Một số vấn đề về người làm chứng trong pháp luật tố tụng dân sự
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 xác định “xây dựng chế định tố tụng tư pháp lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá” là định hướng quan trọng của cải cách tư pháp . Trong tố tụng dân sự, định hướng này đòi hỏi phải đảm bảo đương sự có cơ hội trình bày, kiểm tra và phản bác chứng cứ trong vụ án. Yêu cầu đó đặc biệt cần thiết đối với lời khai người làm chứng (LKNLC) khi giá trị của nó phụ thuộc nhiều vào yếu tố con người, đặc biệt là khả năng quan sát, ghi nhớ và trình bày. Thực tiễn vẫn tồn tại trường hợp người làm chứng (NLC) vắng mặt hoặc không tham gia đối đáp thực chất tại phiên tòa, làm hạn chế khả năng đối chứng, xác thực lời khai. Vì vậy, bài viết này tập trung vào cơ chế đảm bảo LKNLC qua (i) cơ chế tranh tụng và (ii) các chế tài bảo đảm NLC thực hiện nghĩa vụ.
1. Đảm bảo giá trị chứng minh đối với lời khai người làm chứng
LKNLC là nguồn chứng cứ phụ thuộc trực tiếp vào khả năng nhận biết, ghi nhớ và trình bày của con người. Trong tố tụng dân sự Việt Nam, Điều 77 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 (viết tắt là BLTTDS) xác định NLC là người biết các tình tiết liên quan đến nội dung vụ việc, được đương sự đề nghị và Tòa án triệu tập tham gia tố tụng. Các học giả quốc tế cũng đã xác định việc đánh giá LKNLC phải đặt trong mối liên hệ với khả năng NLC biết được sự kiện, ghi nhớ sự kiện và thuật lại một cách trung thực, chính xác sự kiện đó[1]. Việc NLC nói điều họ tin là sự thật không đồng nghĩa với việc sự việc thực tế đã diễn ra đúng như lời khai đó (ví dụ như trường hợp NLC quan sát nhầm và hiểu sai sự việc)[2]. LKNLC cũng được tiếp cận như một hành vi cung cấp chứng cứ, khi đó, NLC phải có năng lực phù hợp, cung cấp lời khai về vấn đề đang tranh chấp hoặc chưa được giải quyết và hướng đến người cần chứng cứ về vấn đề đó[3].
Từ đó, một số đặc điểm đặc thù của LKNLC có thể rút ra gồm: (i) LKNLC gắn với cách thức mà họ nhận biết sự việc được hình thành qua tri giác, ghi nhớ và khả năng thuật lại sự việc đó, vì vậy LKNLC có khả năng vẫn sai lệch so với sự thật khách quan, ngay cả khi NLC không cố ý khai sai sự thật (nhìn nhầm hoặc hiểu nhầm sự việc); (ii) LKNLC có thể chịu tác động bởi ý chí chủ quan của NLC tại thời điểm trình bày; (iii) khi lời khai còn những điểm rõ ràng hoặc có mâu thuẫn, chính NLC là người có khả năng nhất để giải thích và làm rõ những điểm này.
Vì những tính chất, đặc điểm đặc thù như trên, để đảm bảo giá trị thực chất của LKNLC trong tố tụng dân sự, cần thiết (i) đảm bảo việc hỏi NLC, nghĩa vụ đối đáp và giải thích những tình tiết/lời khai có ý nghĩa trực tiếp và mấu chốt đối với việc xác định giá trị chứng minh của LKNLC; và (ii) đảm bảo các cơ chế/chế tài là khả thi và hiệu quả để ràng buộc và đảm bảo nghĩa vụ tham gia hiệu quả thực chất của NLC.
2. Bảo đảm tranh tụng đối với lời khai người làm chứng
Nhằm đảm bảo tranh tụng, BLTTDS đã có các quy định cho phép đương sự đối đáp chứng cứ, trong đó có hỏi NLC tại phiên tòa và yêu cầu Tòa án thực hiện đối chất NLC[4]. Tuy nhiên, BLTTDS không đặt ra nghĩa vụ của NLC phải đối đáp, trả lời khi được đặt câu hỏi mà chỉ yêu cầu NLC khai báo trung thực, cung cấp những thông tin mà mình có được có liên quan đến vụ án[5]. NLC cũng không bị buộc phải có mặt tại phiên tòa để đối đáp, tranh tụng nếu trước đó đã có lời khai trực tiếp với Tòa án hoặc đã gửi lời khai cho Tòa án và chủ tọa phiên tòa chỉ cần công bố lời khai đó[6]. Trong khi đó, Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để giải quyết vụ án[7]. Như vậy, LKNLC vẫn có thể được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án kể cả khi lời khai đó không được đương sự hỏi và đối đáp với NLC tại phiên tòa, điều này là không phù hợp với bản chất, đặc điểm đặc thù của NLC đã được phân tích ở trên và khiến cho việc đánh giá, sử dụng LKNLC trở nên khó khăn, không hiệu quả, đơn cử như trường hợp tại Bản án số 211/2022/DS-PT được phân tích dưới đây.
