Một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết việc dân sự và kiến nghị, đề xuất

Trong phạm vi bài viết, nhóm tác giả xin phân tích một số khó khăn, vướng mắc xuất phát từ thực tiễn giải quyết việc dân sự, từ đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập còn tồn tại, góp phần hoàn thiện các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh đất nước ngày càng phát triển như hiện nay, các quan hệ xã hội phát sinh ngày càng đa dạng, phức tạp với các chủ thể tham gia ngày càng nhiều về số lượng và phong phú về thành phần. Có những quan hệ xã hội phát sinh tranh chấp gay gắt cần phải giải quyết bằng bản án của Tòa án thông qua việc khởi kiện, cũng có những quan hệ chỉ cần một quyết định có hiệu lực của Tòa án như công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý cũng là căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan thông qua thủ tục yêu cầu giải quyết việc dân sự.

Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định: “Việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”.

Giải quyết việc dân sự có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, giữ vững ổn định xã hội và củng cố niềm tin vào công lý. Quy trình này giúp các bên tham gia nhanh chóng xác nhận quyền lợi, tiết kiệm chi phí, thời gian và các nguồn lực khác. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết việc dân sự có trường hợp cần phải thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ làm cơ sở cho việc giải quyết yêu cầu của đương sự nhưng việc các quy định của BLTTDS vẫn chưa bao trùm hết các trường hợp xảy ra trong thực tế, từ đó cần phải đưa ra nghiên cứu, tìm giải pháp.

2. Quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu và vấn đề về chuyển từ việc dân sự sang vụ án dân sự

Theo quy định tại Điều 366 của BLTTDS, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự là 01 tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu, trừ trường hợp có quy định khác như thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu, thời hạn giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động của Trọng tài thương mại Việt Nam, thời hạn xét đơn yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án...

Ngoài thời hạn nêu trên thì Tòa án có thể kéo dài thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu tối đa thêm 01 tháng trong trường hợp chưa có kết quả giám định, định giá tài sản. Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự chỉ tối đa được 02 tháng. So sánh với thời hạn chuẩn bị xét xử các loại án trong BLTTDS thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự chỉ bằng thời hạn chuẩn bị xét xử án lao động, kinh doanh thương mại khi chưa gia hạn, bằng 1/2 thời hạn chuẩn bị xét xử án dân sự, hôn nhân gia đình khi chưa gia hạn. Việc quy định như vậy là do bản chất của việc dân sự đã là một sự kiện pháp lý có thật, được các bên thừa nhận, không có tranh chấp, Tòa án chỉ đóng vai trò xác nhận một tình trạng pháp lý dựa trên yêu cầu của đương sự.

Bên cạnh đó, có nhiều trường hợp ban đầu đương sự yêu cầu công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nhưng trong quá trình thụ lý giải quyết phát sinh nhiều vấn đề có liên quan đến yêu cầu của đương sự, phát sinh ý kiến không thống nhất hoặc yêu cầu của đương sự khác đối lập với yêu cầu ban đầu thì điều luật lại không quy định cụ thể cách giải quyết, gây lúng túng cho Thẩm phán khi vừa muốn giải quyết toàn diện, đầy đủ các yêu cầu vừa không muốn kéo dài thời gian, tốn kém các chi phí tố tụng liên quan.

3. Một số khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị

3.1. Về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu

Như phân tích nêu trên, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu theo quy định tại Điều 366 BLTTDS năm 2015 tối đa là 02 tháng. Thực tế, có những việc dân sự mặc dù đã rõ về các tình tiết, sự kiện, tuy nhiên để Tòa án ban hành được một quyết định giải quyết việc dân sự có căn cứ, đúng quy định pháp luật thì cần rất nhiều những yếu tố nội dung khác mà ngay trong đơn yêu cầu giải quyết của đương sự và các tài liệu kèm theo không đáp ứng được, từ đó đặt ra yêu cầu là cần có thêm thời gian nghiên cứu, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ nhưng thời hạn quy định của luật còn khá hạn chế.

