Thông tư 16/2026/TT-TANDTC: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể yêu cầu Tòa án cung cấp thông tin
(TCTA) - Thông tư số 16/2026/TT-TANDTC của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định tương đối toàn diện về nguyên tắc, phạm vi, nội dung, hình thức công khai hoạt động của Tòa án nhân dân và việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/10/2026, góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch và tạo điều kiện để người dân tiếp cận, khai thác thông tin, giám sát hoạt động của Tòa án.
Ngày 10/9/2026, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 16/2026/TT-TANDTC(Thông tư) quy định về công khai hoạt động của Tòa án nhân dân. Thông tư được ban hành trên cơ sở Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16. Thông tư gồm 12 điều, quy định từ phạm vi, đối tượng, nguyên tắc, nội dung và hình thức công khai đến trình tự yêu cầu, cung cấp thông tin, xử lý thông tin không chính xác, không đầy đủ và trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Theo Thông tư, việc công khai hoạt động của Tòa án nhân dân phải bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu minh bạch hoạt động tư pháp và yêu cầu bảo vệ những thông tin cần được giữ bí mật theo quy định của pháp luật. Theo đó, việc công khai không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc; phải bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật điều tra, bí mật công tác, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh; đồng thời bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, dữ liệu cá nhân và người chưa thành niên cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Thông tin công khai phải đầy đủ, chính xác, kịp thời, minh bạch, tạo thuận lợi cho công dân tiếp cận, khai thác thông tin và giám sát hoạt động của Tòa án. Thông tư đồng thời xác định không công khai thông tin về cuộc họp nội bộ của Tòa án và tài liệu do Tòa án soạn thảo phục vụ công việc nội bộ; nghiêm cấm sử dụng thông tin công khai về hoạt động của Tòa án nhân dân vào mục đích trái pháp luật.
Đáng chú ý, Thông tư không áp dụng đối với thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác hoặc thông tin chưa được công khai theo quy định của pháp luật. Đối tượng áp dụng bao gồm các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Tòa án quân sự cũng thực hiện công khai theo Thông tư, trừ trường hợp pháp luật hoặc Bộ Quốc phòng có quy định khác.
Một trong những nội dung trọng tâm của Thông tư 16/2026/TT-TANDTC là xác định cụ thể các nhóm thông tin về hoạt động xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc được công khai. Theo Điều 5, nội dung công khai bao gồm thông tin thụ lý vụ án hình sự, hành chính; vụ án, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; vụ việc phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; vụ việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; vụ việc Tòa án xem xét quyết định đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc; vụ việc xem xét, quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, Tòa án công khai thông tin về việc nhận, thụ lý đơn đề nghị, văn bản yêu cầu, kiến nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; thông tin phiên tòa, phiên họp; nội quy phiên tòa, phiên họp; bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp pháp luật quy định không được công khai.
Phạm vi công khai không chỉ giới hạn ở hoạt động xét xử. Thông tư còn quy định công khai thông tin về Tòa án nhân dân; hoạt động tiếp công dân; thủ tục hành chính tư pháp; hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; phát triển án lệ; công tác tổ chức - cán bộ, tài chính, thanh tra, thi đua, khen thưởng; hợp tác quốc tế; hoạt động của Học viện Tòa án; quản lý khoa học; phổ biến, giáo dục pháp luật và các hoạt động khác theo quy định. Như vậy, phạm vi thông tin được công khai tương đối rộng, bao quát cả hoạt động xét xử và nhiều lĩnh vực quản trị, tổ chức, chuyên môn của hệ thống Tòa án.
Thông tư quy định đa dạng các hình thức công khai, trong đó đáng chú ý là việc sử dụng các phương thức điện tử và nền tảng số. Thông tin có thể được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử, Trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, các kênh thông tin, trang cộng đồng chính thức của Tòa án, nền tảng số và ứng dụng dùng chung của Tòa án. Ngoài ra, thông tin có thể được công khai trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; niêm yết, thông báo tại trụ sở Tòa án; thông qua tiếp công dân, họp báo, thông cáo báo chí và hoạt động của người phát ngôn.
Trường hợp pháp luật đã quy định cụ thể hình thức công khai thì thực hiện theo quy định đó. Nếu pháp luật chưa quy định cụ thể, căn cứ điều kiện và khả năng thực tế, Tòa án có thể lựa chọn một hoặc một số hình thức phù hợp. Quy định này tạo cơ sở để việc công khai hoạt động của Tòa án được thực hiện linh hoạt, đồng thời phù hợp với yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động tư pháp.