Trong vụ án tại Bản án số 211/2022/DS-PT[8], nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bị đơn vô hiệu vì chỉ nhằm bảo đảm khoản vay của các bên. Ngược lại, bị đơn khẳng định đã giao 1,6 tỷ đồng cho nguyên đơn để thực hiện hợp đồng nên giao dịch này không vô hiệu. Cấp sơ thẩm tuyên hợp đồng vô hiệu nhưng đã dựa vào lời khai của những NLC để xác định bị đơn có giao khoản tiền mua đất, từ đó buộc nguyên đơn hoàn trả 1,6 tỷ đồng[9]. Tại cấp phúc thẩm, nhận thấy lời khai của những NLC không xác định rõ người nhận tiền là ai, số tiền là bao nhiêu và mục đích giao tiền là gì; ngoài ra, NLC không có mặt theo giấy triệu tập, không thể tiến hành việc đối chất. Vì vậy, những lời khai này đã không được Tòa án phúc thẩm sử dụng và vì không có chứng cứ nào khác chứng minh việc giao nhận tiền, Tòa án không buộc nguyên đơn phải hoàn trả số tiền này.
Có thể thấy, vấn đề của tranh tụng đối với LKNLC không chỉ nằm ở việc pháp luật có ghi nhận quyền hỏi, đối chất hay không, mà ở khả năng các quyền đó được thực hiện trên thực tế. Trong những trường hợp lời khai còn điểm chưa rõ, mâu thuẫn hoặc có ý nghĩa trực tiếp đối với kết quả giải quyết vụ án như vụ án nêu trên, nếu NLC tham gia phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm để đối đáp các câu hỏi của đương sự/Tòa án thì phán quyết về nghĩa vụ hoàn trả số tiền 1,6 tỷ đồng của nguyên đơn sẽ có sức thuyết phục hơn và đảm bảo tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các bên. Vì vậy, việc bảo đảm tranh tụng phải đồng thời gắn quyền hỏi của đương sự với nghĩa vụ tham gia và trả lời của NLC. Chính từ yêu cầu này, vấn đề tiếp theo là phải có cơ chế đủ hiệu quả để bảo đảm NLC tham gia tố tụng một cách hiệu quả, thực chất.
3. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ làm chứng và chế tài đối với người cung cấp lời khai - tham khảo kinh nghiệm một số quốc gia và gợi mở cho Việt Nam
NLC có nghĩa vụ cung cấp toàn bộ thông tin mà mình có được liên quan đến việc giải quyết vụ việc, có mặt theo giấy triệu tập, khai báo trung thực và phải cam đoan trước Tòa án về việc này[10]. Nếu không có mặt theo giấy triệu tập mà không có lý do chính đáng, gây trở ngại cho hoạt động tố tụng của Tòa án, NLC có thể bị dẫn giải và có thể bị xử phạt hành chính đến 1.000.000 đồng[11]. Nếu khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng, NLC có thể bị xử phạt hành chính đến 1.000.000 đồng, hoặc bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm, nếu gây thiệt hại cho đương sự hoặc người khác thì phải bồi thường thiệt hại[12]. Có thể thấy, đây đều là những chế tài mang tính răn đe thấp, số tiền phạt hành chính không lớn; dù có quy định về trách nhiệm hình sự nhưng trên thực tế việc chứng minh đầy đủ các yếu tố cấu thành để kết tội đối với tội danh này là phức tạp và số lượng vụ án xét xử về tội danh này là rất ít.
