Về xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự

Nhận thức và áp dụng đúng quy định của pháp luật về xác định tư cách người tham gia tố tụng có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vụ án hình sự nói chung và bảo đảm quyền, lợi ích của người tham gia tố tụng nói riêng. Mặc dù, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về cơ bản đã rõ ràng, đầy đủ. Tuy nhiên, trong một số vụ án vẫn còn có các quan điểm khác nhau, chưa thống nhất về việc xác định tư cách người tham gia tố tụng hình sự. Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn để áp dụng thống nhất.

  Đặt vấn đề

Trong các giai đoạn tố tụng hình sự (TTHS), việc nhận thức và áp dụng đúng quy định của pháp luật về xác định tư cách của người tham gia tố tụng có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vụ án hình sự (VAHS) nói chung và bảo đảm quyền, lợi ích của người tham gia tố tụng nói riêng. Mặc dù, các quy định của pháp luật TTHS về các khái niệm: bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về cơ bản đã rõ ràng, đầy đủ. Tuy nhiên, trong một số vụ án, còn có các quan điểm khác nhau, chưa thống nhất về xác định tư cách người tham gia TTHS là bị hại, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, hay là người làm chứng. Nguyên nhân chính là do sự nhận thức và áp dụng pháp luật khác nhau của những người tiến hành tố tụng, bên cạnh đó, chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, dẫn đến việc áp dụng pháp luật về xác định tư cách tham gia TTHS trong từng vụ án cụ thể chưa thống nhất về nhận thức.

1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về một số tư cách người tham gia tố tụng

Chương IV Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025) quy định về người tham gia tố tụng, trong đó, Điều 55 quy định có 20 tư cách người tham gia tố tụng và được quy định cụ thể từ Điều 56 đến Điều 70; các Điều 72, 83, 84 và Điều 434 để giải thích về khái niệm, quyền, nghĩa vụ của từng người tham gia tố tụng. Khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015 quy định: Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra, hoặc đe dọa gây ra. Khoản 1 Điều 65 BLTTHS năm 2015 quy định: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến VAHS. Khoản 1 Điều 66 BLTTHS năm 2015 quy định: Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.

Thực tiễn việc xác định tư cách người tham gia tố tụng là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo rất rõ ràng, dễ xác định, còn đối với người tham gia tố tụng là bị hại; là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, hay là người làm chứng, trong từng vụ án cụ thể rất khó xác định, dẫn đến những cách hiểu, nhận thức khác nhau.

2. Một số quan điểm khác nhau về xác định tư cách người tham gia tố tụng trong một số vụ án cụ thể

Vụ án thứ nhất: Từ ngày 06/9/2023 đến ngày 14/11/2023, do không có nghề nghiệp, lại nghiện ma túy, Nguyễn Khắc Đ đã có 07 lần thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản bán (12 bình ắc quy có tổng giá trị theo định giá là 39.187.620 đồng) lấy tiền tiêu xài cá nhân tại các trạm thu phát sóng của các bị hại Tổng công ty cổ phần Công trình Viettel, Tổng công ty viễn thông MobiFone, Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam trên địa bàn huyện R và huyện TĐ, tỉnh ĐN. Trong quá trình điều tra, bị cáo tác động nhờ mẹ là bà Phan Thị N tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng cho Phòng thi hành án dân sự để bồi thường thiệt hại về hành vi phạm tội của bị cáo và bà N có đơn không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này. Xác định tư cách tham gia TTHS của bà Phan Thị N, có các quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Xác định bà Phan Thị N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bởi vì, bà N là người có liên quan đến số tiền 5.000.000 đồng tự nguyện bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo, nên cần xác định tư cách tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, để làm rõ quan điểm của bà N về số tiền này, nhằm bảo đảm đầy đủ quyền lợi cho bà N.

Quan điểm thứ hai (cũng là quan điểm của tác giả) cho rằng: Xác định bà Phan Thị N là người làm chứng. Bởi vì, việc bà nộp số tiền 5.000.000 đồng bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo và có đơn không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại là hoàn toàn tự nguyện, bà N đã từ bỏ quyền của mình đối với số tiền trên; nên việc xác định tư cách tham gia tố tụng là người làm chứng không ảnh hưởng đến quyền lợi của bà N.