Một nội dung đáng lưu ý khác là Thông tư quy định khá cụ thể phương thức thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể trực tiếp hoặc thông qua người đại diện yêu cầu Tòa án cung cấp thông tin bằng ba nhóm hình thức: tại trụ sở Tòa án; qua dịch vụ bưu chính; hoặc qua Internet, bao gồm thư điện tử, Cổng thông tin điện tử, Trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng di động hoặc nền tảng số khác do Tòa án công bố.
Đặc biệt, người yêu cầu cung cấp thông tin tại trụ sở Tòa án được sử dụng điện thoại di động và các phương tiện kỹ thuật khác của cá nhân để sao, chụp, tải về văn bản, hồ sơ, tài liệu, trừ trường hợp pháp luật có liên quan quy định khác. Tòa án có trách nhiệm cung cấp thông tin theo hình thức mà người yêu cầu đề nghị, phù hợp với tính chất thông tin, điều kiện và khả năng của Tòa án.
Về thời hạn, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, chậm nhất 12 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu cung cấp thông tin hợp lệ, Tòa án phải cung cấp thông tin. Trường hợp cần thêm thời gian, thời hạn có thể được gia hạn nhưng tối đa không quá 12 ngày và phải có văn bản thông báo việc gia hạn trong thời hạn cung cấp thông tin.
Thông tư xác định bốn trường hợp Tòa án từ chối yêu cầu cung cấp thông tin: thông tin được yêu cầu vi phạm nguyên tắc công khai hoặc không thuộc nội dung được phép công khai; thông tin không thuộc trách nhiệm cung cấp; thông tin đã được cung cấp hai lần cho chính người yêu cầu mà không có lý do chính đáng; hoặc yêu cầu vượt quá khả năng đáp ứng, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của Tòa án.
Đồng thời, cơ chế xử lý đối với thông tin không chính xác, không đầy đủ cũng được quy định cụ thể. Nếu Tòa án phát hiện thông tin đã cung cấp không chính xác hoặc không đầy đủ thì chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ ngày phát hiện phải đính chính, cung cấp lại hoặc bổ sung thông tin còn thiếu. Trường hợp người yêu cầu cho rằng thông tin được cung cấp chưa chính xác, đầy đủ thì có quyền yêu cầu cung cấp lại hoặc bổ sung. Chậm nhất 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, Tòa án phải xác định tính chính xác, đầy đủ của thông tin và trả lời người yêu cầu; nếu thông tin có sai sót hoặc thiếu thì phải cung cấp lại, bổ sung.
Thông tư phân định trách nhiệm tổ chức thực hiện đối với từng cấp, đơn vị. Chánh án Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp chịu trách nhiệm tổ chức, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ công khai hoạt động của Tòa án. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện công khai tại các Tòa án nhân dân khu vực thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Cục Công nghệ thông tin Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, an toàn thông tin và duy trì hệ thống công khai trên môi trường số. Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao thực hiện đăng tải thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao. Đồng thời, Văn phòng hoặc Ban hành chính của các Tòa án tương ứng được xác định là đầu mối tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin.
Có thể thấy, Thông tư đã thiết lập một khuôn khổ tương đối đồng bộ về công khai hoạt động của Tòa án nhân dân, từ xác định thông tin được công khai, giới hạn công khai, phương thức tiếp cận đến trách nhiệm cung cấp, đính chính thông tin. Việc mở rộng các hình thức công khai trên môi trường số, quy định thời hạn cụ thể và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu cung cấp thông tin là những nội dung đáng chú ý, góp phần tăng cường tính minh bạch, khả năng tiếp cận thông tin và giám sát đối với hoạt động của Tòa án.
Trụ sở Toà án nhân dân tối cao - ảnh: KHẢI HOÀN/TCTA.
Bài liên quan
-
Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng: Tạo chuyển biến tích cực sau 90 ngày cao điểm giải quyết án, đơn
-
Báo Công lý tổ chức Lễ kỷ niệm 25 năm Ngày thành lập
-
Đảng ủy TANDTC đánh giá công tác 9 tháng đầu năm 2026, triển khai nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới
-
Đảng uỷ Toà án nhân dân tối cao tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Những điểm mới của dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự
-
Quán triệt, triển khai một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị trong Tòa án nhân dân
-
Đồng Nai: Tổ chức phiên tòa giả định tuyên truyền pháp luật về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
-
Đảng uỷ Toà án nhân dân tối cao tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng
-
Đảng ủy TANDTC đánh giá công tác 9 tháng đầu năm 2026, triển khai nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới
Bình luận