Khắc phục lỗ hổng trong cơ chế hậu kiểm thực phẩm
Dư luận xã hội đang lo ngại về tình trạng thực phẩm bẩn, độc hại, nhất là dịp Tết sắp về. Hàng loạt vụ thực phẩm bẩn liên tiếp bị phanh phui thời gian qua như chả giò, pate làm từ thịt lợn nhiễm dịch tả đến dầu ăn, sữa giả, giá đỗ tẩm hóa chất và mới đây là vụ 800 tấn mì tươi trộn hàn the, đặt ra nhiều vấn đề về trách nhiệm quản lý cũng như cơ chế bảo vệ sức khoẻ cho người dân.
Hậu kiểm đang bị “hành chính hóa”
Việc sai phạm tại Đồ hộp Hạ Long hay mới đây, chủ cơ sở kinh doanh Châu Phát ở Thành phố Hồ Chí Minh thừa nhận làm mì tươi nhưng thêm hàn the, hóa chất để sản phẩm dai, giòn, màu sắc bắt mắt; trong 3 năm đã bán ra thị trường hơn 800 tấn mì khiến ai nghe cũng “rùng mình” vì lo ngại tới sức khỏe cho chính bản thân cũng như người dân trên cả nước.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Tòa án nhân dân, luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội) cho biết: Dưới góc độ pháp lý và quản trị nhà nước, việc các sai phạm nghiêm trọng tại Đồ hộp Hạ Long, hay vụ về Khaisilk hay Asanzo trước kia, chỉ bị phát hiện sau nhiều năm cho thấy, lỗ hổng lớn nhất của cơ chế hậu kiểm không nằm ở thiếu quy định, mà nằm ở cách vận hành và triết lý quản lý.
Lỗ hổng cốt lõi của cơ chế hậu kiểm chính là đang lệ thuộc quá mức vào hồ sơ, giấy tờ, trong khi kiểm soát thực chất và trách nhiệm chuỗi bị làm mờ. “Trước hết, hậu kiểm đang bị ‘hành chính hóa’, thay vì được triển khai như công cụ quản lý rủi ro. Thực tế, hoạt động hậu kiểm của nhiều cơ quan quản lý chủ yếu xoay quanh việc kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ pháp lý như giấy phép, chứng nhận, hóa đơn, sổ sách”, luật sư Nguyễn Văn Tuấn cho biết.
Khi doanh nghiệp có đủ giấy tờ hợp lệ, việc kiểm tra thường dừng lại ở đó. Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Tuấn cho rằng, các yếu tố mang tính quyết định đến an toàn thực chất như nguồn gốc nguyên liệu, điều kiện sản xuất thực tế, tính trung thực của thông tin công bố lại ít được kiểm tra sâu hoặc chỉ làm mang tính hình thức.
Điều này dẫn đến một nghịch lý: Doanh nghiệp “đạt chuẩn trên giấy” nhưng rủi ro vẫn tồn tại ngoài đời thực và chỉ lộ diện khi đã tích tụ đủ lớn để không thể che giấu.
Uy tín lâu năm của doanh nghiệp vô tình tạo ra một “vùng miễn dịch giám sát”. Các thương hiệu tồn tại nhiều năm, quen mặt trên thị trường thường mặc nhiên được xếp vào nhóm “rủi ro thấp”. Khi đó, tần suất kiểm tra giảm, mức độ nghi ngờ giảm. “Chính cơ chế này khiến các sai phạm có tính hệ thống dễ dàng kéo dài trong âm thầm, từ việc đánh tráo xuất xứ, lập lờ thông tin sản phẩm, cho đến thu mua nguyên liệu không bảo đảm an toàn”, đại diện TGS phân tích.
Đặc biệt, cơ chế hậu kiểm hiện chưa gắn chặt trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm pháp nhân. Khi sai phạm bị phát hiện, việc xử lý thường dừng lại ở mức phạt hành chính đối với doanh nghiệp, trong khi trách nhiệm của người ra quyết định, người phê duyệt, người kiểm soát nội bộ không được truy cứu đến cùng. Trong bối cảnh đó, hậu kiểm không còn là công cụ phòng ngừa, mà chỉ là bước xác nhận hậu quả khi sự việc đã vượt quá ngưỡng chịu đựng của xã hội.
