Thực tiễn vướng mắc trong việc tuyên người chưa thành niên phạm tội bị kết án phạt tù nhưng cho hưởng án treo và kiến nghị hoàn thiện
Bài viết làm rõ các cơ sở pháp lý, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng nội dung bản án tuyên người chưa thành niên phạm tội bị kết án phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Nhiều nội dung như điều kiện áp dụng, ấn định thời gian thử thách, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách, nội dung của bản án cho người bị kết án là người chưa thành niên được hưởng án treo vẫn chưa được quy định và hướng dẫn cụ thể. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất cần thiết hoàn thiện pháp luật để áp dụng thống nhất về nội dung bản án tuyên người chưa thành niên phạm tội bị kết án phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
Đặt vấn đề
Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. Từ ngày 01/01/2026, khi Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) - sau đây gọi tắt là Luật TPNCTN năm 2024 có hiệu lực thi hành, việc áp dụng các quy định của pháp luật đối với bản án tuyên người chưa thành niên (NCTN) phạm tội bị kết án phạt tù, nhưng cho hưởng án treo, còn nhiều quan điểm áp dụng khác nhau, chưa thống nhất trong nội dung bản án. Do đó, bài viết làm rõ cơ sở pháp lý, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật; từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện để áp dụng thống nhất pháp luật về nội dung bản án tuyên NCTN phạm tội bị kết án phạt tù nhưng cho hưởng án treo, nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất đối với NCTN phạm tội.
1. Quy định của pháp luật đối với bản án tuyên người chưa thành niên phạm tội bị kết án phạt tù nhưng cho hưởng án treo
1.1. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025) - sau đây gọi tắt là BLTTHS năm 2015 quy định về bản án như sau:
“1. Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bản án phải có chữ ký của tất cả thành viên Hội đồng xét xử.
2. Bản án sơ thẩm phải ghi rõ:
a) Tên Tòa án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số của bản án và ngày tuyên án; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, dân tộc, tiền án, tiền sự của bị cáo; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện của bị cáo; họ tên của người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật và những người khác được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị hại, đương sự, người đại diện của họ; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử;
b) Số, ngày, tháng, năm của bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố; tên Viện kiểm sát truy tố; hành vi của bị cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố; tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự và mức hình phạt, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo; xử lý vật chứng;
c) Ý kiến của người bào chữa, bị hại, đương sự, người khác tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập;
d) Nhận định của Hội đồng xét xử phải phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có tội hay không và nếu bị cáo có tội thì là tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật Hình sự và của văn bản quy phạm pháp luật khác được áp dụng, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải xử lý như thế nào. Nếu bị cáo không có tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và việc giải quyết khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật;
đ) Phân tích lý do mà Hội đồng xét xử không chấp nhận những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự và người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đưa ra;
e) Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử;
g) Quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án. Trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì ghi rõ quyết định đó.
3. Bản án phúc thẩm phải ghi rõ:
a) Tên Tòa án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số của bản án và ngày tuyên án; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, dân tộc, tiền án, tiền sự của bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo, bị kháng nghị và những bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng Tòa án cấp phúc thẩm có xem xét; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện của bị cáo; họ tên của người bào chữa, người giám định, người phiên dịch và những người khác được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú, địa chỉ của bị hại, đương sự, người đại diện của họ; tên của Viện kiểm sát có kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử;
b) Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định trong bản án sơ thẩm; nội dung kháng cáo, kháng nghị; nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm, những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị; điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự và của văn bản quy phạm pháp luật khác mà Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ để giải quyết vụ án;
c) Quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án do có kháng cáo, kháng nghị, về án phí sơ thẩm, phúc thẩm.”.
1.2. Quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024
Điều 124 Luật TPNCTN năm 2024 quy định về án treo như sau: “Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người chưa thành niên phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 03 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.”.
Điều 82 Luật Thi hành án hình sự (Luật THAHS) năm 2025 (quy định về nghĩa vụ của người được hưởng án treo:
“1. Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 80 của Luật này.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc, học tập; chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp vì lý do khách quan được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.