Điều 27 BLTTDS quy định các nhóm yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, tuy nhiên, một số nhóm yêu cầu có tính chất phức tạp không kém những vụ án phát sinh do có tranh chấp, cần phải tiến hành nhiều biện pháp thu thập chứng cứ để có cơ sở giải quyết.

Thực tiễn phát sinh trường hợp, thời hạn để thu thập tài liệu, chứng cứ kéo dài (vượt quá thời gian 02 tháng), từ đó làm ảnh hưởng đến quá trình xem xét giải quyết việc dân sự, do vi phạm quy định về thời hạn luật định.

Điều 361 BLTTDS quy định phạm vi áp dụng các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự như sau: “…Những quy định của Phần này được áp dụng để giải quyết việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27, các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29, các khoản 1, 2, 3 và 6 Điều 31, các khoản 1, 2 và 5 Điều 33 của Bộ luật này. Trường hợp Phần này không quy định thì áp dụng những quy định khác của Bộ luật này để giải quyết việc dân sự”. Như vậy, BLTTDS cho phép việc áp dụng các quy định khác của Bộ luật này để giải quyết việc dân sự trong trường hợp Phần thứ sáu – Thủ tục giải quyết việc dân sự không có quy định. Vấn đề đặt ra là, vậy có được áp dụng quy định liên quan đến thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự vào việc giải quyết việc dân sự hay không? Do chưa có quy định cụ thể, rõ ràng dẫn đến thực tiễn giải quyết, Thẩm phán cũng gặp phải những một số khó khăn, vướng mắc khi áp dụng pháp luật.

Ví dụ: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố con gái bà là chị Lê Ngọc L có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Để có cơ sở giải quyết yêu cầu này thì Tòa án phải có kết quả trưng cầu giám định pháp y tâm thần của cơ quan chuyên môn chứ không chỉ căn cứ vào các tài liệu khám, điều trị bệnh trước đó của chị L. Thực tế do các biểu hiện tâm thần của chị L không rõ ràng, thường xuyên nên cơ quan thực hiện giám định phải mất nhiều thời gian nghiên cứu hồ sơ bệnh án đồng thời lưu giữ đối tượng giám định một thời gian dẫn đến thời gian giám định tâm thần kéo dài vượt quá thời gian chuẩn bị giải quyết việc dân sự.

Trong trường hợp này, Phần thứ sáu của BLTTDS về thủ tục giải quyết việc dân sự không quy định Thẩm phán phải thực hiện những nội dung gì khi hết thời hạn tối đa 02 tháng chuẩn bị xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, các quy định về giải quyết vụ án thì rất rõ ràng, cụ thể.

Tại Điều 214 BLTTDS quy định Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

“…

đ) Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án.”

Khoản 2 Điều 97 BLTTDS quy định trưng cầu giám định là một trong các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ mà Tòa án thực hiện. Trong quyết định trưng cầu giám định, Tòa án đã nêu nội dung cần trưng cầu giám định và yêu cầu cơ quan thực hiện giám định có trách nhiệm cung cấp kết luận giám định cho Tòa án. Do đó khi giải quyết vụ án dân sự, trong trường hợp đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà cơ quan thực hiện giám định chưa cung cấp kết quả giám định thì Tòa án ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 366 BLTTDS quy định trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án tiến hành công việc sau đây:

“a)Trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ chưa đủ căn cứ để Tòa án giải quyết thì Tòa án yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án;

b) Trường hợp đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy cần thiết thì Thẩm phán ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản. Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều này mà chưa có kết quả giám định, định giá tài sản thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu được kéo dài nhưng không quá 01 tháng;

c) Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu;

d) Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.

Như vậy, đối với quy định về giải quyết việc dân sự không có quy định việc Tòa án có quyền ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết việc dân sự khi hết thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu.

