinh tế tuần hoàn còn thiếu cơ chế bảo đảm áp dụng và thực thi hiệu quả trên thực tế.

Mặc dù kinh tế tuần hoàn đã được luật hóa nhưng cơ chế bảo đảm thực thi pháp luật về kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam hiện nay còn chưa đầy đủ và hiệu quả. Pháp luật thiếu các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận hiệu quả với các chính sách ưu đãi, hỗ trợ về bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định về cơ chế quản lý việc thực thi chưa được rõ ràng, cụ thể, chỉ dừng lại ở việc phối hợp xây dựng, ban hành khung hướng dẫn áp dụng, đánh giá việc thực hiện trong khi vấn đề kiểm tra, giám sát hoạt động của các chủ thể và chế tài xử phạt các hành vi vi phạm quy định kinh tế tuần hoàn chưa được đề cập đến. Ngoài ra, một thiếu sót quan trọng nữa là việc không có quy định về một cơ quan, tổ chức chuyên trách đứng ra triển khai, thực thi các kế hoạch về kinh tế tuần hoàn[5].

Thứ ba, chưa có quy định về việc tuyên truyền pháp luật, giáo dục nhận thức cho người dân về kinh tế tuần hoàn.

Về phương diện phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức cộng đồng, thực trạng tại Việt Nam hiện nay cho thấy sự tồn tại của một hệ thống quy định khung tương đối đầy đủ nhưng hiệu quả thực thi trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập. Hoạt động này được triển khai dựa trên nền tảng của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và các kế hoạch tổ chức thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, với một bước tiến cụ thể là sự ra đời của Mạng lưới kinh tế tuần hoàn Việt Nam (VCEP) theo quy định tại Điều 139 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP nhằm kết nối thông tin và chia sẻ dữ liệu về các mô hình áp dụng trong thực tế. Tuy nhiên, công tác tuyên truyền về kinh tế tuần hoàn thường bị coi nhẹ hoặc triển khai thiếu tính hệ thống, dẫn đến hệ quả là một bộ phận không nhỏ người dân và doanh nghiệp vẫn chưa có nhận thức đầy đủ về những tác động tích cực của mô hình này đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và bảo vệ môi trường. Sự thiếu vắng các quy định mang tính đặc thù về nội dung giáo dục bắt buộc tại tất cả các cấp học, cùng với việc hoạt động truyền thông chủ yếu mới chỉ tập trung tại một số thành phố lớn, đã khiến cho tiến trình phát triển kinh tế tuần hoàn bị kìm hãm đáng kể. Do đó, dù các chính sách pháp luật đã bước đầu được luật hóa, nhưng việc thiếu hụt các cơ chế bảo đảm thực thi rõ ràng, chế tài xử phạt và kinh phí chuyên biệt cho công tác phổ biến đã khiến nhận thức cộng đồng chưa đạt được sự chuyển biến mạnh mẽ như kỳ vọng[6].

Những hạn chế về chính sách pháp luật nói trên cùng với một số khó khăn trên thực tế khác như việc sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường vẫn chưa phổ biến, cơ sở hạ tầng về môi trường còn hạn chế đã khiến cho công cuộc phát triển kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam bị kìm hãm một cách đáng kể. Theo thống kê của Ngân hàng thế giới (World Bank) vào năm 2022, các chỉ số về khuyến khích áp dụng kinh tế tuần hoàn như Chỉ số Sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index), Chỉ số quản trị (Governance Indicator), Chỉ số Hiệu suất môi trường (Environmental Performance Index) chỉ xếp lần lượt thứ 44 và 144 thế giới[7]. Để có thể cải thiện được điều này thì cần nghiên cứu, học tập chính sách về kinh tế tuần hoàn của một số quốc gia phát triển về lĩnh vực này.

3. Chính sách pháp luật tại một số quốc gia

3.1. Chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc

Tháng 8 năm 2008, thời điểm mà chưa nhiều quốc gia có đạo luật dành riêng cho kinh tế tuần hoàn, nước này đã ban hành Luật Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn (Circular Economy Promotion Law). Mục đích của đạo luật này là nhằm thúc đẩy kinh tế tuần hoàn để tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường và đạt được phát triển bền vững. Đạo luật này bao gồm 07 chương[8].