3. Chấp hành sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc; chỉ được cư trú trên địa giới hành chính cấp xã theo quyết định thi hành án của Tòa án có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 87 và Điều 88 của Luật này.
4. Chấp hành quy định tại Điều 87 của Luật này.
5. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
6. Hằng tháng, phải báo cáo bằng văn bản với Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 87 của Luật này thì khi hết thời hạn vắng mặt, người được hưởng án treo phải báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình.”.
1.3. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
“1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.
4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.”.
Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (gọi tắt là Nghị quyết số 02/2018) quy định về nội dung của bản án tuyên người bị kết án phạt tù được hưởng án treo như sau:
“Ngoài những nội dung theo quy định tại Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bản án cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo phải có nội dung sau đây:
1. Về việc giao người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách:
a) Khi cho người phạm tội được hưởng án treo, Tòa án phải ghi rõ trong phần Quyết định của bản án việc giao người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
b) Khi giao người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, Tòa án phải ghi rõ trong phần quyết định của bản án tên Ủy ban nhân dân cấp xã; tên tỉnh, thành phố được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo; đồng thời, ghi rõ trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
c) Khi giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, Tòa án phải ghi rõ trong phần quyết định của bản án tên và địa chỉ đầy đủ của cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo; đồng thời, ghi rõ trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trường hợp cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo thuộc lực lượng quân đội nhân dân thì trong phần quyết định của bản án phải ghi tên của đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục.
2. Về việc tuyên hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách.
Trong phần quyết định của bản án cho người phạm tội được hưởng án treo, Tòa án phải tuyên rõ hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cụ thể như sau:
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.”
2. Một số vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
2.1. Một số vướng mắc, bất cập
Về nội dung bản án được quy định tại Điều 260 BLTTHS năm 2015, khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của NCTN phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần bắt phải chấp hành hình phạt tù, thì Toà án cho hưởng án treo. Đối với người phạm tội thông thường, thì nội dung bản án xử phạt tù, nhưng cho hưởng án treo, áp dụng quy định tại Điều 65 BLHS năm 2015 và hướng dẫn tại các nghị quyết quy định về án treo. Tuy nhiên, không giống như người phạm tội thông thường, NCTN phạm tội còn được điều chỉnh riêng bởi Luật TPNCTN. Vì vậy, khi xử phạt nhóm người này bằng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, thì Tòa án tuyên các nội dung theo quy định tại Điều 65 BLHS năm 2015 hay Điều 124 Luật TPNCTN năm 2024? Các nội dung có liên quan như điều kiện, ấn định thời gian thử thách, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách, nội dung của bản án có thực hiện theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018 hay không? Vì Nghị quyết về án treo chỉ hướng dẫn Điều 65 BLHS năm 2015, còn nhiều quan điểm áp dụng khác nhau, chưa thống nhất. Cụ thể như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, áp dụng Điều 65 BLHS năm 2015 và không áp dụng Điều 124 Luật TPNCTN năm 2024. Đây là quan điểm khắc phục được các trường hợp chưa được Luật TPNCTN quy định cụ thể như điều kiện, ấn định thời gian thử thách, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách, nội dung của bản án cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo… Vì Nghị quyết số 02/2018 quy định cụ thể. Tuy nhiên, quan điểm này không phù hợp nguyên tắc áp dụng pháp luật, cụ thể là, tại Điều 2 Luật TPNCTN năm 2024: “Việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, giải quyết vụ án hình sự, xử lý chuyển hướng, thi hành án phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên được áp dụng theo quy định của Luật này và theo quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự, luật khác không trái với quy định của Luật này”.
Điển hình như tại Bản án số 52/2025/HS-PT ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh H[1], tuyên bố bị cáo Đinh Văn Đ (sinh ngày 15/5/2007) phạm tội “cố ý gây thương tích”. Theo đó, áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38, Điều 65; Điều 90, Điều 91 và Điều 101 BLHS năm 2015; Điều 12, Điều 119 Luật TPNCTN năm 2024, xử phạt bị cáo Đinh Văn Đ 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 22/4/2025. Giao bị cáo Đinh Văn Đ cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã H, tỉnh H có trách nhiệm quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật THAHS năm 2019 (là Điều 87 Luật THAHS năm 2025).