Từ việc phân tích những quy định tương ứng khi giải quyết vụ án dân sự trên cho thấy, BLTTDS cần bổ sung cụ thể các trường hợp được áp dụng các quy định giống như khi giải quyết vụ án bao gồm: tạm đình chỉ, tiếp tục giải quyết việc dân sự… Việc quy định cụ thể các nội dung này là cơ sở pháp lý quan trọng cho quá trình giải quyết việc dân sự, không gây nhầm lẫn, sai sót khi áp dụng pháp luật.

Để khắc phụ những vướng mắc, bất cập nêu trên, nhóm tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 366 BLTTDS về chuẩn bị xét đơn yêu cầu. Nhóm tác giả đề xuất bổ sung thêm một Điều khoản là khoản 5 vào Điều 366 với nội dung như sau:

“Điều 366. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu

1.

5. Trong trường hợp hết thời hạn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này mà lý do kéo dài thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu chưa được thực hiện thì việc dân sự được tạm đình chỉ giải quyết. Việc dân sự được tiếp tục giải quyết khi lý do tạm đình chỉ không còn.”

3.2. Về thủ tục chuyển từ việc dân sự sang vụ án dân sự

Thực tiễn giải quyết việc dân sự cho thấy, có một số trường hợp phát sinh vấn đề về việc chuyển từ việc dân sự sang vụ án dân sự, tuy nhiên, do BLTTDS hiện hành chưa có quy định cụ thể, rõ ràng về vấn đề này; từ đó gây vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật.

Nhóm tác giả xin nêu một ví dụ cụ thể và phân tích, lập luận để làm rõ vấn đề vướng mắc.

Ví dụ: Bà Nguyễn Thị A và con là anh Lâm Văn B có nghĩa vụ trả vàng và tiền cho ông Lê Thanh H theo quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác định bà A, anh B không có tài sản để thi hành án. Thực tế, bà A và anh B trước đó sống chung với mẹ bà A là cụ Nguyễn Ngọc T. Cụ T không còn ai là người thân thích ngoài bà A và anh B. Cụ T có 01 phần đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ. Khi cụ T chết có để lại di chúc phân chia cho bà A và anh B mỗi người 1/2 di sản. Tuy nhiên khi cụ T chết, bà A và anh B vẫn tiếp tục sử dụng phần đất mà không làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế để đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, từ đó bà A và anh B không có tài sản về mặt pháp lý. Do đó, ông Lê Thanh H yêu cầu Tòa án xác định quyền thừa kế của bà A và anh B, xác định bà A và anh B mỗi người có quyền sử dụng đối với 1/2 di sản của cụ T.

Trong quá trình thụ lý giải quyết yêu cầu của ông T, mặc dù các tài liệu, chứng cứ ông T cung cấp và Tòa án thu thập đã thể hiện yêu cầu của ông T là có cơ sở, nhưng do yêu cầu liên quan đến quyền sử dụng đất cần thực hiện thủ tục đo đạc để xác định chính xác diện tích phần đất, tránh tình trạng gây khó khăn cho giai đoạn thi hành án. Tuy nhiên, việc đo đạc hiện nay cần rất nhiều thủ tục, từ việc liên hệ chính quyền địa phương, đương sự để xác định các hộ giáp ranh đến việc liên hệ đơn vị thực hiện đo đạc, thủ tục tạm ứng thanh toán chi phí tố tụng, trước khi thực hiện việc đo đạc phải thông báo cho các đương sự, hộ giáp ranh trước 15 ngày để đảm bảo cho việc niêm yết… Đây là các nguyên nhân dẫn đến thời hạn giải quyết việc dân sự kéo dài hơn quy định. Đến thời gian đo đạc, hộ giáp ranh và bà A, anh B không thống nhất được ranh giới dẫn đến không thực hiện việc đo đạc.

