Phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong tố tụng hành chính: Thiết lập một khuôn khổ phối hợp toàn diện, chi tiết
Thông tư liên tịch số 08/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/3/2026 quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính đã thiết lập một khuôn khổ phối hợp toàn diện, chi tiết hơn so với trước đây. Các quy định mới tập trung làm rõ trách nhiệm, trình tự và thời hạn trong từng khâu tố tụng, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hành chính và hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp.
Thông tư liên tịch số 08/2026 xác định rõ phạm vi điều chỉnh là việc phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong thi hành các quy định của Luật Tố tụng hành chính liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của hai cơ quan; việc tham gia phiên tòa, phiên họp; chuyển hồ sơ, tài liệu, chứng cứ; gửi văn bản tố tụng; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát.
Đối tượng áp dụng bao gồm Tòa án, Viện kiểm sát các cấp; các đơn vị, cá nhân có thẩm quyền trong hai ngành và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Quy định này bảo đảm tính bao quát, đồng bộ trong tổ chức thực hiện.
Một nội dung đáng chú ý là quy định về việc ký quyết định kháng nghị. Theo đó, Chánh án, Viện trưởng trực tiếp ký quyết định kháng nghị hoặc phân công Phó Chánh án, Phó Viện trưởng ký thay. Trường hợp ký thay phải ghi rõ “KT. CHÁNH ÁN” hoặc “KT. VIỆN TRƯỞNG”. Quy định này tuy mang tính kỹ thuật nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính hợp lệ của quyết định kháng nghị và thống nhất thực tiễn áp dụng.
Quy trình chuyển hồ sơ, tài liệu, chứng cứ và gửi văn bản tố tụng
Đối với việc chuyển hồ sơ để Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp, Tòa án thực hiện theo các điều khoản tương ứng của Luật Tố tụng hành chính. Đáng chú ý, trong trường hợp kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực, hồ sơ phải được gửi ngay cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh và sau khi thụ lý, Tòa án cấp tỉnh chuyển ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu; Viện kiểm sát phải trả hồ sơ trong thời hạn 15 ngày.
Đối với các phiên họp cụ thể, thời hạn xử lý được quy định rõ: 05 ngày đối với hồ sơ xét kháng cáo quá hạn, 07 ngày đối với hồ sơ phúc thẩm. Quy định này góp phần bảo đảm tiến độ giải quyết vụ án và tránh kéo dài thời gian tố tụng.
Thông tư cũng quy định cụ thể việc chuyển hồ sơ để xem xét kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm với các mốc thời hạn rõ ràng. Đối với trường hợp xem xét kháng nghị phúc thẩm, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Tòa án phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát; chậm nhất ngay sau khi hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ cho Tòa án.
Đối với việc xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Tòa án phải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền; sau khi hết thời hạn kháng nghị theo quy định của Luật Tố tụng hành chính, hồ sơ phải được trả lại cho Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu.
Trường hợp Tòa án và Viện kiểm sát cùng có yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, việc chuyển hồ sơ được thực hiện theo thứ tự và điều kiện cụ thể.
Trường hợp cùng nhận được văn bản yêu cầu của Tòa án và Viện kiểm sát hoặc trường hợp đã nhận được văn bản yêu cầu của Viện kiểm sát trước nhưng trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, hồ sơ chưa được chuyển cho Viện kiểm sát mà lại nhận được yêu cầu của Tòa án thì Tòa án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ sơ cho Tòa án có yêu cầu và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có yêu cầu biết.
Trường hợp Tòa án hoặc Viện kiểm sát đã nhận được hồ sơ trước thì trong thời hạn 03 tháng (hoặc trong thời hạn 06 tháng đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan) kể từ ngày nhận được hồ sơ, nếu Tòa án, Viện kiểm sát không kháng nghị thì việc chuyển hồ sơ được thực hiện như sau: Nếu Tòa án đã nhận được hồ sơ trước nhưng không có kháng nghị mà Viện kiểm sát tiếp tục có yêu cầu chuyển hồ sơ thì Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đã có yêu cầu và thông báo ngay cho Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu. Trường hợp Viện kiểm sát không tiếp tục yêu cầu chuyển hồ sơ thì Tòa án trả lại hồ sơ cho Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu. Viện kiểm sát có yêu cầu đã nhận được hồ sơ nhưng không kháng nghị thì Viện kiểm sát chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu. Nếu Viện kiểm sát đã nhận được hồ sơ trước nhưng không có kháng nghị mà Tòa án tiếp tục có yêu cầu chuyển hồ sơ thì Viện kiểm sát chuyển hồ sơ cho Tòa án đã có yêu cầu và thông báo ngay cho Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu. Trường hợp Tòa án không tiếp tục yêu cầu chuyển hồ sơ thì Viện kiểm sát trả lại hồ sơ cho Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu. Tòa án có yêu cầu đã nhận được hồ sơ nhưng không kháng nghị thì Tòa án chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu.
Trường hợp Tòa án đang quản lý hồ sơ nhận được yêu cầu của Tòa án hoặc Viện kiểm sát trước mà không có quyết định hoãn thi hành án hoặc yêu cầu hoãn thi hành án, nếu trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, hồ sơ chưa được chuyển cho cơ quan đó, thì Tòa án chuyển hồ sơ cho Tòa án hoặc Viện kiểm sát đã ra quyết định hoãn thi hành án hoặc đã có yêu cầu hoãn thi hành án và thông báo cho cơ quan không được chuyển hồ sơ biết.