Vụ án thứ hai: Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 10/01/2025, bị cáo Đỗ Thanh K có hành vi dùng dao đe dọa bà Lê Thị L là nhân viên giao dịch của Cửa hàng Viettel N làm bà L hoảng sợ, không dám chống cự để cướp số tiền 119.822.000 đồng của Tổng công ty cổ phần bưu chính Viettel. Trong vụ án này, bà L chỉ bị thương tích nhẹ, với vết xước 2mm ở lòng bàn tay trái. Trong quá trình điều tra, ngày 16/01/2025, bà L có đơn gửi các cơ quan tiến hành tố tụng xin không giám định thương tích do K gây ra, không yêu cầu K phải bồi thường dân sự và cam kết không khiếu nại gì. Việc xác định tư cách tham gia TTHS của bà Lê Thị L có các quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Xác định bà Lê Thị L là bị hại. Bởi vì, khách thể bị xâm phạm trong vụ án này ngoài tài sản bị chiếm đoạt là số tiền 119.822.000 đồng, thì bà L cũng bị hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm về thể chất, tinh thần; nên cần xác định tư cách tham gia tố tụng của bà L là bị hại để bảo đảm đầy đủ quyền lợi cho bà L.

Quan điểm thứ hai (cũng là quan điểm của tác giả) cho rằng: Xác định bà Lê Thị L là người làm chứng. Bởi vì, bà L bị Đỗ Thanh K gây thương tích nhẹ ở lòng bàn tay trái và chỉ bị hoảng sợ tức thời. Bà L đã tự nguyện từ bỏ quyền của mình với việc có đơn xin không giám định thương tích, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự và cam kết không khiếu nại gì; nên việc xác định tư cách tham gia tố tụng là người làm chứng không ảnh hưởng đến quyền lợi của bà L.

Vụ án thứ ba: Khoảng 19 giờ ngày 17/3/2024, bị cáo Phan Văn Ng (là quân nhân) điều khiển xe mô tô, do không làm chủ tốc độ, không tập trung chú ý quan sát đường đi, không nhường đường cho người đi bộ tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, nên đã để xe mô tô của mình va chạm trực tiếp vào bà Trần Thị H và bà Nguyễn Thị Ngọc T đang đi bộ qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ. Hậu quả, bà Trần Thị H bị thương nặng và đã tử vong ngày 18/3/2024; bà Nguyễn Thị Ngọc T bị thương gãy 2 xương sườn 3, 4 và gãy xương mu phải cấp cứu điều trị tại bệnh viện, nhưng bà T từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Cơ quan điều tra đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng như: ra quyết định trưng cầu giám định, quyết định dẫn giải bà T đi giám định, lập biên bản làm việc về việc bà T từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và bà T cam kết không khiếu nại về bồi thường thiệt hại; bị cáo Ng đã tự nguyện hỗ trợ số tiền 29.500.000 đồng và chi trả toàn bộ viện phí cho bà T. Xác định tư cách tham gia TTHS của bà Nguyễn Thị Ngọc T, còn có các quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Xác định bà Nguyễn Thị Ngọc T là bị hại. Bởi vì, trong vụ án này, bà T là người bị hành vi phạm tội của bị cáo Ng trực tiếp xâm phạm gây tổn thương cơ thể; nên cần xác định tư cách tham gia tố tụng này để bảo đảm đầy đủ quyền lợi cho bà T.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Xác định bà Nguyễn Thị Ngọc T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bởi vì, mặc dù bà T là người bị hành vi phạm tội của bị cáo Ng trực tiếp xâm phạm gây tổn thương cơ thể, nhưng bà T từ bỏ quyền bị hại của mình với việc từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Tuy nhiên, bà T đã được bị cáo Ng hỗ trợ số tiền 29.500.000 đồng và được chi trả toàn bộ viện phí, nên cần xác định tư cách tham gia tố tụng của bà T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, để giải quyết toàn diện vụ án và là cơ sở để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Ng.