Có thể thấy, Luật Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn Trung Quốc nhấn mạnh vai trò của chính phủ, doanh nghiệp và công chúng trong việc thúc đẩy kinh tế tuần hoàn thông qua lập kế hoạch toàn diện, nghiên cứu khoa học và tham gia của công chúng. Luật yêu cầu giảm thiểu, tái chế và phục hồi tài nguyên trong các ngành và hỗ trợ phát triển công nghệ và hợp tác quốc tế để đạt được các mục tiêu này[9].

Sự hiệu quả của Luật Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn Trung Quốc đã được chứng minh một cách thành công qua kết quả thu được từ thực tiễn thực hiện kinh tế tuần hoàn. Sau gần hai thập kỷ áp dụng, chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc đã mang lại nhiều kết quả rõ rệt. Năng suất sử dụng tài nguyên tại nước này đã tăng 26% từ năm 2015 đến năm 2020, mức tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tiếp tục giảm mạnh, và mức tiêu thụ nước trên mỗi đơn vị GDP giảm 28%[10]. Theo dự báo trong tương lai, phát triển kinh tế tuần hoàn sẽ giúp Trung Quốc tiết kiệm 5,1 nghìn tỷ USD (chiếm 14% GDP) vào năm 2030, và 11,2 nghìn tỷ USD (chiếm 16% GDP dự kiến) vào năm 2040[11].

3.2. Chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn tại EU

Khác với Trung Quốc, định hướng xây dựng chính sách pháp luật của Liên minh châu Âu (EU) không tiến tới xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất về kinh tế tuần hoàn mà chỉ có một văn bản về kế hoạch thực hiện kinh tế tuần hoàn, có tên là Kế hoạch hành động kinh tế tuần hoàn (Circular Economy Action Plan - CEAP) được ban hành vào năm 2020 bởi Ủy ban Châu Âu[12]. Văn bản này công bố các sáng kiến, biện pháp nhằm thực hiện kinh tế tuần hoàn. Nó nhắm đến việc thiết kế các sản phẩm một cách bền vững, khuyến khích tiêu dùng bền vững và nhằm đảm bảo rằng chất thải được ngăn chặn và các nguồn tài nguyên thiên nhiên được sử dụng trong nền kinh tế EU lâu nhất có thể.

Thay vào đó, EU ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau để điều chỉnh các khía cạnh khác nhau của kinh tế tuần hoàn. Một số văn bản quan trọng có thể kể ra bao gồm:

Chỉ thị Khung về Chất thải (Waste Framework Directive), ban hành vào năm 2008, sửa đổi bổ sung vào năm 2023 bởi Nghị viện châu Âu (European Union). Văn bản này đặt ra các khái niệm và định nghĩa cơ bản liên quan đến quản lý chất thải, chẳng hạn như định nghĩa về chất thải, tái chế và thu hồi. Nó cũng bao gồm một hệ thống phân cấp chất thải ưu tiên ngăn ngừa, tái sử dụng, tái chế và các phương pháp thu hồi khác trước khi xử lý[13].

Quy định về Thiết kế sinh thái cho Sản phẩm Bền vững (Ecodesign for Sustainable Products Regulation - ESPR), được ban hành bởi Nghị viện Châu Âu và có hiệu lực vào năm 2024. Văn bản này chứa các nội dung về nhằm đảm bảo các sản phẩm trong thị trường EU đáp ứng tiêu chuẩn về kinh tế tuần hoàn, bao gồm: Thiết kế Bền vững (Sản phẩm phải bền, có thể tái sử dụng, sửa chữa, nâng cấp, tái chế và tiết kiệm năng lượng); Giảm Tác động Môi trường (Giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường và lượng khí thải carbon của sản phẩm); Hiệu quả Tài nguyên (Thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả tài nguyên và vật liệu, giảm thiểu chất thải và tăng cường sử dụng nguyên liệu tái chế); Hộ chiếu Sản phẩm Kỹ thuật số (Áp dụng hộ chiếu kỹ thuật số cung cấp thông tin về tính bền vững của sản phẩm để hỗ trợ người tiêu dùng và các nỗ lực tái chế)[14].

