Một số vướng mắc trong giải quyết vụ án hình sự khởi tố theo yêu cầu của bị hại mà có nhiều bị cáo
Bài viết tập trung nghiên cứu, xác định những khó khăn, vướng mắc trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng trong thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật; từ đó, đưa ra các giải pháp kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự và các giải pháp khác bảo đảm việc áp dụng pháp luật để giải quyết vấn đề.
Đặt vấn đề
Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại là một chế định đặc biệt trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, thể hiện sự tôn trọng quyền tự định đoạt của bị hại, người đại diện của họ, mang tính nhân văn, tạo điều kiện để hàn gắn những mâu thuẫn trong quá trình tố tụng hình sự, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí tố tụng. Thực tiễn tố tụng giải quyết vụ án hình sự tại Tòa án trong trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại mà có nhiều bị cáo và sau đó bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm đã tồn tại một số khó khăn, vướng mắc đòi hỏi pháp luật tố tụng hình sự phải được điều chỉnh theo hướng quy định rõ ràng, chặt chẽ để bảo đảm việc nhận thức và áp dụng thống nhất.
1. Thực tiễn áp dụng pháp luật
1.1. Tình huống cụ thể
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2021/HS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh N đã quyết định: “Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh Ch (T), Lê Minh C phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh Ch (T) 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 23/12/2020 đến ngày 06/5/2021. Xử phạt bị cáo Lê Minh C 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Kháng cáo của bị cáo, bị hại:
Ngày 27/10/2021, bị cáo Lê Minh C kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ. Ngày 27/10/2021, bị hại Nguyễn Văn T có kháng cáo, xin bãi nại, xin cho bị cáo Lê Minh C được hưởng án treo. Ngày 29/11/2021, anh Nguyễn Văn T có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với bị cáo Lê Minh C, Huỳnh Thanh Ch.
Bị cáo Huỳnh Thanh Ch không có kháng cáo, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh N đã có Quyết định thi hành án phạt tù số 41/2021/QĐ-CA ngày 19/11/2021 và Công an huyện T đã bắt thi hành án ngày 06/12/2021.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Minh C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; bị hại Nguyễn Văn T đã nhận đủ 30.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại về dân sự từ Lê Minh C và Huỳnh Thanh Ch, xin rút yêu cầu khởi tố, không yêu cầu bị cáo Ch, C bồi thường dân sự nữa và xin xét xử vắng mặt.
- Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 76/2021/HS-PT ngày 28/12/2021 của TAND tỉnh N, Hội đồng xét xử nhận định và quyết định như sau:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với các bị cáo Huỳnh Thanh Ch, Lê Minh C về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm” theo điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Lê Minh C, bị hại Nguyễn Văn T, thấy rằng: Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, giữa các bị cáo Lê Minh C, Huỳnh Thanh Ch và bị hại Nguyễn Văn T thỏa thuận việc bồi thường các chi phí điều trị thương tích của anh Nguyễn Văn T là 30.000.000 đồng. Bị cáo và bị hại đã thực hiện, giao nhận đủ số tiền 30.000.000 đồng. Bị hại Nguyễn Văn T xin rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Lê Minh C, Huỳnh Thanh Ch.
Xét việc rút yêu cầu khởi tố của anh Nguyễn Văn T là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận; Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bản án sơ thẩm số: 38/2021/HS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh N và đình chỉ vụ án. Anh Nguyễn Văn T đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại. Việc đình chỉ vụ án là do người bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.
Hội đồng xét xử quyết định như sau: Căn cứ vào khoản 2 Điều 155, điểm d khoản 1 Điều 355, Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự. Hủy bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2021/HS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh N và đình chỉ vụ án.
1.2. Một số vướng mắc, bất cập
Trường hợp vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại mà có nhiều bị cáo. Khi xét xử phúc thẩm nếu phần bản án, quyết định đối với một hoặc một số bị cáo đã có hiệu lực pháp luật (do bị cáo không kháng cáo, hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định), nhưng sau đó người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu khởi tố vụ án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm thì Tòa án có thể áp dụng Điều 345 và Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 để hủy án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với những bị cáo mà phần bản án, quyết định của họ đã có hiệu lực pháp luật hay không? BLTTHS năm 2015 chưa quy định cụ thể về nội dung này. Điều này có thể dẫn đến việc hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất trên thực tiễn.
Trong tình huống ở trên, vụ án có 02 bị cáo là bị cáo Lê Minh C và Huỳnh Thanh Ch. Trong đó bị cáo Lê Minh C kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ. Ngày 27/10/2021, bị hại Nguyễn Văn T có kháng cáo, xin bãi nại, xin cho bị cáo Lê Minh C được hưởng án treo. Ngày 29/11/2021, anh Nguyễn Văn T có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với bị cáo Lê Minh C, Huỳnh Thanh Ch.
