Kỷ nguyên mới, Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và việc hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Hệ thống pháp luật có vai trò quan trọng trong việc quản lý đời sống xã hội nhằm đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Về bản chất, hệ thống pháp luật chính là chuẩn mực hướng dẫn hành vi cho tất cả các cá nhân, tổ chức, bao gồm cả Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ xã hội. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam là hoạt động mang tính quy luật nhằm phát hiện những sự chồng chéo, thiếu sót của các hiện tượng pháp luật để kịp thời loại bỏ những quy định, những nguồn pháp luật không còn phù hợp. Ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, để quản lý xã hội, quản trị quốc gia tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, từ việc đánh giá thực trạng của hệ thống pháp luật hiện hành, chỉ ra những bất cập, hạn chế để từ đó đề xuất giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật là nhiệm vụ hết sức cần thiết.
1. Khái quát chung về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Ngày 31/10/2024, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, GS. TS Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam có buổi trao đổi một số nội dung về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với các học viên Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (lớp thứ 3)[1]. Theo đó, kỷ nguyên là một giai đoạn lịch sử được đánh dấu bởi những đặc điểm quan trọng hoặc sự kiện có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội - văn hóa - chính trị - tự nhiên. Kỷ nguyên thường được sử dụng để phân chia thời gian trong lịch sử theo những biến cố lớn hoặc có sự thay đổi căn bản trong đời sống chính trị hay khoa học, công nghệ, môi trường. Ví dụ: Kỷ nguyên công nghiệp, kỷ nguyên thông tin, kỷ nguyên kỹ thuật số, kỷ nguyên vũ trụ. Còn trước đây là kỷ nguyên đồ đá, kỷ nguyên cổ đại, kỷ nguyên trung cổ…
Kỷ nguyên vươn mình hàm ý tạo sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt, tích cực, nỗ lực, nội lực, tự tin để vượt qua thách thức, vượt qua chính mình, thực hiện khát vọng, vươn tới mục tiêu, đạt được những thành tựu vĩ đại. Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu.
Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng, từ đây, mọi người dân Việt Nam, hàng trăm triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng tâm hiệp lực, chung sức đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh.
2. Thực trạng hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Trong những năm qua, hệ thống pháp luật của Việt Nam không ngừng được hoàn thiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, lao động, việc làm, an sinh xã hội…; cơ bản thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, chủ động hội nhập quốc tế trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thống kê số lượng luật được Quốc hội thông qua trong Quốc hội khóa XI, XII, XIII, XIV (kể từ khi Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 được Bộ Chính trị ban hành cho đến tháng 12/2020) là 329 luật, bộ luật[2]. Đặc biệt, có nhiều văn bản quan trọng như Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai năm 2024, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Trưng cầu ý dân năm 2019, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016… Bên cạnh đó, các chủ thể có thẩm quyền cũng ban nhiều văn bản quy phạm pháp luật ở cấp độ dưới luật như pháp lệnh, nghị định, thông tư, nghị quyết, quyết định… để hướng dẫn, tổ chức thực hiện các quy định của luật. Chất lượng của hệ thống pháp luật ngày càng được nâng cao, về cơ bản đã bảo đảm được tính thống nhất, đồng độ, hợp hiến, hợp pháp. Tính công khai, minh bạch, rõ ràng có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước được nâng lên[3].