Trong trường hợp này, thực tiễn phát sinh 02 luồng ý kiến khác nhau:

Luồng ý kiến thứ nhất nêu quan điểm: Thông báo đưa các hộ giáp ranh vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Sau thời gian quy định mà họ không có yêu cầu thì vẫn tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung về giải quyết việc dân sự.

Luồng ý kiến thứ hai có quan điểm: Thông báo đưa các hộ giáp ranh vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; mặc dù họ không có yêu cầu nhưng bản chất sự việc đã phát sinh tranh chấp nên phải thực hiện thủ tục chuyển việc dân sự thành vụ án và tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung về giải quyết vụ án dân sự.

Theo quan điểm của nhóm tác giả ủng hộ luồng quan điểm thứ hai do sự việc không chỉ liên quan đến một số đương sự ban đầu theo đơn yêu cầu mà đã ảnh hưởng đến quyền lợi của một nhóm cá nhân khác, giải quyết việc dân sự phải đồng thời giải quyết các vấn đề phát sinh thì sự việc mới được giải quyết toàn diện, triệt để. Tuy nhiên, thủ tục chuyển từ việc dân sự sang vụ án dân sự chưa có quy định cụ thể trong BLTTDS. Duy nhất chỉ có thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thì tại khoản 5 Điều 397 quy định: “Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành và các đương sự không thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết. Tòa án không phải thông báo về việc thụ lý vụ án, không phải phân công lại Thẩm phán giải quyết vụ án. Việc giải quyết vụ án được thực hiện theo thủ tục chung do Bộ luật này quy định”.

Ngoài ra, không có quy định nào để có thể áp dụng tương tự trường hợp này cho các thủ tục giải quyết việc dân sự khác. Đồng thời, bản chất của việc hôn nhân và gia đình, các vấn đề không thỏa thuận được chỉ liên quan giữa vợ chồng còn bản chất của các việc dân sự khác thường sẽ liên quan đến nhiều cá nhân khác, nên nếu chỉ đơn giản chuyển từ việc dân sự sang vụ án dân sự mà không thông báo về việc thụ lý vụ án là không phù hợp, không đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Từ những phân tích trên, nhóm tác giả kiến nghị bổ sung 01 điều luật tại Chương XXIII BLTTDS Quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự như sau:

“Điều …. Thủ tục chuyển từ việc dân sự sang vụ án dân sự

Trường hợp trong quá trình giải quyết việc dân sự phát sinh tranh chấp thì Tòa án đình chỉ giải quyết việc dân sự và thụ lý vụ án để giải quyết. Tòa án phải thông báo về việc thụ lý vụ án, không phải phân công lại Thẩm phán giải quyết vụ án. Việc giải quyết vụ án được thực hiện theo thủ tục chung do Bộ luật này quy định”.

Việc xây dựng thủ tục giải quyết việc dân sự một cách rõ ràng, cụ thể, quy định về chuyển việc dân sự thành vụ án dân sự, giúp rút ngắn thời gian, nâng cao tính dân chủ và khách quan của quá trình tố tụng.

4. Kết luận

Giải quyết việc dân sự là mảnh ghép không thể thiếu trong hệ thống tố tụng, đóng vai trò xác lập các sự kiện pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Việc bổ sung các quy định của luật về giải quyết việc dân sự là yêu cầu cần thiết để tạo ra một hệ thống lý luận chặt chẽ có sự phân tách rõ ràng từng mảng nhưng vẫn đảm bảo tính thống nhất với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự, làm cơ sở cho quá trình thực hiện nhiệm vụ của các Thẩm phán khi đối mặt với các tình huống phát sinh thực tế.

ThS. NGUYỄN THỊ HỒNG Ý (Thẩm phán Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau) - ThS. HỒ DŨNG LIÊM (Thẩm phán Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau)

Phiên tòa trực tuyến rút kinh nghiệm vụ án dân sự phúc thẩm về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê đất” tại TAND TP. Hà Nội - Nguồn: Tạp chí điện tử Kiểm sát.