Trao đổi về bài viết: “Về xác đinh tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự”
Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử ngày 03/7/2026 có đăng tải bài viết “Về xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Thành Long (Thẩm phán, Tòa án quân sự Khu vực 2 Quân khu 5). Sau khi nghiên cứu nội dung bài viết và các quan điểm cho từng trường hợp, tác giả xin nêu ra quan điểm của mình đối với từng trường hợp cụ thể.
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025), tại Chương IV quy định về người tham gia tố tụng, trong đó, Điều 55 quy định có 20 tư cách người tham gia tố tụng và được quy định cụ thể từ Điều 56 đến Điều 70; các Điều 72, 83, 84 và Điều 434 để giải thích về khái niệm, quyền, nghĩa vụ của từng người tham gia tố tụng. Khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015 quy định: Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra, hoặc đe dọa gây ra. Khoản 1 Điều 65 BLTTHS năm 2015 quy định: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Khoản 1 Điều 66 BLTTHS năm 2015 quy định: Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng. Tác giả Nguyễn Thành Long cho rằng, việc xác định người tham gia tố tụng là bị hại; là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, hay là người làm chứng, trong từng vụ án cụ thể rất khó xác định, dẫn đến những cách hiểu, nhận thức khác nhau. Đồng thời, trong bài viết, nêu ra một số trường hợp với các quan điểm khác nhau. Tôi xin nêu quan điểm đối với từng trường hợp, cụ thể như sau:
Vụ án thứ nhất: Từ ngày 06/9/2023 đến ngày 14/11/2023, do không có nghề nghiệp, lại nghiện ma túy, Nguyễn Khắc Đ đã có 07 lần thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản bán (12 bình ắc quy có tổng giá trị theo định giá là 39.187.620 đồng) lấy tiền tiêu xài cá nhân tại các trạm thu phát sóng của các bị hại Tổng công ty cổ phần Công trình Viettel, Tổng công ty viễn thông MobiFone, Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam trên địa bàn huyện R và huyện TĐ, tỉnh ĐN. Trong quá trình điều tra, bị cáo tác động nhờ mẹ là bà Phan Thị N tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng cho Phòng thi hành án dân sự để bồi thường thiệt hại về hành vi phạm tội của bị cáo và bà N có đơn không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này. Xác định tư cách tham gia TTHS của bà Phan Thị N, có các quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Xác định bà Phan Thị N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Quan điểm thứ hai (cũng là quan điểm của tác giả) cho rằng: Xác định bà Phan Thị N là người làm chứng.
Tôi không đồng ý với cả hai quan điểm về việc xác định tư cách tham gia tố tụng của bà Phan Thị N.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 65 BLTTHS thì: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự.”.
Như vậy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người không tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc có tham gia vào việc thực hiện tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự nhưng vẫn phải đưa vào tham gia tố tụng để xử lý theo pháp luật về quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ có liên quan đến tội phạm hoặc quyền lợi, nghĩa vụ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án[1]. Người làm chứng có các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2,3 Điều 65 BLTTHS. Như vậy, trường hợp này việc xác định bà Phan Thị N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là không có cơ sở.
Việc xác định bà Nguyễn Thị N là người làm chứng cũng không chính xác, không phù hợp với đặc thù của người làm chứng quy định trong BLTTHS. Khoản 1 Điều 66 BLTTHS quy định: “Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.”. Trường hợp này, bà Nguyễn Thị N, là mẹ của bị cáo, thực hiện việc tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng cho Phòng thi hành án dân sự để bồi thường thiệt hại về hành vi phạm tội của bị cáo theo yêu cầu của bị cáo, không phải là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án,.., do đó, không thỏa mãn điều kiện xác định tư cách là người làm chứng theo quy định của BLTTHS. Đồng thời, bà N có đơn không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này.