Bên cạnh những ưu điểm đã đạt được, hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, bất cập chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cụ thể:
Thứ nhất, về tính công khai, minh bạch. Đây là yêu cầu nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ của các chủ thể pháp luật đối với các văn bản quy phạm pháp luật, từ khi đang ở dạng dự thảo, lấy ý kiến góp ý, cho đến khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, thực hiện truyền thông chính sách. Hiện nay, việc thu hút người dân, đối tượng chính sách, các nhà khoa học… tham gia ý kiến đối với các dự thảo văn bản thông qua đăng tải trên các cổng thông tin điện tử của cơ quan soạn thảo và Chính phủ, thông qua hội nghị, hội thảo, tọa đàm... đã được các cơ quan chú trọng thực hiện nhưng khả năng thu hút chưa như mong đợi. Việc xử lý thông tin góp ý và giải trình tiếp thu ý kiến đóng góp chưa dựa được trên lợi thế công nghệ thông minh và có những văn bản chưa thực hiện đầy đủ. Khi các văn bản đã được ban hành, vẫn chưa khắc phục hoàn toàn được thực trạng có những quy định được hiểu thiếu thống nhất, được áp dụng khác nhau[4].
Thứ hai. Tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, xung đột giữa các văn bản quy phạm pháp luật. Một trong những hạn chế, bất cập lớn trong hoạt động xây dựng pháp luật là tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, xung đột giữa các văn bản luật và các văn bản dưới luật. Thực trạng này dẫn đến nhiều khó khăn cho việc thực hiện pháp luật của người dân, doanh nghiệp và thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước. Trên bình diện chung, còn tồn tại sự chồng chéo, xung đột giữa các đạo luật với nhau, giữa luật chung và luật chuyên ngành, giữa văn bản hướng dẫn luật này và văn bản hướng dẫn luật khác, dẫn đến tình trạng “làm theo luật này thì đúng, luật khác thì sai”. Tình trạng còn nhiều văn bản pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn, thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Nhưng hiện tượng đó vẫn diễn ra, thậm chí còn khá phổ biến hiện nay[5]...
Điển hình nhất là sự chồng chéo, mâu thuẫn, xung đột giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực: đất đai, đầu tư, xây dựng, quy hoạch; nhà ở, kinh doanh bất động sản, môi trường, vệ sinh, an toàn thực phẩm… Trong báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã đề cập đến 20 điểm xung đột, chồng chéo lớn của pháp luật về đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường, đấu thầu, tiêu biểu như giữa các văn bản luật: Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Đấu thầu; Luật Nhà ở[6]...
Thứ ba, một số văn bản quy phạm pháp luật có “tuổi thọ” ngắn, thường xuyên thay đổi. Để thực hiện hiệu quả chức năng điều chỉnh, đòi hỏi các quy định phải có tính dự báo về xu hướng phát triển của các quan hệ xã hội; tuy nhiên, một số văn bản quy phạm pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu này dẫn đến tính ổn định còn thấp, tần suất sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, thay thế cao. Thực tiễn cho thấy, trung bình 10 năm, Quốc hội sẽ thực hiện rà soát, sửa đổi, bổ sung, thay thế các luật, bộ luật, như: Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự; có những luật thời gian ngắn hơn như Luật Doanh nghiệp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương… Cá biệt, có những bộ luật quan trọng như Bộ luật Hình sự năm 2015 phải tạm hoãn thi hành để thực hiện sửa đổi, bổ sung, khắc phục những sai sót còn tồn tại. Việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với điều kiện khách quan của đất nước là cần thiết, tuy nhiên, nếu thường xuyên thay đổi sẽ gây khó khăn trong quá trình thực hiện pháp luật, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Thực trạng này cũng phản ánh vấn đề trình độ kỹ thuật xây dựng pháp luật của nước ta chưa đạt được trình độ cao.
Thứ tư, còn tình trạng ban hành văn bản sai về thẩm quyền, nội dung, hình thức, thủ tục. Qua công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp cho thấy, tỷ lệ ban hành văn bản quy phạm pháp luật không đúng thẩm quyền, nội dung và văn bản không phải văn bản quy phạm pháp luật nhưng lại chứa đựng quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở nước ta vẫn còn tồn tại, năm 2016 là 88 văn bản[7], năm 2017 là 131 văn bản, năm 2018 là 84 văn bản, năm 2019 là 152 văn bản[8].