Trong vụ án này, ngoài các nội dung theo quy định tại Điều 260 BLTTHS năm 2015, Tòa án áp dụng quy định tại Điều 65 BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo Đinh Văn Đ là NCTN với mức hình phạt 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo và tuyên các nội dung theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018 như sau: thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; giao cho UBND cấp xã nơi cư trú để quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật THAHS năm 2019; hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Tuy nhiên, việc ấn định thời gian thử thách 03 năm là mức cao nhất được áp dụng theo quy định tại Điều 124 Luật TPNCTN năm 2024 mà không phải bằng hai lần mức hình phạt tù theo hướng dẫn tại Điều 4 Nghị quyết số 02/2018.
Quan điểm thứ hai cho rằng, áp dụng đồng thời Điều 65 BLHS năm 2015 và Điều 124 Luật TPNCTN năm 2024. Đây là quan điểm kết hợp linh hoạt, thoạt nhìn có thể khắc phục được các trường hợp chưa được Luật TPNCTN quy định cụ thể như điều kiện, ấn định thời gian thử thách, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách, nội dung của bản án cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo… nhằm phù hợp với nguyên tắc áp dụng pháp luật quy định tại Điều 2 Luật TPNCTN năm 2024. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng phát sinh bất lợi cho NCTN đối với nội dung tuyên vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách cụ thể “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”, vì tại Điều 124 Luật TPNCTN năm 2024 không quy định, bên cạnh đó là việc áp dụng tùy nghi không thống nhất về điều kiện, mức ấn định thời gian thử thách.
Điển hình như tại Bản án số 27/2026/HS-ST ngày 31/3/2026 của TAND khu vực 6 - tỉnh C[2], đã tuyên các bị cáo Lê Duy P (sinh ngày 28/6/2007) và Phạm Anh K (sinh ngày 19/5/2008) phạm tội “cố ý gây thương tích”. Theo đó, áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, p, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 BLHS năm 2015; Điều 115, Điều 119 và Điều 124 Luật TPNCTN năm 2024, xử phạt bị cáo Lê Duy P 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 31/3/2026. Giao bị cáo Lê Duy P cho UBND xã V tỉnh C có trách nhiệm quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật THAHS năm 2019 (là Điều 87 Luật THAHS năm 2025). Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 BLHS năm 2015; Điều 115, Điều 119 và Điều 124 Luật TPNCTN năm 2024, xử phạt bị cáo Phạm Anh K 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 31/3/2026. Giao bị cáo Phạm Anh K cho UBND xã H tỉnh C có trách nhiệm quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật THAHS năm 2019 (là Điều 87 Luật THAHS năm 2025). Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong vụ án này, ngoài các nội dung theo quy định tại Điều 260 BLTTHS năm 2015, Tòa án áp dụng đồng thời quy định tại Điều 65 BLHS năm 2015 và Điều 124 Luật TPNCTN năm 2024, xử phạt các bị cáo Lê Duy P (sinh ngày 28/6/2007) và Phạm Anh K (sinh ngày 19/5/2008) là NCTN cùng với mức hình phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và tuyên các nội dung theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018 như: thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; giao cho UBND cấp xã nơi cư trú để quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật THAHS năm 2019; hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Tuy nhiên, nội dung tuyên hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách là bất lợi cho các bị cáo, vì tại Điều 124 Luật TPNCTN năm 2024 không quy định nội dung này.