Tại Anh và xứ Wales, để một bản LKNLC đã nộp trước đó có giá trị chứng minh, về nguyên tắc, NLC đó phải đến Tòa án để khai báo trực tiếp và phải trả lời câu hỏi của bên đối lập, trừ những trường hợp ngoại lệ. Việc không tuân thủ lệnh triệu tập, từ chối khai báo (bao gồm cả việc không thực hiện việc đối đáp, trả lời câu hỏi tại phiên tòa) hoặc khai báo sai sự thật có thể dẫn đến chế tài đối với hành vi không chấp hành lệnh của Tòa án hoặc cản trở hoạt động của Tòa án[13]. Trong tố tụng liên bang Hoa Kỳ, NLC phải tuyên thệ hoặc cam kết khai trung thực và chịu sự kiểm tra bằng biện pháp thẩm vấn chéo (cross-examination)[14]; việc cố ý khai sai sự thật về vấn đề trọng yếu trong quá trình thẩm vấn chéo, khi đủ điều kiện luật định, có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù[15]. Tại Đức, các bên có quyền đề nghị đặt câu hỏi đối với NLC để làm rõ vụ việc. NLC vắng mặt sau khi được triệu tập hợp lệ mà không có lý do được chấp nhận, hoặc từ chối khai báo, kể cả từ chối trả lời câu hỏi thuộc phạm vi nghĩa vụ làm chứng, mà không có căn cứ hợp pháp, có thể phải chịu các chi phí phát sinh, tiền phạt và biện pháp cưỡng chế theo quy định pháp luật[16].
Quy định tại các quốc gia nêu trên cho thấy quyền được hỏi, nghĩa vụ trả lời, đối đáp và chế tài khi NLC vi phạm nghĩa vụ đều cần được quy định một cách cụ thể và đầy đủ. Quyền được hỏi NLC chỉ có ý nghĩa khi NLC có mặt, trả lời và chế tài hữu hiệu là công cụ bảo đảm các nghĩa vụ đó được thực hiện. Kinh nghiệm này gợi mở cho Việt Nam hoàn thiện quy định về người làm chứng trong tố tụng dân sự theo hai phương diện, một mặt quy định quyền hỏi của đương sự gắn liền với nghĩa vụ có mặt, đối đáp và trả lời câu hỏi của NLC; mặt khác quy định hậu quả/chế tài hữu hiệu đối với những vi phạm nghĩa vụ nêu trên của NLC.
Ngoài ra, ở một góc nhìn rộng hơn, đương sự cũng là một chủ thể có quyền cung cấp lời khai và lời khai của họ cũng được quy định là một nguồn chứng cứ[17]; nếu đương sự cung cấp lời khai gian dối hoặc từ chối đối đáp/trả lời câu hỏi từ đối phương thì không phải chịu các hình thức xử phạt hành chính hay hình sự. Ngoài ra, đương sự cũng không phải thực hiện việc cam đoan khai báo đúng sự thật như NLC. Như vậy, lời khai của đương sự có thể được sử dụng để chứng minh sự kiện tương tự như làm chứng nhưng họ không phải bị áp dụng những cơ chế trách nhiệm tương ứng. Trên thực tế, việc đương sự chỉ khai báo những nội dung có lợi cho mình, né tránh hoặc khai sai sự thật về những nội dung bất lợi là không hiếm và điều này khiến việc giải quyết vụ án trở nên khó khăn và kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Pháp luật Liên bang Hoa Kỳ đặt ra nguyên tắc không loại trừ năng lực làm chứng chỉ vì một người là đương sự; người nào khi thực hiện việc làm chứng, thì được coi là NLC và phải tuyên thệ hoặc cam kết trung thực và có thể chịu trách nhiệm về hành vi cố ý khai sai sự thật[18]. Cách tiếp cận này gợi mở việc xem xét, nghiên cứu và quy định cho phép đương sự cung cấp lời khai được sử dụng làm chứng cứ thì việc cung cấp lời khai đó phải áp dụng các quyền, nghĩa vụ/trách nhiệm/chế tài như áp dụng đối với NLC.
[1] Douglas Walton, Witness Testimony Evidence: Argumentation, Artificial Intelligence, and Law, Nxb. Cambridge University Press, 2008, tr.44-45.
[2] Ho Hock Lai, A Philosophy of Evidence Law: Justice in the Search for Truth, Nxb. Oxford University Press, 2008, tr.240-241.
[3] C. A. J. Coady, Testimony: A Philosophical Study, Nxb. Clarendon Press, 1994, tr.42.
[4] Điều 24, khoản 19 Điều 70, Điều 100, các khoản 2, 3 và 5 Điều 253 BLTTDS.
[5] Điều 78 BLTTDS.
[6] Theo Điều 229 BLTTDS. Trong trường hợp việc vắng mặt gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án, Hội đồng xét xử có thể quyết định hoãn phiên tòa nhưng việc hoãn phiên tòa này tùy thuộc vào ý chí chủ quan của Hội đồng xét xử và làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, trong khi việc thực thi các chế tài đối với việc người làm chứng không có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập là không hiệu quả như được phân tích tại Mục 3 của bài viết này.
[7] Điều 108 và điểm b khoản 2 Điều 266 BLTTDS.
[8] Bản án số 211/2022/DS-PT ngày 03/6/2022 của TAND tỉnh Đ, tr.7, 12-15.