Trường hợp này, tôi cho rằng, việc bà Nguyễn Thị N nộp tiền khắc phục hậu quả không làm phát sinh tư cách tố tụng độc lập. Bà Nguyễn Thị N được xác định là người thân thích tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thay cho bị cáo, nhằm giúp bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 4 BLTTHS như sau:
Vụ án thứ hai: Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 10/01/2025, bị cáo Đỗ Thanh K có hành vi dùng dao đe dọa bà Lê Thị L là nhân viên giao dịch của Cửa hàng Viettel N làm bà L hoảng sợ, không dám chống cự để cướp số tiền 119.822.000 đồng của Tổng công ty cổ phần bưu chính Viettel. Trong vụ án này, bà L chỉ bị thương tích nhẹ, với vết xước 2mm ở lòng bàn tay trái. Trong quá trình điều tra, ngày 16/01/2025, bà L có đơn gửi các cơ quan tiến hành tố tụng xin không giám định thương tích do K gây ra, không yêu cầu K phải bồi thường dân sự và cam kết không khiếu nại gì. Việc xác định tư cách tham gia TTHS của bà Lê Thị L có các quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Xác định bà Lê Thị L là bị hại. Bởi vì, khách thể bị xâm phạm trong vụ án này ngoài tài sản bị chiếm đoạt là số tiền 119.822.000 đồng, thì bà L cũng bị hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm về thể chất, tinh thần; nên cần xác định tư cách tham gia tố tụng của bà L là bị hại để bảo đảm đầy đủ quyền lợi cho bà L.
Quan điểm thứ hai (cũng là quan điểm của tác giả Nguyễn Thành Long): Xác định bà Lê Thị L là người làm chứng. Bởi vì, bà L bị Đỗ Thanh K gây thương tích nhẹ ở lòng bàn tay trái và chỉ bị hoảng sợ tức thời. Bà L đã tự nguyện từ bỏ quyền của mình với việc có đơn xin không giám định thương tích, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự và cam kết không khiếu nại gì; nên việc xác định tư cách tham gia tố tụng là người làm chứng không ảnh hưởng đến quyền lợi của bà L.
Đối với trường hợp này, tôi đồng ý với quan điểm thứ hai, theo đó, xác định tư cách tham gia tố tụng của bà Lê Thị L là người làm chứng. Trường hợp này, bà L bị thương nhẹ ở lòng bàn tay và có đơn gửi các cơ quan tiến hành tố tụng xin không giám định thương tích do K gây ra, không yêu cầu K phải bồi thường dân sự và cam kết không khiếu nại gì, do đó, căn cứ áp dụng là Điều 155 BLTTHS.
Trong trường hợp này, tài sản bị chiếm đoạt là số tiền 119.822.000 đồng, người bị hại là Tổng công ty cổ phần bưu chính Viettel. Qua trình thực hiện tội phạm, Đỗ Thanh K có hành vi dùng dao đe dọa bà Lê Thị L để chiếm đoạt số tiền nói trên, như vậy, bà Lê Thị L là người biết về vụ án. Do đó, xác định tư cách tham gia tố tụng của Lê Thị L là người làm chứng là có cơ sở.
Vụ án thứ ba: Khoảng 19 giờ ngày 17/3/2024, bị cáo Phan Văn Ng (là quân nhân) điều khiển xe mô tô, do không làm chủ tốc độ, không tập trung chú ý quan sát đường đi, không nhường đường cho người đi bộ tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, nên đã để xe mô tô của mình va chạm trực tiếp vào bà Trần Thị H và bà Nguyễn Thị Ngọc T đang đi bộ qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ. Hậu quả, bà Trần Thị H bị thương nặng và đã tử vong ngày 18/3/2024; bà Nguyễn Thị Ngọc T bị thương gãy 2 xương sườn 3, 4 và gãy xương mu phải cấp cứu điều trị tại bệnh viện, nhưng bà T từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Cơ quan điều tra đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng như: ra quyết định trưng cầu giám định, quyết định dẫn giải bà T đi giám định, lập biên bản làm việc về việc bà T từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và bà T cam kết không khiếu nại về bồi thường thiệt hại; bị cáo Ng đã tự nguyện hỗ trợ số tiền 29.500.000 đồng và chi trả toàn bộ viện phí cho bà T. Xác định tư cách tham gia TTHS của bà Nguyễn Thị Ngọc T, còn có các quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Xác định bà Nguyễn Thị Ngọc T là bị hại. Bởi vì, trong vụ án này, bà T là người bị hành vi phạm tội của bị cáo Ng trực tiếp xâm phạm gây tổn thương cơ thể; nên cần xác định tư cách tham gia tố tụng này để bảo đảm đầy đủ quyền lợi cho bà T.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Xác định bà Nguyễn Thị Ngọc T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bởi vì, mặc dù bà T là người bị hành vi phạm tội của bị cáo Ng trực tiếp xâm phạm gây tổn thương cơ thể, nhưng bà T từ bỏ quyền bị hại của mình với việc từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Tuy nhiên, bà T đã được bị cáo Ng hỗ trợ số tiền 29.500.000 đồng và được chi trả toàn bộ viện phí, nên cần xác định tư cách tham gia tố tụng của bà T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, để giải quyết toàn diện vụ án và là cơ sở để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Ng.
