Vợ chồng Trần Hữu S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Sau khi nghiên cứu bài viết “Vợ chồng Trần Hữu S phạm tội gì?” của tác giả Lê Đình Nghĩa, đăng ngày 04/3/2026, tôi đồng tình với quan điểm thứ hai: Vợ chồng Trần Hữu S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Trong vụ án này, Trần Hữu S khi thiếu vốn làm ăn, tình cờ xem được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) của anh Nguyễn Thanh L liền chụp ảnh lại và giao dịch qua mạng Internet nhờ người làm giả Giấy chứng nhận QSDĐ theo dữ liệu đất của anh L, nhưng mang tên vợ chồng Trần Hữu S, để thế chấp vay tiền ngân hàng. Sau khi nhận được Giấy chứng nhận QSDĐ giả, vợ chồng S làm thủ tục thế chấp vay 1,2 tỷ đồng ở Ngân hàng HP. Mục đích vay để sản xuất, nuôi trồng thủy sản. S có hành vi gian dối nhờ người làm giả Giấy chứng nhận QSDĐ mang tên vợ chồng S, thế chấp vay Ngân hàng, nhằm mục đích chiếm đoạt 1,2 tỷ đồng, hành vi của vợ chồng S thỏa mãn dấu hiệu của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản bởi hành vi này đã xâm phạm khách thể là quan hệ sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. S đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối sử dụng Giấy chứng nhận QSDĐ giả để thế chấp vay tiền ngân hàng chiếm đoạt 1,2 tỷ đồng.

Vợ chồng S có hành vi “sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu. Đối tượng tác động của tội phạm này là con dấu giả, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Vợ chồng S không có hành vi “làm” giả các đối tượng trên nhưng đã có hành vi “sử dụng” chúng để thực hiện việc làm trái pháp luật. Theo Công văn số 50/TANDTC-PC ngày 07/4/2020 của TAND tối cao trả lời vướng mắc đối với trường hợp người có hành vi sử dụng giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cụ thể: “Hành vi sử dụng giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (như sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả…) để chuyển nhượng, mua bán, cầm cố, thế chấp… nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là dấu hiệu đặc trưng trong mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đây cũng là hành vi khách quan của tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Mục 2 Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 của TAND tối cao thì trường hợp người thực hiện 01 hành vi nhưng thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của nhiều tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn. Do đó, trường hợp người có hành vi sử dụng giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì bị xử lý hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án trên, vợ chồng Trần Hữu S không có hành vi làm giả Giấy chứng nhận QSDĐ mà nhờ người làm giả Giấy chứng nhận QSDĐ để thế chấp vay tiền ngân hàng với số tiền 1,2 tỷ đồng ở Ngân hàng HP. Vợ chồng Trần Hữu S chỉ có hành vi dùng giấy chứng nhận QSDĐ giả để lừa đảo chiếm đoạt tiền của Ngân hàng HP. Đồng thời, hành vi sử dụng giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện song song với nhau trong cùng một thời điểm. Áp dụng Công văn số 233/TANDTC-PC trường hợp người thực hiện 01 hành vi nhưng thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của nhiều tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn… Do đó, hành vi của vợ chồng Trần Hữu S chỉ bị xử lý về tội nặng hơn đó là tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật Hình sự. Vợ chồng S đã trả Ngân hàng được 250 triệu đồng, nên chỉ xem xét xử lý vợ chồng S lừa đảo Ngân hàng số tiền còn lại là 950 triệu đồng (số tiền chưa trả cho Ngân hàng).

Trên đây là quan điểm của tôi về bài viết, mong nhận được sự trao đổi của đồng nghiệp và bạn đọc.

NGUYỄN THỊ YẾN HOA (Tòa án quân sự Quân khu 1)

TAND tỉnh Bến Tre xét xử vụ án hình sự “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” - Ảnh: Trọng Nghĩa.