Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Phục hồi, phá sản

Để áp dụng đúng và thống nhất quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 và khoản 3 Điều 22, Điều 24, Điều 25, khoản 2 Điều 38, Điều 39, Điều 44, Điều 49, Điều 55, Điều 58, Điều 60, Điều 68, Điều 70, Điều 72, khoản 1 Điều 88 của Luật Phục hồi, phá sản, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 02/2026/NQ-HĐTP ngày 17 tháng 4 năm 2026 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Phục hồi, phá sản (sau đây gọi chung là Nghị quyết).

Nghị quyết này được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 4 năm 2026 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2026, gồm 15 Điều quy định hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Phục hồi, phá sản. Theo đó,

Việc thành lập Ban đại diện chủ nợ quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Phục hồi, phá sản được Nghị quyết hướng dẫn cụ thể như sau:

- Sau khi thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, Tòa án xem xét, quyết định việc thành lập hoặc không thành lập Ban đại diện chủ nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Phục hồi, phá sản.

Tòa án không thành lập Ban đại diện chủ nợ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+  Vụ việc phục hồi, phá sản được giải quyết theo thủ tục rút gọn;

+  Chủ nợ đại diện cho từ 65% tổng số nợ trở lên tại thời điểm thành lập Ban đại diện chủ nợ có văn bản đề nghị không thành lập; 

+ Vụ việc phục hồi, phá sản có từ 05 chủ nợ trở xuống.

- Ban đại diện chủ nợ trong vụ việc phục hồi, phá sản được chọn trong số các chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, chủ nợ không có bảo đảm.

- Ban đại diện chủ nợ có 03 hoặc 05 thành viên gồm chủ nợ có số nợ lớn, chủ nợ đại diện cho nhóm chủ nợ có số nợ lớn của doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập theo quyết định của Tòa án.

+ Chủ nợ có số nợ lớn là một trong số các chủ nợ có số nợ lớn nhất được sắp xếp theo thứ tự có số nợ từ cao xuống thấp trong danh sách chủ nợ, nhóm chủ nợ.

+ Nhóm chủ nợ là tập hợp từ hai chủ nợ trở lên cùng thống nhất bằng văn bản lập thành nhóm chủ nợ và cử 01 chủ nợ đại diện cho nhóm chủ nợ đó.

+ Nhóm chủ nợ có số nợ lớn là một trong số các nhóm chủ nợ có tổng số nợ của các chủ nợ trong nhóm lớn nhất được sắp xếp theo thứ tự có số nợ từ cao xuống thấp trong danh sách chủ nợ, nhóm chủ nợ.

- Các thành viên Ban đại diện chủ nợ bầu 01 Trưởng ban và 01 Phó Trưởng ban. Ban đại diện chủ nợ xem xét, thảo luận tập thể và quyết định theo đa số.

Về áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn quy định tại Điều 68 của Luật Phục hồi, phá sản

- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc có trách nhiệm xem xét hồ sơ, tài liệu và ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn khi doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Doanh nghiệp, hợp tác xã có từ 20 chủ nợ không có bảo đảm trở xuống và có tổng các khoản nợ gốc phải thanh toán từ 10 tỷ đồng trở xuống tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu;

+ Doanh nghiệp nhỏ hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu.

Hợp tác xã nhỏ hoặc hợp tác xã siêu nhỏ theo quy định của pháp luật về hợp tác xã tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu;

+ Trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

- Quyết định áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn phải được gửi cho doanh nghiệp, hợp tác xã, các chủ nợ có liên quan và các chủ thể khác theo quy định của pháp luật.

- Người nộp đơn có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh về điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn.

- Trong quá trình giải quyết theo thủ tục phục hồi rút gọn, nếu phát sinh tình tiết mới hoặc có căn cứ xác định doanh nghiệp, hợp tác xã không còn đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ việc sang giải quyết theo thủ tục phục hồi thông thường.

- Quyết định chuyển đổi thủ tục phải được thông báo kịp thời cho các chủ thể có liên quan theo quy định của pháp luật.

Nghị quyết cũng ban hành một số biểu mẫu cụ thể sau đây:

- Mẫu số 01: Đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi doanh nghiệp/hợp tác xã;

- Mẫu số 02: Đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản doanh nghiệp/hợp tác xã;

- Mẫu số 03: Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

- Mẫu số 04: Thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi;

- Mẫu số 05: Thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản;

- Mẫu số 06: Quyết định mở thủ tục phá sản;

- Mẫu số 07: Quyết định giải quyết tranh chấp;

- Mẫu số 08: Thông báo kết quả hòa giải thành;

- Mẫu số 09: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên.

 

Bên cạnh đó, Nghị quyết còn quy định về chuyển tiếp quy định tại Điều 88 của Luật Phục hồi, phá sản và hiệu lực thi hành của Nghị quyết

- Về điều khoản chuyển tiếp quy định tại Điều 88 của Luật Phục hồi, phá sản

+ Vụ việc phá sản đã được Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý, giải quyết theo Luật Phá sản số 51/2014/QH13, Luật số 85/2025/QH15 và Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân thì Tòa án đó tiếp tục giải quyết theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 và văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 88 của Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 và hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều này.

Các trình tự, thủ tục đã thực hiện, văn bản đã được ban hành trước ngày 01 tháng 3 năm 2026 (ngày Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 có hiệu lực thi hành) theo đúng quy định của Luật Phá sản số 51/2014/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 85/2025/QH15 thì không áp dụng quy định của Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 để thực hiện lại hoặc sửa đổi, bổ sung, thay thế.

+ Trường hợp Cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản trước ngày 01 tháng 3 năm 2026 nhưng đến ngày 01 tháng 3 năm 2026 mà chưa thi hành xong nhưng có đề nghị, kiến nghị xem xét lại, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì áp dụng quy định tại Điều 112 và Điều 113 của Luật Phá sản số 51/2014/QH13 để giải quyết đề nghị, kiến nghị xem xét lại, kháng nghị đối với quyết định tuyên bố phá sản đó.

+ Trường hợp Tòa án huỷ quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết lại theo hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều này thì khi giải quyết lại vụ việc phá sản, Tòa án áp dụng Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 để giải quyết.

+ Trường hợp Cơ quan thi hành án dân sự chưa tổ chức thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản trước ngày 01 tháng 3 năm 2026 thì áp dụng Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 để thi hành.

 

 

 

Hoài Ngân