Một số ý kiến cho rằng, cần nhìn thẳng vào lỗ hổng từ phía cơ quan quản lý. Khi việc cấp phép, thẩm định, hậu kiểm bị lệ thuộc quá nhiều vào quy trình nội bộ, thiếu minh bạch và thiếu cơ chế giám sát chéo hiệu quả, thì nguy cơ “tha hóa thủ tục” là điều khó tránh.
Theo luật sư Đỗ Minh Hiển, Văn phòng luật sư JVN, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, các vụ việc kinh doanh thực phẩm bẩn liên tiếp xảy ra thời gian qua với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, có sự câu kết, tổ chức chặt chẽ giữa những đối tượng thu mua và doanh nghiệp chế biến gây nhiều hệ lụy xấu cho xã hội, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, quyền lợi của người tiêu dùng.
Vụ việc gây chú ý dư luận vừa qua là lực lượng chức năng đã phát hiện 130 tấn thịt lợn nhiễm dịch tả lợn châu Phi tại kho Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long (Halong Canfoco), trong đó khoảng 2 tấn đã được chế biến thành sản phẩm.
Theo luật sư Đỗ Minh Hiển, vụ việc trên cho thấy, thực phẩm bẩn đã không chỉ hiện diện tại các điểm bán hàng nhỏ lẻ, ở các chợ dân sinh hoặc địa bàn vùng sâu, vùng xa mà đã len lỏi vào doanh nghiệp chế biến có uy tín và thương hiệu lâu năm dẫn đến sự hoài nghi về sự an toàn thực phẩm trên bàn ăn của mỗi gia đình..jpg)
Số thịt lợn nhiễm bệnh được dùng một phần vào sản xuất đồ hộp, trong đó có hộp pate. Ảnh: Halong Canfoco.
Hiệu lực răn đe chưa tương xứng với mức độ vi phạm
Trả lời câu hỏi vì sao tình trạng thực phẩm bẩn, hàng giả vẫn “nở rộ”, liệu có phải do hệ thống pháp luật còn chưa nghiêm? luật sư Hoàng Tùng, Văn phòng luật sư Trung Hòa (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội) cho rằng: Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành không thiếu các chế tài trong lĩnh vực an toàn thực phẩm (ATTP).
Luật ATTP năm 2010, các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính và Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã thiết lập tương đối đầy đủ các tầng trách nhiệm hành chính và hình sự đối với hành vi vi phạm.
Cụ thể, Điều 3 Luật ATTP năm 2010 quy định Nguyên tắc quản lý ATTP bao gồm 6 nguyên tắc cơ bản như: Trách nhiệm của mọi chủ thể, hoạt động có điều kiện, quản lý dựa trên khoa học và quy chuẩn kỹ thuật, quản lý trong suốt chuỗi sản phẩm, phân công phối hợp liên ngành và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Theo luật sư Hoàng Tùng, Điều 5 Luật ATTP 2010 cũng đã liệt kê rõ các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn, sử dụng nguyên liệu, phụ gia ngoài danh mục cho phép hoặc không rõ nguồn gốc.
Trên cơ sở các nguyên tắc và quy định này, Luật ATTP năm 2010 cùng với Nghị định số 115/2018/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 124/2021/NĐ-CP, đã quy định rõ các hành vi vi phạm và khung xử phạt tương ứng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cũng đã thiết lập các tội danh điều chỉnh trực tiếp đối với hành vi sản xuất, buôn bán thực phẩm không bảo đảm an toàn.
Tuy nhiên, luật sư Hoàng Tùng cho rằng, thực tiễn áp dụng cho thấy hiệu lực răn đe của các chế tài này vẫn chưa tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm. “Không ít trường hợp, mức xử phạt hành chính chỉ dừng ở vài chục đến vài trăm triệu đồng, trong khi lợi ích kinh tế thu được từ việc sản xuất, tiêu thụ thực phẩm bẩn lại lớn hơn rất nhiều, dẫn đến nguy cơ chế tài bị xem như một ‘chi phí kinh doanh’ thay vì là biện pháp ngăn chặn hữu hiệu”, ông Hoàng Tùng cho biết.
Nhận định cho rằng khung xử phạt hành chính hiện nay còn tương đối “mềm” là có cơ sở. Trong nhiều lĩnh vực như ATTP, ghi nhãn hàng hóa, quảng cáo sai sự thật, gian lận xuất xứ…, lợi ích kinh tế thu được từ hành vi vi phạm thường lớn hơn rất nhiều so với mức xử phạt. Điều này khiến chế tài hành chính trong không ít trường hợp chưa đủ sức răn đe, thậm chí bị coi như một khoản chi phí có thể chấp nhận được.
