Vợ chồng Trần Hữu S phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”

Sau khi nghiên cứu bài viết “Vợ chồng Trần Hữu S phạm tội gì?” của tác giả Lê Đình Nghĩa đăng ngày 04/3/2026, tôi đồng ý với quan điểm thứ năm của tác giả cho rằng: Hành vi của vợ chồng S phạm tội “sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 BLHS năm 2015.

Vụ án của vợ chồng Trần Hữu S cho thấy còn tồn tại các quan điểm khác nhau trong thực tiễn xét xử các vụ án xâm phạm trật tự quản lý hành chính và quyền sở hữu tài sản, hành vi làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện giao dịch dân sự, tín dụng diễn ra với tính chất ngày càng tinh vi.

Trước tiên, ta cần phân tích các mặt cấu thành tội phạm của tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 BLHS năm 2015, cụ thể:

Thứ nhất, về khách thể:

Tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực quản lý con dấu, tài liệu. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài liệu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, có giá trị pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất của cá nhân, tổ chức. Việc làm giả loại giấy tờ này trực tiếp xâm hại đến sự tin cậy và tính xác thực của hệ thống quản lý hành chính, độc lập với thiệt hại tài sản phát sinh sau đó.

Thứ hai, về chủ thể:

Chủ thể của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và của tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.

Thứ ba, về mặt khách quan:

Hành vi khách quan của tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” là hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác … cho việc thực hiện hành vi trái pháp luật; hành vi khách quan của tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là hành vi sử dụng con dấu giả, tài liệu giả hoặc giấy tờ giả khác… cho việc thực hiện hành vi trái pháp luật.

Hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức được hiểu là hành vi làm ra một cách trái phép con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức như khắc con dấu giả, chế bán, in, ký tên, đóng dấu để tạo ra các giấy tờ, tài liệu giả mang danh của các cơ quan, tổ chức như văn bằng giả, chứng chỉ giả, chứng minh thư giả …

Hành vi sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật được hiểu là hành vi sử dụng các đối tượng này như là phương tiện khi thực hiện hành vi trái pháp luật. Trong đó, người sử dụng có thể là người đã làm ra con dấu, tài liệu, giấy tờ giả nhưng cũng có thể là người khác.

Đối chiếu với nội dung vụ án tác giả đưa ra, hành vi của Trần Hữu S thể hiện rõ việc bản thân sử dụng tài liệu giả là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện hành vi trái pháp luật là làm thủ tục vay thế chấp ngân hàng qua các yếu tố: Chụp ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người khác; Giao dịch qua mạng Internet nhờ người làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dữ liệu đất của anh L, nhưng mang tên vợ chồng Trần Hữu S; Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, vợ chồng S làm thủ tục thế chấp vay 1,2 tỷ đồng ở Ngân hàng HP.

Như vậy, đã tồn tại đầy đủ hành vi sử dụng tài liệu giả. Chỉ cần một trong hai hành vi làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả đã đủ cấu thành tội phạm theo Điều 341 BLHS năm 2015.

Cuối cùng, về mặt chủ quan:

Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. S nhận thức rõ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài liệu do cơ quan nhà nước cấp, biết rõ việc làm giả là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện nhằm mục đích sử dụng trong giao dịch vay vốn.

Mục đích vay vốn để đầu tư nuôi trồng thủy sản không làm thay đổi bản chất của hành vi làm giả tài liệu. Điều luật không đòi hỏi mục đích chiếm đoạt tài sản, mà chỉ cần có hành vi làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả là đã hoàn thành tội phạm.

* Không đủ căn cứ xác định tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bởi vì:

Theo Điều 174 BLHS năm 2015, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đòi hỏi phải chứng minh được mục đích chiếm đoạt tài sản ngay từ thời điểm thực hiện hành vi gian dối.

Trong vụ án trên, S thực tế sử dụng tiền vay để đầu tư nuôi cá lồng bè. Việc không trả được nợ xuất phát từ thất bại trong sản xuất và yếu tố thiên tai. Ngoài ra, bị cáo đã trả được một phần nghĩa vụ (250 triệu đồng).

Những tình tiết này cho thấy chưa có căn cứ vững chắc để khẳng định ý thức chiếm đoạt của S ngay từ đầu. Gian dối trong việc cung cấp tài sản bảo đảm không đồng nhất với ý định chiếm đoạt khoản tiền vay. Việc không trả được nợ đúng hạn về bản chất là quan hệ dân sự - tín dụng, trừ trường hợp chứng minh được thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt ngay từ đầu. Nếu chỉ căn cứ vào việc sử dụng tài liệu giả để suy đoán ý thức chiếm đoạt thì sẽ dẫn đến mở rộng không đúng phạm vi xử lý hình sự. Do đó, không đủ căn cứ chứng minh vợ chồng S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 BLHS năm 2015.

* Không đủ căn cứ xác định tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, bởi vì:

Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có các dấu hiệu đặc thù như sau:

- Tài sản được giao hợp pháp thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê hoặc nhờ giữ;

- Sau khi nhận tài sản, người phạm tội có một trong các hành vi: Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt; Sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại.

Trong vụ án trên, tiền vay được vợ chồng S sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận đó là đầu tư nuôi trồng thủy sản; Vợ chồng S không sử dụng tiền vào mục đích bất hợp pháp. Như vậy, dấu hiệu sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại không được thỏa mãn. Việc đầu tư nuôi cá lồng bè là hoạt động sản xuất hợp pháp, dù thất bại vẫn không làm biến đổi bản chất pháp lý của hành vi. Do đó, không đủ căn cứ chứng minh vợ chồng S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điều 175 BLHS năm 2015.

* Trong vụ án trên không thể xác định đây là quan hệ dân sự, bởi vì:

Đúng là giữa ngân hàng và vợ chồng S tồn tại hợp đồng tín dụng, một quan hệ dân sự theo luật định. Nhưng ở đây hợp đồng được xác lập dựa trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và tài liệu này chính là căn cứ pháp lý quyết định để ngân hàng giải ngân.

Như vậy, sự tồn tại của quan hệ dân sự không loại trừ trách nhiệm hình sự nếu việc xác lập quan hệ đó dựa trên hành vi trái pháp luật xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài liệu do cơ quan có thẩm quyền cấp; việc làm giả và sử dụng tài liệu giả đã trực tiếp xâm hại đến khách thể được bảo vệ bởi Điều 341 BLHS năm 2015. Tội phạm này hoàn thành ngay tại thời điểm làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả, không phụ thuộc vào việc có chiếm đoạt được tài sản hay không. Cho nên, quan hệ tín dụng chỉ là bề mặt, hành vi sử dụng tài liệu giả mới là mấu chốt.

Vì vậy, từ những phân tích trên, hành vi của vợ chồng Trần Hữu S không cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, cũng không cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Việc xác định hành vi của vợ chồng Trần Hữu S phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 BLHS năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trên đây là quan điểm của tác giả, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của đồng nghiệp và bạn đọc.

DƯƠNG TRỌNG HUY (Toà án quân sự Quân chủng Hải quân)

Tòa án quân sự khu vực Quân chủng Hải quân xét xử vụ án “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - Ảnh: Mạnh Tùng.