Quan điểm thứ ba (cũng là quan điểm của tác giả) cho rằng: Xác định bà Nguyễn Thị Ngọc T là người làm chứng, bởi vì, mặc dù bà T là người bị hành vi phạm tội của bị cáo Ng trực tiếp xâm phạm gây tổn thương cơ thể, nhưng bà T đã tự nguyện từ bỏ quyền bị hại của mình, bằng việc từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Cơ quan điều tra đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của BLTTHS, khi ra Quyết định trưng cầu giám định, Quyết định dẫn giải bị hại đi giám định, nhưng bà T vẫn kiên quyết từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và cam kết không có khiếu nại gì về vấn đề bồi thường, nên việc xác định bà T là người làm chứng không ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Thứ nhất, đối với vụ án mà người thân của bị cáo (như bố, mẹ, vợ, con, anh, chị, em ruột...) nộp tiền bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo trong trường hợp bị cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường, thì cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn theo hướng:

Một là, nếu người thân của bị cáo nộp tiền bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo và trước khi mở phiên tòa chưa thể hiện quan điểm rõ ràng về số tiền bồi thường thiệt hại, thì cần xác định tư cách tham gia tố tụng của họ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, để làm rõ và giải quyết quyền lợi của họ.

Hai là, nếu người thân của bị cáo nộp tiền bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo và trước khi mở phiên tòa, họ thể hiện ý chí cho bị cáo, có đơn không yêu cầu bị cáo hoàn trả, thì xác định tư cách tham gia tố tụng của họ là người làm chứng.

Thứ hai, đối với vụ án mà hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần, tài sản cho người khác, thì cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn theo hướng:

Một là, trong vụ án mà hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần, tài sản cho người khác và những thiệt hại trên là căn cứ định tội danh hay định khung hình phạt, mặc dù người bị thiệt hại có đơn không yêu cầu giám định thiệt hại, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại, hoặc đã thỏa thuận xong việc bồi thường thiệt hại, thì xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị thiệt hại là bị hại.

Bởi vì, đối với trường hợp này, mặc dù người bị thiệt hại từ chối giám định, nhưng Tòa án căn cứ điểm a khoản 1 Điều 280 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung: “khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được” (cụ thể quy định tại khoản 4 Điều 85 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) về những vấn đề phải chứng minh trong VAHS: “tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra”). Cơ quan điều tra căn cứ khoản 4 Điều 206 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định để:“xác định tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động” của người bị thiệt hại. Từ đó, mới có căn cứ giải quyết khách quan, toàn diện vụ án, cũng như bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại.

Hai là, trong vụ án mà hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm gây thiệt hại không lớn về sức khỏe, tinh thần, tài sản cho người khác và những thiệt hại trên không phải là căn cứ định tội danh hay định khung hình phạt, người bị thiệt hại có đơn không yêu cầu giám định thiệt hại, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại hoặc đã thỏa thuận xong việc bồi thường thiệt hại, thì xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị thiệt hại là người làm chứng. Việc xác định tư cách người làm chứng không ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị thiệt hại, cũng như không ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án.

Kết luận

Xác định tư cách người tham gia tố tụng trong VAHS có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Hình sự, BLTTHS và các quy định pháp luật có liên quan, để bảo đảm đầy đủ quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Việc xác định sai tư cách người tham gia tố tụng sẽ dẫn đến quyết định không đúng về phần trách nhiệm dân sự, về quyền kháng cáo… làm cho việc giải quyết VAHS không được khách quan, toàn diện, triệt để. Tuy nhiên, trong từng vụ án, việc xác định tư cách tham gia tố tụng, trước hết, phải căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS; đồng thời, cũng phải căn cứ vào các yêu cầu, nguyện vọng của người tham gia tố tụng để xác định tư cách tham gia tố tụng phù hợp, nhưng vẫn bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của họ, nếu các yêu cầu, nguyện vọng của họ không trái pháp luật, đạo đức xã hội.   

 

ThS. NGUYỄN THÀNH LONG (Thẩm phán, Tòa án quân sự Khu vực 2 Quân khu 5)

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025).

2. Tài liệu tập huấn nghiệp vụ năm 2024 của Tòa án quân sự Trung ương.

3. Công văn số 80/TS-NCTH ngày 04/3/2008 giải đáp vướng mắc nghiệp vụ của Tòa án quân sự Trung ương.

4. Các Bản án số 03, 08/2024/HS-ST ngày 03/7/2024, ngày 19/11/2024 và Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án quân sự Khu vực 2 Quân khu 5.

TAND tỉnh Bắc Ninh tổ chức phiên tòa hình sự sơ thẩm kết hợp rút kinh nghiệm trực tuyến về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - Ảnh: Chí Dũng.