[9] Gồm: (i) Ông P: “Việc giao tiền vay như sau: lần 1 tại quán cà phê phía trước cơ quan công chứng giao 850 triệu đồng (sau khi công chứng và có ông P [nhân chứng] chứng kiến); lần 2 nghe nói là giao 600 triệu đồng; lần 3 ông P [nhân chứng] nhận tiền giùm ông K [nguyên đơn] 150 triệu đồng nhưng biên nhận do ông K [nguyên đơn] ký tên”; (ii) Ông L: “[...] có nghe ông K1 [bị đơn] nói giao tiền để mua hai miếng đất và ông có thấy ông K1 [bị đơn] giao tiền cho một người nhưng không biết tên [...]”. (iii) Ông D: “[...] có nghe ông K1 [bị đơn] nói giao tiền để mua hai miếng đất của ông K [nguyên đơn] và thấy ông K1 [bị đơn] giao cho ông K [nguyên đơn] một bọc tiền của ông Nguyễn Thành L và một bọc tiền do ông K1 lấy ra từ cốp xe nhưng không biết số tiền là bao nhiêu và thấy ông K kiểm tiền”; (iv) Bà B: “ông K1 [bị đơn] hẹn bà đến quán cà phê Lương D để nhận 20 triệu đồng của ông K1 cho vay và bà B cũng thấy ông K1 đưa tiền cho một người đàn ông (không biết tên) [...] sau khi người đàn ông đó bỏ đi thì ông K1 mới quay trở lại nói với ông L, ông D, bà B là vừa mua được miếng đất của ông K 1,6 tỷ đồng”.
[10] Điều 78 BLTTDS.
[11] Khoản 8 Điều 78, khoản 3 Điều 229, khoản 2, khoản 3 Điều 490 BLTTDS; Điều 16 Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 ngày 18/8/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15).
[12] Khoản 2 Điều 489 BLTTDS, các điểm b, c khoản 1 Điều 18 Pháp lệnh số 02; Điều 382 và Điều 383 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).
[13] Adrian Keane và Paul McKeown, The Modern Law of Evidence, ấn bản thứ 13, Nxb. Oxford University Press, 2020, tr.127, 150-151; Civil Procedure Rules, Quy tắc 32.5, 32.11 và 32.14, https://www.justice.gov.uk/courts/procedure-rules/civil/rules/part32.
[14] Thẩm vấn chéo là thủ tục hỏi NLC, thông thường do bên đối lập thực hiện sau phần hỏi của bên đã đưa NLC ra làm chứng, nhằm kiểm tra nội dung lời khai và độ tin cậy của NLC. Theo Quy tắc 611(b) của Quy tắc chứng cứ liên bang Hoa Kỳ, phạm vi thẩm vấn chéo về nguyên tắc giới hạn ở nội dung đã được hỏi trước đó và những vấn đề ảnh hưởng đến độ tin cậy của NLC; Tòa án có thể cho phép hỏi thêm về những vấn đề khác, https://www.law.cornell.edu/rules/fre/rule_611.
[15] Quy tắc chứng cứ liên bang Hoa Kỳ, Quy tắc 603, Quy tắc 611, https://www.uscourts.gov/sites/default/files/document/federal-rules-of-evidence.pdf; 18 U.S.C. § 1621, https://uscode.house.gov/us/usc/119-118/t18/s1621/.
[16] BLTTDS Đức (ZPO), các Điều 380, 381, 384, 390 và 397, https://www.gesetze-im-internet.de/zpo/index.html.
[17] Khoản 3 Điều 94 BLTTDS.
[18] Quy tắc chứng cứ liên bang Hoa Kỳ, Quy tắc 601 và phần giải thích của Ủy ban tư vấn, https://www.law.cornell.edu/rules/fre/rule_601; Quy tắc 603 và Quy tắc 611(c)(2), https://www.uscourts.gov/sites/default/files/document/federal-rules-of-evidence.pdf; 18 U.S.C. § 1621, https://uscode.house.gov/us/usc/119-118/t18/s1621/.
Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Tòa án nhân dân tối cao triển khai Kế hoạch hoàn thiện vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027–2031
-
Quyền được lắng nghe của bị hại trong tố tụng hình sự: Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức và gợi mở cho Việt Nam
-
Chánh án TANDTC Nguyễn Văn Quảng tiếp Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam
-
Nâng cao chất lượng xét xử, gắn kết quả công tác với trách nhiệm người đứng đầu
-
LÁ CHẮN TRƯỚC CÁC XUẤT BẢN PHẨM MANG “ĐỘC TỐ”
Bài 2: Xuất bản phẩm điện tử thực trạng đáng báo động
Bình luận