Chỉ thị về Nhựa dùng một lần (Directive on single-use plastics) ban hành bởi Nghị viện Châu Âu năm 2019, là quy định nhằm giảm tác động của một số sản phẩm nhựa lên môi trường, đặc biệt là rác thải biển. Nó bao gồm các biện pháp cấm một số mặt hàng nhựa dùng một lần, giảm tiêu thụ các mặt hàng khác và cải thiện quản lý chất thải và thực hành tái chế[15].

Chỉ thị về rác thải là thiết bị điện và điện tử (Waste from Electrical and Electronic Equipment Directive), được ban hành bởi Nghị Viện Châu Âu năm 2012, là văn bản điều chỉnh việc thu gom, tái chế và thu hồi các thiết bị điện tử. Nó bao gồm các quy định về giảm lượng rác thải điện tử và thúc đẩy quản lý môi trường lành mạnh đối với các thiết bị điện và điện tử vào cuối vòng đời của chúng[16].

Chỉ thị về Bao bì và Chất thải Bao bì (packaging and packaging waste directive) được ban hành vào năm 1994, sửa đổi lần gần nhất vào năm 2018 bởi Nghị viện Châu Âu. Mục đích của việc ban hành văn bản này là nhằm giảm tác động môi trường của bao bì và chất thải bao bì. Văn bản đưa ra các quy định về mục tiêu tái chế và khuyến khích thiết kế bao bì có thể tái sử dụng hoặc tái chế.

Chỉ thị về Pin (Batteries Directive) được ban hành vào năm 2023 bởi Nghị viện Châu Âu. Văn bản này quy định việc sản xuất và xử lý pin trong EU. Nó đặt ra các giới hạn về việc sử dụng một số chất nguy hại trong pin và ắc quy, và thúc đẩy việc thu gom, xử lý, tái chế và xử lý pin một cách thân thiện với môi trường[17].

Các văn bản quy phạm pháp luật nói trên là các bộ phận trong chiến lược của liên minh châu âu nhằm chuyển đổi nền kinh tế của khối từ mô hình kinh tế truyển thống sang mô hình kinh tế tuần hoàn, không chỉ nhằm giảm tác động môi trường mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới và tạo việc làm trong các ngành liên quan đến sản xuất bền vững.

Mặc dù không có một đạo luật thống nhất về kinh tế tuần hoàn như Trung Quốc nhưng chúng ta có thể thấy chính sách pháp luật của EU về vấn đề này khá toàn diện, đầy đủ, bao quát được các khía cạnh quan trọng của kinh tế tuần hoàn, từ quy định về thiết kế và sản xuất sản phẩm một cách bền vững cho đến quy định về tái chế các loại rác thải, đặc biệt là các loại rác thải nguy hại như pin, thiết bị điện, điện tử. EU không có quy định chung về hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về kinh tế tuần hoàn mà trao quyền quy định mức xử phạt cho từng quốc gia thành viên, để đảm bảo mức phạt phù hợp với điều kiện của từng quốc gia và có tính răn đe hiệu quả. Nhìn chung, mô hình chính sách pháp luật của EU về kinh tế tuần hoàn phù hợp đối với một khu vực liên chính phủ như tổ chức này thay vì mô hình chỉ áp dụng cho một quốc gia. Chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn của EU dù mới áp dụng trong thời gian chưa lâu nhưng đã mang lại những hiệu quả bước đầu. Năm 2022, tỷ lệ tuần hoàn sử dụng vật liệu trong EU là 11,5%, tăng 3,3 điểm phần trăm (pp) so với năm 2004 và cao hơn nhiều khu vực khác trên thế giới trong cùng thời điểm[18]. Sản xuất điện từ nhiên liệu hóa thạch ở Châu Âu đã giảm 19% vào năm 2023 so với năm 2022[19]. Theo một nghiên cứu của Công ty McKindsey, việc áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn sẽ tạo ra lợi ích từ tài nguyên chính lên đến 0,6 nghìn tỷ euro mỗi năm cho các nền kinh tế Châu Âu vào năm 2030. Ngoài ra, nó sẽ tạo ra 1,2 nghìn tỷ euro từ các lợi ích phi tài nguyên và ngoại tác, nâng tổng lợi ích hàng năm lên khoảng 1,8 nghìn tỷ euro so với hiện tại[20].