Bị cáo Huỳnh Thanh Ch không có kháng cáo, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh N đã có Quyết định thi hành án phạt tù số 41/2021/QĐ-CA ngày 19/11/2021 và Công an huyện T đã bắt thi hành án ngày 06/12/2021. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Minh C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; bị hại Nguyễn Văn T đã nhận đủ 30.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại về dân sự từ Lê Minh C và Huỳnh Thanh Ch, xin rút yêu cầu khởi tố, không yêu cầu bị cáo Ch, C bồi thường dân sự nữa và xin xét xử vắng mặt. Tòa án cấp phúc thẩm đã căn cứ vào khoản 2 Điều 155, điểm d khoản 1 Điều 355, Điều 359 BLTTHS để hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2021/HS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh N và đình chỉ vụ án.
Trong vụ án này, phần bản án của bị cáo Huỳnh Thanh Ch đã có hiệu lực pháp luật và Ch đang chấp hành án trên thực tế nhưng Tòa án cấp phúc thẩm nhận định bị cáo Huỳnh Thanh Ch không có kháng cáo nhưng có liên quan đến yêu cầu rút khởi tố của bị hại Nguyễn Văn T nên cần xem xét đối với cả bị cáo Huỳnh Thanh Ch theo quy định tại Điều 345 của BLTTHS.
Tác giả nhận thấy, việc Tòa án căn cứ vào Điều 345 và Điều 359 để hủy án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với phần bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của Huỳnh Thanh Ch là có lợi đối với người bị kết án.
Tuy nhiên, việc Tòa án vượt quá phạm vi xét xử phúc thẩm để hủy án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với phần bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật chưa được quy định và hướng dẫn cụ thể nên có thể dẫn đến những quan điểm áp dụng khác nhau trên thực tiễn. Bởi vì, đối tượng của xét xử phúc thẩm là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị (Điều 330 BLTTHS năm 2015). Trường hợp đặc biệt tại khoản 3 Điều 357 BLTTHS năm 2015 thì Tòa án cấp phúc thẩm được xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị để sửa án theo hướng có lợi cho các bị cáo không có kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị (phần bản án này đã có hiệu lực pháp luật). Ngoài trường hợp này thì BLTTHS năm 2015 không quy định trường hợp ngoại lệ nào khác.
Vấn đề đặt ra là việc Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng Điều 345 BLTTHS năm 2015 để hủy án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với phần bản án của Huỳnh Thanh Ch trong trường hợp trên có phù hợp hay không? Như vậy, đây là vấn đề nếu không được quy định, hướng dẫn cụ thể sẽ dẫn đến việc hiểu và áp dụng không thống nhất trên thực tiễn. Vì vậy, tác giả cho rằng BLTTHS năm 2015 cần quy định cụ thể về trường hợp này trong chế định về thủ tục xét xử phúc thẩm.
2. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật
Xác định nguyên nhân cơ bản của thực trạng trên chủ yếu xuất phát từ sự chưa hoàn thiện trong quy định của BLTTHS năm 2015 về rút yêu cầu khởi tố vụ án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, dẫn đến thực tiễn áp dụng pháp luật còn tồn tại khó khăn, bất cập và chưa thống nhất như tác giả đã minh chứng ở trên.
Trên cơ sở của việc phân tích, đánh giá những bất cập trong quy định của pháp luật và thực tiễn, tác giả đưa ra giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật như sau:
Cần quy định rõ trường hợp vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại mà có nhiều bị cáo, khi xét xử phúc thẩm nếu phần bản án, quyết định đối với một hoặc một số bị cáo đã có hiệu lực pháp luật (do bị cáo không kháng cáo, hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định) nhưng người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu khởi tố vụ án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm (khi bị hại hoặc người đại diện rút yêu cầu khởi tố vụ án phần bản án đã có hiệu lực pháp luật).
Theo đó, tác giả kiến nghị bổ sung vào khoản 3 Điều 359 BLTTHS năm 2015 nội dung: "Trong trường hợp vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, nếu bị hại hoặc người đại diện của họ tự nguyện rút yêu cầu khởi tố, Tòa án cấp phúc thẩm có thể áp dụng Điều 345 Bộ luật này để hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo hướng có lợi cho bị cáo".
Kết luận
Trên cơ sở của việc phân tích, đánh giá những bất cập trong quy định của pháp luật và thực tiễn, tác giả đã mạnh dạn đưa ra giải pháp kiến nghị với mong muốn góp phần nhỏ trong việc tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho để giải quyết vụ án, đảm bảo tính công bằng và tránh các thủ tục pháp lý rườm rà.
Trên đây là quan điểm của tác giả, rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của đồng nghiệp và bạn đọc.
TAND tỉnh Cà Mau - Cơ sở 2 tại phường Bạc Liêu xét xử vụ án hình - Nguồn: Báo Cà Mau.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
12 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Tạo đột phá cho giai đoạn phát triển 2026-2030
-
Vướng mắc khi định tội danh “sử dụng trái phép chất ma túy” theo Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Hệ thống Tòa án của Canada
-
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và vấn đề thực thi - Kinh nghiệm từ một số quốc gia phát triển
-
Thể lệ, Quy trình phản biện, Hội đồng Biên tập và Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tạp chí Toà án nhân dân
Bình luận