3. Một số đề xuất nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp Việt Nam trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Thứ nhất, bảo đảm hoàn thiện hệ thống pháp luật toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, có ưu tiên trọng tâm, trọng điểm trong điều kiện còn nhiều văn bản cần ban hành, sửa đổi, bổ sung, theo tinh thần phản ứng nhanh trước thực tiễn, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo động lực mạnh cho phát triển nhanh và bền vững đất nước, khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của xã hội. Trong từng giai đoạn phát triển, cần bám sát thực tiễn, nắm bắt nhu cầu; từ đó, có chương trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật phù hợp và kịp thời điều chỉnh khi cần thiết.
Thứ hai, xác định đầy đủ, rõ ràng, hợp lý hơn về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, loại bỏ sự chồng chéo, bảo đảm thực hiện cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng pháp luật Đây là giải pháp rất căn bản để góp phần khắc phục những hạn chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo chất lượng các văn bản pháp luật. Mặc dù quy trình, thủ tục xây dựng pháp luật là điều kiện quan trọng, song nếu chỉ dừng lại ở quy trình, thủ tục thì vẫn chưa có thể khắc phục hoàn toàn được những hạn chế trong đó có sự chồng chéo, xung đột giữa các văn bản pháp luật như lâu nay. Hiện tại, cơ chế phân công, phối hợp về xây dựng pháp luật của các cơ quan trong bộ máy nhà nước đang còn nhiều vấn đề bất hợp lý, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan có thẩm quyền xây dựng pháp luật. Cách thức xây dựng - làm luật ở nước ta không do cơ quan chuyên trách, độc lập, đại biểu dân cử hoặc các ủy ban của Quốc hội chủ trì soạn thảo mà thường được giao cho cơ quan thuộc Chính phủ hoặc cơ quan trực tiếp quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực trực tiếp xây dựng. Một khi các cá nhân, cơ quan công quyền đã có thẩm quyền xây dựng pháp luật, có điều kiện, lại kèm theo chế độ trách nhiệm phải hoàn thành nhiệm vụ xây dựng pháp luật theo tháng, quý, năm, nhiệm kỳ... và theo cả chỉ tiêu thi đua... nên rất dễ dàng cài cắm lợi ích bộ, ngành, nhóm..., và hiện tượng “đẽo cày giữa đường” khi làm luật, thực ra ở đây chủ yếu là liên quan đến lợi ích[9].
Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là khâu đầu vào then chốt giúp nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật. Hiện nay, có nhiều chương trình bồi dưỡng về lĩnh vực này nhưng còn nặng về lý thuyết mà thiếu tính thực tế nên hiệu quả thấp. Chương trình bồi dưỡng về xây dựng văn bản không chỉ đặt ra với các cơ quan xây dựng luật, các trường đào tạo luật mà cần mở rộng hơn nữa để phổ biến kiến thức cho nhiều người. Đó là cơ sở để phát hiện các “sai trái” trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật; những người có trách nhiệm soạn thảo văn bản và giám sát công việc này cần được bồi dưỡng thường xuyên để tránh các sai lầm không đáng có.
Thứ tư, bảo đảm các điều kiện vật chất trong hoạt động xây dựng pháp luật. Cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí thỏa đáng cho công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đầu tư hiệu quả sẽ nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Việc đầu tư không thỏa đáng dẫn đến hậu quả chất lượng ban hành văn bản không cao, văn bản quy phạm pháp luật khi ban hành có sức sống và tính ổn định của văn bản kém, thường xuyên phải sửa đổi hoặc bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.
Thứ năm, cần tiếp tục đổi mới quy trình, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng hiện đại hơn nữa, dựa trên lợi thế của công nghệ trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình, tăng cường đổi mới sáng tạo.