4. Một số đề xuất nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam

Dựa trên kinh nghiệm từ việc xây dựng chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn của Trung Quốc và Liên minh Châu Âu cùng điều kiện thực tiễn của Việt Nam, bài viết đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam như sau:

Thứ nhất, Việt Nam cần ban hành Luật Khuyến khích kinh tế tuần hoàn.

Để có một cơ chế thúc đẩy kinh tế tuần hoàn thống nhất, hiệu quả, giải quyết được tình trạng phân tán, rời rạc, chưa cụ thể của các quy định về kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam hiện nay, việc xây dựng và ban hành Luật Khuyến khích kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam theo kinh nghiệm của Trung Quốc là vô cùng cần thiết. Cụ thể, những nội dung về chính sách thúc đẩy kinh tế tuần hoàn sẽ được cơ quan có thẩm quyền xây dựng trên cơ sở kế thừa những quy định có liên quan về kinh tế tuần hoàn ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như Luật Bảo vệ môi trường, các nghị định hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường, đồng thời bổ sung thêm những nội dung cần thiết khác.

Về mặt nội dung, Luật này sẽ bao gồm những quy định chung như khái niệm, nguyên tắc thực hiện kinh tế tuần hoàn, trách nhiệm, quyền hạn của bộ, ngành, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong phát triển kinh tế tuần hoàn. Luật cũng sẽ quy định chi tiết về những chính sách, dự án mọi mặt để phát triển kinh tế tuần hoàn về đầu tư, thương mại, đất đai, tài chính,... cùng như những trách nhiệm đặc thù ở phương diện kinh tế, quản lý hành chính, tiêu chí đánh giá hệ thống và cơ chế hỗ trợ, khuyến khích cho các chủ thể có hoạt động gắn với kinh tế tuần hoàn như ưu đãi về thuế hay khen thưởng về các đóng góp cho việc phát triển kinh tế tuần hoàn. Luật cần quy định đầy đủ các biện pháp thực thi chính sách kinh tế tuần hoàn ở các lĩnh vực cần thiết như chính sách pháp luật của EU, bao gồm quy định về xử lý các loại rác thải, quy định về thiết kế sinh thái và bền vững cho các sản phẩm, quy định về vật liệu bền vững,... Khi xây dựng Luật Khuyến khích phát triển kinh tế tuần hoàn thì các nhà lập pháp cần lưu ý đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ của luật này đối với hệ thống pháp luật hiện hữu tại Việt Nam cũng như các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.

Thực hiện được đề xuất này thì chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn của Việt Nam sẽ trở nên toàn diện hơn, bao quát được các khía cạnh cần thiết cho việc phát triển kinh tế tuần hoàn, tạo thuận lợi cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân khác trong việc nắm bắt, tuân thủ và thực thi chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn.

Thứ hai, cần bổ sung quy định cơ chế bảo đảm thực thi chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn.

Cơ chế bảo đảm thực thi ở đây chính là chế tài đối với các hành vi vi phạm các chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn. Nội dung này sẽ tương tự như nội dung chương VI Luật thúc đẩy kinh tế tuần hoàn Trung Quốc và sẽ là một phần của dự luật khuyến khích kinh tế tuần hoàn đã đề cập ở đề xuất đầu tiên. Nội dung này cần có đầy đủ quy định về hành vi vi phạm, mức phạt, cơ quan có thẩm quyền xử phạt và các quy định cần thiết khác. Nội dung này cần tương thích với quy định chung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính của Việt Nam hiện tại. Ngoài ra, cần có quy định cụ thể, chi tiết về các chính sách kinh tế tuần hoàn hiện có, để đảm bảo các chính sách này có khả năng thực thi trên thực tế. Trong đó, cần ưu tiên các chính sách về ưu đãi, về tái chế và xử lý rác thải.

Thứ ba, cần có các quy định về tuyên truyền, phổ biến kiến thức về kinh tế tuần hoàn.

