Nguyễn C phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”

Sau khi nghiên cứu bài viết Nguyễn C có bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên không” của tác giả Đinh Minh Lượng đăng ngày 11/01/2026, tôi đồng tình với quan điểm thứ nhất, Nguyễn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tại mục 4 Phần I Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính quy định:

“4. Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu, mà trị giá tài sản của các lân phạm tội đã được cộng lại đề xứ lý trách nhiệm hình sự theo khung tăng nặng, thì họ có bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” hay không?

Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu (ví dụ: nhiều lần phạm tội trộm cắp tài sản), mà tổng trị giá tài sản của các lần phạm tội thỏa mãn dấu hiệu định khung tăng nặng, nêu các lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với trị giá tài sản chiếm đoạt, họ còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Việc áp dụng khung hình phạt tăng nặng trong trường hợp này là căn cứ vào trị giá tài sản chiếm đoạt, còn việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "phạm tội 02 lần trở lên" là căn cứ vào nhân thân và thái độ chấp hành pháp luật của người phạm tội, nên hoàn toàn không trái với quy định tại khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự (các tình tiết đã được Bộ luật Hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiêt tăng nặng). Hơn nữa, việc áp dụng pháp luật như trên còn bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc xử lý trách nhiệm hình sự (quy định tại Điều 3 của Bộ luật Hình sự), bảo đảm sự phân hóa tội phạm, cá thể hóa trách nhiêm hình sự đồng thời bảo đảm sự công bằng trong việc xem xét cho hướng ản treo, tha tù trước thời hạn có điều kiện cũng như các chế định nhân đạo khác đối với người phạm tội.

Ví dụ: Một người trộm cắp 02 lần mỗi lần 2.000.000 đồng, Do thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự nên theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP thì họ không được hưởng án treo. Tuy nhiên, giả sử hai lân trộm cắp đó có tổng trị giá tài sản là 50.000.000 đồng, nếu Tòa án chỉ căn cứ vào trị giá tài sản để áp dụng tình tiết định khung "chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến đưới 200.000.000 đồng", mà không căn cứ vào nhân thân và thái độ chấp hành pháp luật của người phạm tồi để áp dụng tình tiết "phạm tội 02 lần trở lên" thì họ vẫn có thể được hưởng án treo. Viêc áo dụng như vậy sẽ không bảo đảm nguyên tăc công bằng và phù hợp trong việc xử lý”.

Quay trở lại nội dung vụ án, Nguyễn C biết chị Y đang có nhu cầu tìm việc làm cho con trai nên đã đưa ra thông tin sai sự thật, làm cho chị Y tin tưởng là C có người quen xin được việc cho con trai của mình tại Công an tỉnh GL.

Ngày 18/5/2023, C đưa ra thông tin cần tiền tiếp khách quan hệ. Theo yêu cầu của C, chị Y đã chuyển khoản 100.000.000 đồng.

Ngày 15/7/2023, C đưa ra thông tin có đoàn công tác của Bộ Công an đang làm việc tại Công an tỉnh GL liên quan đến việc rà soát tuyển cán bộ, nên yêu cầu và chị Y đã chuyển khoản cho mình số tiền 50.000.000 đồng.

Ngày 29/8/2023, C gọi điện nói việc liên hệ để xin vào làm việc tại Công an tỉnh GL rất khó và yêu cầu chuyển thêm tiền. Theo yêu cầu của C, chị Y đã chuyển 100.000.000 đồng.

Như vậy, ngay trong lần đầu tiên là ngày 18/5/2023, khi chị Y chuyển khoản cho Nguyễn C 100.000.000 đồng thì tội phạm đã được hoàn thành. Hành vi phạm tội của Nguyễn C đã đủ yêu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chưa dừng lại ở đó, Nguyễn C tiếp tục có hành vi lừa đảo bằng thủ đoạn tương tự là đưa ra thông tin sai sự thật để chị Y tin và chuyển tiền cho Nguyễn C vào ngày 15/7/2023 và 29/8/2023. Tổng 03 lần, Nguyễn C đã chiếm đoạt của chị Y với tổng số tiền là 250.000.000 đồng. Mỗi lần phạm tội của Nguyễn C đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Giá trị tài sản của các lần phạm tội được cộng lại để xử lý trách nhiệm hình sự theo khung tăng nặng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015. Ngoài ra, Nguyễn C còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là đúng tinh thần của công văn giải đáp.

Mặt khác, việc áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở” lên đối với Nguyễn C là đảm bảo đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào nhân thân và thái độ phạm tội của Nguyễn C. Ngay từ lần đầu chị Y tin tưởng chuyển tiền cho Nguyễn C, nếu C ý thức được hành vi nguy hiểm của mình mà dừng lại ở lần phạm tội này thì mức độ  phạm tội đã khác, nhưng bản chất tham lam coi thường pháp luật nên C nhận thấy bằng thủ đoạn này vẫn có thể chiếm đoạt được tiền của chị Y nên tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền lần 2, lần 3. Không thể lấy lý do là ngay từ ban đầu giữa Nguyễn C và chị Y không thỏa thuận thống nhất xin việc hết bao nhiêu tiền để làm căn cứ không áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” bởi đây không phải căn cứ dùng để áp dụng tình tiết này. Nếu sự việc không bị bại lộ sau 4 tháng chưa có quyết định đi làm (trường hợp C hứa xin việc trong thời gian lâu hơn) thì chắc rằng nếu không thỏa thuận việc xin việc hết bao nhiêu tiền cho con của chị Y thì Nguyễn C lại tiếp tục đưa ra thông tin sai sự thật để chiếm đoạt tiền của chị Y lần 4, lần 5… mà không chỉ dùng lại ở 03 lần trên. Như vậy, nếu không áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” thì sẽ không đảm bảo nguyên tắc công bằng và phù hợp trong việc đánh giá mức độ phạm tội của Nguyễn C. Hành vi chiếm đoạt giá trị tài sản một lần của bị hại là 250.000.000 đồng khác hoàn toàn với hành vi chiếm đoạt nhiều  lần mà cộng lại giá trị tài sản 250.000.000 đồng ở mức độ phạm tội và cả thái độ phạm tội.

Trên đây là quan điểm của tác giả xin được trao đổi với bạn đọc.

ĐOÀN THỊ HÀ (Thẩm phán TAND Khu vực 2 - Khánh Hòa)

TAND tỉnh Ninh Bình xét xử vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Ảnh: Lương Ngọc.