Kết luận: Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa mang tính chiến lược lâu dài. Trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo định hướng về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong đó có hoàn thiện hệ thống pháp luật, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cơ bản nhằm triển khai thực hiện. Hướng tới 100 năm thành lập Đảng, 100 năm thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), để đất nước tự tin, vững vàng bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cần nhiều nỗ lực hơn nữa, tranh thủ, khơi thông các nguồn lực, không bỏ lỡ cơ hội, nhận diện và vượt qua thách thức./.
[1] GS. TS Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: “Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Tạp chí Cộng sản điện tử, https://www.tapchicongsan.org.vn/ 06:00, ngày 01-11-2024
[2] Dương Thị Tươi. (2021). Xây dựng pháp luật ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 260.
[3] Lục Việt Dũng. (2023). Hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn mới. Truy cập ngày 24//3/2025 tại: https://danchuphapluat.vn/hoan-thien-he-thong-phap-luat-trong-giai-doan-moi.
[4] Phạm Minh Tuấn. (2024). Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng mục tiêu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Truy cập ngày 23/3/2025, tại: https://tapchicongsan.org.vn/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1013502/hoan-thien-he-thong-phap-luat-dap-ung-muc-tieu-xay-dung%2C-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc.aspx.
[5] Nguyễn Bá Chiến. (2006). Pháp luật triệt tiêu pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 74, tháng 4/2006.
[6] VCCI báo cáo nhanh về 20 điểm xung đột, chồng chéo lớn của pháp luật, https://bnews.vn/vcci-bao-caonhanh-ve-20-diem-xung-dot-chong-cheo-lon-cua-phap-luat-/130330.html.
[7] Nguyễn Bá Chiến. (2006). Pháp luật triệt tiêu pháp luật. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 74, tháng 4/2006.
[8] Đinh Dũng Sỹ. (2008). Chính sách và mối quan hệ giữa chính sách với pháp luật trong hoạt động lập pháp. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 127, tháng 7/2008 ngày 20/07/2008.
[9] Phạm Văn Chung: Để không làm luật kiểu “đẽo cày giữa đường” https://nld.com.vn/ban-doc/de-khonglam-luat-kieu-deo-cay-giua-duong-20170115222730997.htm.
Tài liệu tham khảo
1. GS. TS Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: “Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Tạp chí Cộng sản điện tử, https://www.tapchicongsan.org.vn/ 06:00, ngày 01-11-2024.
2. Dương Thị Tươi. (2021). Xây dựng pháp luật ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 260.
3. Lục Việt Dũng. (2023). Hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn mới. Truy cập ngày 24//3/2025 tại: https://danchuphapluat.vn/hoan-thien-he-thong-phap-luat-trong-giai-doan-moi.
4. Phạm Minh Tuấn. (2024). Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng mục tiêu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Truy cập ngày 23/3/2025, tại: https://tapchicongsan.org.vn/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1013502/hoan-thien-he-thong-phap-luat-dap-ung-muc-tieu-xay-dung%2C-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc.aspx.
5. Nguyễn Bá Chiến. (2006). Pháp luật triệt tiêu pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 74, tháng 4/2006.
6. Phạm Văn Chung: Để không làm luật kiểu “đẽo cày giữa đường” https://nld.com.vn/ban-doc/de-khonglam-luat-kieu-deo-cay-giua-duong-20170115222730997.htm.
Bài liên quan
-
Quyết tâm đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với nâng cao kỹ năng bảo vệ an toàn an ninh mạng
-
Thủ tướng chủ trì phiên họp Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06
-
Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì phiên họp Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
-
VietinBank sẵn sàng bứt phá cùng kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Trao đổi ý kiến về bài viết “bên đặt cọc hay bên nhận đặt cọc có lỗi?”
-
Không áp dụng một số tình tiết giảm nhẹ đối với Tạ Tấn P
-
Đề xuất mô hình Tòa án 3 cấp khi bỏ đơn vị hành chính cấp huyện
-
Một số vấn đề về dấu hiệu định tội của tội "Tổ chức đánh bạc" quy định tại điểm d, đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả Quy định 189-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương trong ngành Tòa án
Bình luận