Như đã đề cập ở phần thực trạng, nhận thức của một bộ phận không nhỏ người dân, doanh nghiệp về kinh tế tuần hoàn vẫn còn rất hạn chế, thậm chí là chưa có. Trong khi đó, hoạt động tuyên truyền về kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam chưa nhiều, chỉ xuất hiện ở một số thành phố lớn. Người dân, doanh nghiệp cần phải có nhận thức đầy đủ về kinh tế tuần hoàn thì việc áp dụng mô hình này mới có thể diễn ra thuận lợi và có hiệu quả, ngay từ những công việc nhỏ hằng ngày như phân loại rác tại nguồn, tái sử dụng các sản phẩm có khả năng tái sử dụng hay lựa chọn mua các sản phẩm đạt tiêu chuẩn về kinh tế tuần hoàn. Nội dung các quy định về tuyên truyền, phổ biến kiến thức kinh tế tuần hoàn bao gồm cơ quan có trách nhiệm thực hiện, quản lý công tác tuyên truyền, kinh phí từ ngân sách nhà nước bố trí cho công tác tuyên truyền, các hình thức tuyên truyền và việc đưa kinh tế tuần hoàn vào chương trình giáo dục bắt buộc tại tất cả các cấp học. Do đó, quy định về tuyên truyền, phổ biến kiến thức kinh tế tuần hoàn không chỉ nằm trong Luật Khuyến khích kinh tế tuần hoàn như đề xuất đầu tiên mà còn cả ở các văn bản quy phạm pháp luật về công tác tuyên truyền và giáo dục.

Một ví dụ tiêu biểu về giải pháp này là sự ra đời của Mạng lưới kinh tế tuần hoàn Việt Nam. Đây là một nền tảng trực tuyến nhằm kết nối thông tin, chia sẻ dữ liệu về áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam, theo Điều 139, Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường 2020[21].

Các giải pháp nêu trên cần phải được thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả, trong đó ưu tiên việc xây dựng Luật Khuyến khích Kinh tế tuần hoàn trước để làm nền tảng, sau đó dần dần xây dựng các quy định về cơ chế bảo đảm thực thi, tuyên truyền giáo dục xung quanh nền tảng đó.

Kết luận

Bài viết này đã làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế tuần hoàn, từ lịch sử hình thành, định nghĩa, nội hàm cho đến ý nghĩa của việc áp dụng nó. Bài viết cũng đã khái quát, đánh giá chính sách pháp luật về kinh tế tuần hoàn của hai quốc gia, khu vực được xem là có nhiều thành công trong áp dụng mô hình này là Trung Quốc và Liên minh Châu Âu. Quan trọng nhất, bài viết đã nêu ra thực trạng chính sách phát luật về kinh tế tuần hoàn của Việt Nam và đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện chúng. Có thể nói nền kinh tế tuần hoàn chính là tương lai của nhân loại, Việt Nam cần nhanh chóng có các giải pháp để xây dựng, phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn của chính mình vì một nền kinh tế bền vững.

 

NGUYỄN HÙNG (Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung)

Danh mục tài liệu tham khảo

1. Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

2. Quyết định số 192/QĐ-TTg ngày 13/02/2017 về đề án “Phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam đến năm 2025”.

3. Quyết định số 889/2021/QĐ-TTg ngày 24/6/2020 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021 - 2030.

4. Quyết định số 280/2019/QĐ-TTg ngày 13/3/2019 phê duyệt Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 - 2030.

5. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

6. Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

7. Lê Hải Đường, Đỗ Tiến Dũng, “Kinh nghiệm xây dựng, hoàn thiện pháp luật về kinh tế tuần hoàn ở một số nước trên thế giới và đề xuất cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 11 (459), 2022, tr.48.

8. Châu An, Kinh tế tuần hoàn - Hướng phát triển bền vững cho doanh nghiệp, https://moit.gov.vn/phat-trien-ben-vung/kinh-te-tuan-hoan-thuc-day-cho-chien-luoc-san-xuat-va-tieu-dung-ben-vung.html.

9. Bùi Thị Hoàng Lan, Phát triển kinh tế tuần hoàn ở một số quốc gia và bài học cho Việt Nam, Tạp chí Tài chính, kỳ 2 tháng 12/2020.