“Đáng chú ý hơn, ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự trên thực tế đang được vận dụng khá thận trọng, thậm chí có biểu hiện né tránh. Không ít vụ việc chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính, thu hồi sản phẩm hoặc tiêu hủy tang vật, trong khi các dấu hiệu cấu thành tội phạm đã tương đối rõ ràng”, đại diện Văn phòng luật sư Trung Hòa nhận định
Sự thận trọng trong áp dụng pháp luật là cần thiết, nhưng nếu thận trọng đến mức hình sự hóa một cách dè dặt quá mức, thì sẽ vô hình trung làm suy giảm niềm tin của xã hội vào khả năng bảo vệ sức khỏe cộng đồng của pháp luật. Trong những trường hợp hành vi có tính chất cố ý, có tổ chức, kéo dài và gây nguy hiểm nghiêm trọng cho xã hội, truy cứu trách nhiệm hình sự không nên chỉ được coi là “phương án cuối cùng”, mà cần được sử dụng kịp thời và đúng mức.
Đối với các vụ việc quy mô đặc biệt lớn, kéo dài nhiều năm như vụ sản xuất mì sử dụng hóa chất trái phép vừa được Công an TP.Hồ chí Minh triệt phá, theo ông Hoàng Tùng, việc xử lý chỉ dừng ở trách nhiệm doanh nghiệp là chưa đủ.
“Cần thiết lập cơ chế truy cứu trách nhiệm rõ ràng đối với cơ quan quản lý và cá nhân thực thi công vụ, nếu có dấu hiệu vi phạm hoặc thiếu trách nhiệm nghiêm trọng. Chỉ khi áp dụng đồng bộ, nghiêm khắc các chế tài hình sự đối với cả pháp nhân thương mại và cá nhân có liên quan; đồng thời gắn trách nhiệm pháp lý cụ thể với người có thẩm quyền quản lý, thì những ‘tấm vé thông hành’ cho thực phẩm bẩn mới thực sự bị siết chặt, và pháp luật mới phát huy đúng vai trò là hàng rào bảo vệ sức khỏe cộng đồng”, luật sư Hoàng Tùng nhấn mạnh.
“Công tác đảm bảo an toàn thực phẩm cần được chú trong hơn nữa. Các cơ quan chức năng cần làm rõ và khắc phục các ‘lỗ hổng’ trong quản lý đảm bảo an toàn thực phẩm, xây dựng các cơ chế kiểm soát liên ngành và thường xuyên, nâng cao mức xử phạt đối với các hành vi mua bán, sử dụng, kinh doanh thực phẩm vi phạm các điều kiện về an toàn để nỗi lo ‘thực phẩm bẩn’ không còn hiện diện trong tâm trí người tiêu dùng và trên bàn ăn của mỗi gia đình”, luật sư Đỗ Minh Hiển cho biết.
BLHS năm 2015 đã quy định rất cụ thể các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này, cụ thể:
Khoản 1, Điều 317 BLHS quy định Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, theo đó người nào sử dụng chất cấm, hóa chất ngoài danh mục cho phép, hoặc sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn, gây tổn hại cho sức khỏe người tiêu dùng hoặc thu lợi bất chính, thì có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Đối với các trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, khoản 4 Điều 317 BLHS quy định mức hình phạt lên đến 20 năm tù hoặc tù chung thân nếu làm chết nhiều người hoặc gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng.
Ngoài ra, đối với hành vi làm giả thực phẩm, Điều 193 BLHS quy định Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, với mức hình phạt phạt tù từ 02 năm đến 05 năm và có thể cao hơn trong các trường hợp tăng nặng.
Đặc biệt, khoản 1 Điều 75 và Điều 76 BLHS 2015 đã ghi nhận rõ trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự trực tiếp đối với doanh nghiệp vi phạm, không chỉ dừng lại ở cá nhân đứng đầu hay người trực tiếp thực hiện hành vi.
Bài liên quan
-
Một số bất cập trong áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Một số vấn đề về dấu hiệu định tội của tội "Tổ chức đánh bạc" quy định tại điểm d, đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Huỳnh Xuân T phải bị xét xử theo điểm b khoản 1 Điều 173 với tình tiết định khung hình phạt tái phạm nguy hiểm theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015
-
Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù theo quy định của BLHS năm 2015 – Một số vướng mắc và kiến nghị
Bình luận