Tòa án và Viện kiểm sát phối hợp trong việc chuyển hồ sơ vụ án để bảo đảm cho việc xem xét kháng nghị khi thuộc một trong những trường hợp sau đây: Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm còn lại không quá 06 tháng; Sau khi Tòa án đã chuyển hồ sơ cho Tòa án hoặc Viện kiểm sát có yêu cầu nhưng không ra quyết định hoãn thi hành án hoặc không có yêu cầu hoãn thi hành án mới nhận được yêu cầu chuyển hồ sơ của Tòa án hoặc Viện kiểm sát có quyết định hoãn thi hành án hoặc có yêu cầu hoãn thi hành án; Để phục vụ hoạt động giám sát của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.
Về phương thức chuyển hồ sơ, Thông tư cho phép thực hiện qua đường bưu chính, trực tiếp hoặc bằng phương tiện điện tử. Quy trình kiểm tra niêm phong, đối chiếu tài liệu, lập biên bản giao nhận được quy định chặt chẽ, bảo đảm tính toàn vẹn của hồ sơ. Đồng thời, quy định rõ việc chuyển bổ sung tài liệu, chứng cứ giữa hai cơ quan khi phát sinh tình tiết mới, bảo đảm đầy đủ căn cứ cho việc giải quyết vụ án.
Bên cạnh đó, Thông tư quy định cụ thể việc gửi các loại văn bản tố tụng: quyết định chuyển vụ án, văn bản trả lại đơn khởi kiện, thông báo về kháng cáo, quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định buộc thi hành án… với các mốc thời hạn rõ ràng. Đây là cơ sở để tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động tố tụng hành chính.
Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị của viện kiểm sát
Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định việc thực hiện các quyền yêu cầu, quyền kiến nghị theo quy định của Luật Tố tụng hành chính và Thông tư liên tịch này; Kiểm sát viên thực hiện các quyền yêu cầu, quyền kiến nghị trong phạm vi được quy định, bao gồm yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ án hành chính, yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu, yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ và kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện.
Việc yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ được thực hiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính và Thông tư liên tịch. Theo đó, Kiểm sát viên phải nêu rõ chứng cứ cần xác minh, thu thập và lý do của việc yêu cầu; Tòa án có trách nhiệm thực hiện và gửi cho Kiểm sát viên tài liệu, chứng cứ đã thu thập được hoặc thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do trong trường hợp không thực hiện. Tại phiên tòa, nếu Kiểm sát viên có yêu cầu thì Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu; việc này phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Đối với việc tham gia phiên tòa, phiên họp, Thông tư quy định việc phân công, thay đổi Kiểm sát viên, cũng như trách nhiệm tham gia của Kiểm sát viên trong từng trường hợp cụ thể. Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng; đồng thời phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án trên cơ sở phân tích, đánh giá tài liệu, chứng cứ và căn cứ pháp luật được áp dụng, bao gồm cả việc kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với quy định của pháp luật (nếu có).
Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án cùng cấp và Tòa án cấp dưới ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo; yêu cầu kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Thời hạn để Tòa án thực hiện yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát được quy định cụ thể theo từng trường hợp. Theo đó, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, Tòa án phải xem xét, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát; trường hợp vụ việc phức tạp thì trả lời trong thời hạn 15 ngày. Đối với trường hợp kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị, thời hạn trả lời là 15 ngày; trường hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn trả lời không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị.
Trường hợp có căn cứ xác định việc giải quyết khiếu nại, tố cáo không đúng pháp luật, Viện kiểm sát kiến nghị với Tòa án cùng cấp hoặc Tòa án cấp dưới khắc phục vi phạm. Trường hợp Tòa án không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu, kiến nghị thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án cấp trên theo quy định của Thông tư liên tịch này.
Thông tư liên tịch số 08/2026 có hiệu lực từ ngày 01/5/2026 và thay thế Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC. Việc ban hành văn bản mới đã kịp thời đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh hệ thống pháp luật về tố tụng hành chính có nhiều sửa đổi, bổ sung, đồng thời tạo cơ sở pháp lý vững chắc để tăng cường phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong thực tiễn.
Bài liên quan
-
Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng trong Tòa án nhân dân
-
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Quảng bỏ phiếu bầu cử tại phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
-
Đoàn Thanh niên Tạp chí Tòa án nhân dân dâng hương tại di tích lịch sử Bia Bà
-
Đoàn Thanh niên Tòa án nhân dân tối cao tổ chức Hội nghị Tuyên truyền bầu cử và triển khai công tác Tháng Thanh niên năm 2026
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Xác định nơi công cộng trong tội gây rối trật tự công cộng - Một số vướng mắc và đề xuất, kiến nghị
-
Thời gian công bố kết quả trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Các mốc thời gian sau ngày bầu cử ĐBQH khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 -
12 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Tạo đột phá cho giai đoạn phát triển 2026-2030
-
Tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Bầu cử là quyền và nghĩa vụ của công dân
Bình luận