Quan điểm thứ ba cho rằng, áp dụng Điều 124 Luật TTPNCTN năm 2024 và không áp dụng Điều 65 BLHS năm 2025. Quan điểm này phù hợp với nguyên tắc áp dụng pháp luật quy định tại Điều 2 Luật TPNCTN năm 2024, vì tại Điều 124 của Luật này đã quy định về án treo. Đây cũng chính là quan điểm của tác giả, tuy nhiên, do quy định tại Điều 124 Luật TPNCTN năm 2024 chưa đầy đủ về điều kiện áp dụng, ấn định thời gian thử thách, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách, nội dung của bản án cho người bị kết án là NCTN phạt tù được hưởng án treo, vì vậy, trong khi chờ bổ sung hoặc hướng dẫn cụ thể, trước hết, có thể vận dụng các quy định hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018, ngoại trừ trường hợp tuyên hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách do gây bất lợi cho NCTN.
2.2. Một số kiến nghị hoàn thiện
Để áp dụng thống nhất pháp luật về nội dung bản án tuyên NCTN phạm tội bị kết án phạt tù, nhưng cho hưởng án treo, tác giả kiến nghị bổ sung quy định tại Điều 124 Luật TPNCTN năm 2024, hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành nghị quyết hướng dẫn quy định tại Điều 124 Luật TPNCTN năm 2024 về án treo gồm điều kiện áp dụng, ấn định thời gian thử thách, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách, nội dung của bản án cho người bị kết án là NCTN phạt tù, được hưởng án treo trên cơ sở vận dụng có kế thừa các quy định tại Điều 65 BLHS năm 2015 và Nghị quyết số 02/2018. Cụ thể như sau:
Một là, quy định cụ thể về điều kiện áp dụng.
Hai là, ấn định thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 01 năm và không quá 03 năm.
Ba là, ngoài những nội dung theo quy định tại Điều 260 của BLTTHS năm 2015, bản án cho người bị kết án là NCTN phạt tù được hưởng án treo phải có nội dung sau đây:
Thứ nhất, khi cho NCTN phạm tội được hưởng án treo, Tòa án phải ghi rõ trong phần Quyết định của bản án việc giao người được hưởng án treo cho UBND cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Tòa án phải ghi rõ trong phần quyết định của bản án tên UBND cấp xã, tên tỉnh, thành phố được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo; đồng thời, ghi rõ trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Thứ hai, trong phần quyết định của bản án cho NCTN phạm tội được hưởng án treo, Tòa án phải tuyên rõ hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách, cụ thể như sau: Trong thời gian thử thách, NCTN được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc NCTN được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Kết luận
Hiện nay, nhiều nội dung như điều kiện áp dụng, ấn định thời gian thử thách, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách, nội dung của bản án cho người bị kết án là NCTN phạt tù được hưởng án treo vẫn chưa được quy định và hướng dẫn cụ thể, nên còn nhiều quan điểm áp dụng khác nhau trong thực tiễn và chưa thống nhất trong nội dung bản án. Do đó, việc kiến nghị hoàn thiện để áp dụng thống nhất pháp luật về nội dung bản án tuyên NCTN phạm tội bị kết án phạt tù, nhưng cho hưởng án treo là việc cần thiết.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
2. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025.
3. Luật Thi hành án hình sự năm 2019, sửa đổi, bổ sung năm 2024, 2025.
4. Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
5. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
6. Bản án số 52/2025/HS-PT ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1871006t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 18/6/2026.
7. Bản án số 27/2026/HS-ST ngày 31/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau.
[1] Bản án số 52/2025/HS-PT ngày 30/7/2025 của TAND tỉnh Hưng Yên, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1871006t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 18/6/2026.
[2] Bản án số 27/2026/HS-ST ngày 31/03/2026 của TAND khu vực 6 - Cà Mau.
Các trợ giúp viên pháp lý tham gia phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo là người chưa thành niên - Nguồn: Cà Mau online
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Trao Quyết định bổ nhiệm Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội
-
Chánh án TANDTC Nguyễn Văn Quảng dự Lễ khai giảng năm học mới tại Hải Phòng
-
Đổi mới nội dung, phương pháp sinh hoạt chi bộ, phát huy trách nhiệm của đảng viên
-
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: Người bị thiệt hại được quyền lựa chọn cơ quan giải quyết
-
Bộ Chính trị ban hành Quy định mới về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm
Bình luận