10. Bùi Xuân Dũng, Kinh nghiệm thực hiện mô hình kinh tế tuần hoàn ở một số quốc gia và gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 22 (740)/2020.

11. Đinh Đức Trường, Lê Hà Thanh, “Quan hệ giữa chất lượng tăng trưởng kinh tế và quản lí sử dụng tài nguyên thiên nhiên: Hàm ý chính sách cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa học xã hội và nhân văn 28 (2012), 266-274.

12. Ellen MacArthur Foundation (2015), Report on Circular economy

13. Pearce, D., & Turner, R. K. (1990). Economics of natural resources and the environment. Baltimore: Johns Hopkins University Press.

14. Zvonimira S.G., Marinela K.N., Elena R. (2020). Circular Economy Concept in the Context of Economic Development in EU Countries. Sustainability 2020, 12, 3060; doi:10.3390/su12073060.

15. European Environment Agency (2016). Circular Economy in Europe - Developing the knowledge base. EEA Report No. 2/2016.

[1] Carlos Andrade, Sandrine Selosse, Nadia Maïzi. Thirty years since the circular economy concept emerged: has it reached a consensus. [Research Report] Working Paper 2021-02-30, Chaire Modélisation prospective au service du développement durable. 2021, pp.27 - Les Cahiers de la Chaire. 2021. ffhal-03512799f.

[2] TS. Lại Văn Mạnh, “Hoàn thiện pháp luật về kinh tế tuần hoàn khi thực hiện các cam kết bảo vệ môi trường trong EVFTA”, https://khoamoitruongdothi.neu.edu.vn/vi/tin-tuc-1604/hoan-thien-phap-luat-ve-kinh-te-tuan-hoan-khi-thuc-hien-cac-cam-ket-bao-ve-moi-truong-trong-evfta

[4] Diệu Thiện, “Gỡ “rào cản” để thu hút tư nhân tham gia đầu tư xử lý nước thải, chất thải”, http://baokiemtoan.vn/go-rao-can-de-thu-hut-tu-nhan-tham-gia-dau-tu-xu-ly-nuoc-thai-chat-thai-18859.html

[5] Trần Linh Huân, Lê Thị Châu Giang, Phạm Thị Hồng Tâm, Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện, https://tapchinganhang.gov.vn/phat-trien-kinh-te-tuan-hoan-o-viet-nam-thuc-trang-va-mot-so-kien-nghi-hoan-thien-10563.html.

[6] Trần Linh Huân, Lê Thị Châu Giang, Phạm Thị Hồng Tâm, Tlđd.

[7] Manh L.V. and A.H. Pham (2023), 'The Circular Economy in Viet Nam', in Kimura, F. et al (eds.), Viet Nam 2045: Development Issues and Challenges, Jakarta: ERIA, pp. 499-552, https://www.eria.org/uploads/media/Books/2023-VietNam-2045/21_ch.17-Circular-Economy.pdf

[11] Huỳnh Văn Khải, Kinh nghiệm phát triển kinh tế tuần hoàn ở một số quốc gia trên thế giới và liên hệ với Việt Nam, https://tapchicongthuong.vn/kinh-nghiem-phat-trien-kinh-te-tuan-hoan-o-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-va-lien-he-voi-viet-nam-102059.htm.

[12] Kế hoạch hành động về kinh tế tuần hoàn (CEAP) trong Thỏa thuận Xanh EU, https://trungtamwto.vn/chuyen-de/25071-ke-hoach-hanh-dong-ve-kinh-te-tuan-hoan-ceap-trong-thoa-thuan-xanh-eu.

[14] REGULATION (EU) 2024/1781 OF THE EUROPEAN PARLIAMENT AND OF THE COUNCIL, https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=CELEX%3A32024R1781&qid=1719580391746.

[19] The Path Towards a Successful Circular Economy in Europe,

https://www.eubusinessnews.com/the-path-towards-a-successful-circular-economy-in-europe/.

[21] Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và môi trường, Kinh tế tuần hoàn là gì?, https://vietnamcirculareconomy.vn/ve-chung-toi/.

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.