Quan điểm thứ ba (cũng là quan điểm của tác giả Đinh Văn Long) cho rằng: Xác định bà Nguyễn Thị Ngọc T là người làm chứng, bởi vì, mặc dù bà T là người bị hành vi phạm tội của bị cáo Ng trực tiếp xâm phạm gây tổn thương cơ thể, nhưng bà T đã tự nguyện từ bỏ quyền bị hại của mình, bằng việc từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Cơ quan điều tra đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của BLTTHS, khi ra Quyết định trưng cầu giám định, Quyết định dẫn giải bị hại đi giám định, nhưng bà T vẫn kiên quyết từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và cam kết không có khiếu nại gì về vấn đề bồi thường, nên việc xác định bà T là người làm chứng không ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà.
Tôi đồng ý với quan điểm thứ ba, trường hợp này cần xác định tư cách tham gia tố tụng của bà Nguyễn Thị Ngọc T là người làm chứng. Tuy nhiên, cần phân tích thêm về căn cứ pháp lý, cụ thể:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS thì chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ Luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.”.
Trường hợp này, bà T đã tự nguyện từ bỏ quyền của mình, bằng việc từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Cơ quan điều tra đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của BLTTHS, khi ra Quyết định trưng cầu giám định, Quyết định dẫn giải bị hại đi giám định, nhưng bà T vẫn kiên quyết từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và cam kết không có khiếu nại gì về vấn đề bồi thường. Tuy nhiên, bà T là người chứng kiến toàn bộ quá trình xảy ra tai nạn dẫn đến cái chết cho bà Trần Thị H, nên cần đưa bà T vào tham gia tố tụng đối với tư cách là người làm chứng để bảo đảm việc giải quyết vụ án chính xác, khách quan, toàn diện.
Kết luận
Việc xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự trong một số trường hợp vẫn còn có những quan điểm chưa thống nhất. Hiện nay, BLTTHS và một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đã có quy định khá cụ thể, rõ ràng, việc xác định cần căn cứ vào quy định đặc thù của từng chủ thể tham gia tố tụng đã được quy định trng luật, tương ứng với từng trường hợp thực tiễn để xác định.
Việc xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự cần chặt chẽ, cẩn trọng để bảo vệ quyền, lợi ích tốt nhất của các chủ thể.
[1] Xem: https://lsvn.vn/quyen-va-nghia-vu-cua-nguoi-lien-quan-trong-vu-an-hinh-su-1725198640-a146768.html, truy cập ngày 10/7/2026.
TAND khu vực 5 - Quảng Ninh xét xử vụ án hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - Nguồn: Báo BVPL.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Bàn về việc kiểm soát thiết bị điện tử tại phiên tòa - Một số giải pháp nhằm áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn
-
Bàn về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật
-
Cầu truyền hình "Đi tìm đồng đội - Sao sáng dẫn đường": Tôn vinh, tri ân sự hy sinh cao cả của các Anh hùng liệt sĩ
-
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có vô hiệu không?
-
“Sao sáng dẫn đường” hành trình tri ân kết nối quá khứ với tương lai
Bình luận