Bảo vệ quyền lợi của người vợ trong phân chia tài sản chung khi ly hôn: khoảng trống pháp lý và kiến nghị hoàn thiện
Bài viết tập trung phân tích vị thế của người vợ - chủ thể thường ở vị trí yếu thế trong phân chia tài sản chung khi ly hôn, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành với nguyên tắc công bằng và bảo vệ quyền con người. Từ đó, chỉ ra khoảng trống pháp lý và kiến nghị hoàn thiện nhằm bảo đảm quyền lợi kinh tế chính đáng cho người phụ nữ trong bối cảnh hậu hôn nhân.
Đặt vấn đề
Trong vụ án ly hôn, vấn đề tranh chấp về tài sản chung ngày càng trở nên phức tạp. Mặc dù pháp luật đã ghi nhận nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, nhưng thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa bảo đảm công bằng thực chất. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật liên quan và thực tiễn xét xử, bài viết làm rõ những rào cản trong quy định hiện hành, từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của người vợ trong phân chia tài sản chung khi ly hôn.
1. Cơ sở lý luận về quyền lợi của người vợ trong phân chia tài sản chung khi ly hôn
1.1. Vị trí của người vợ với tư cách là người yếu thế trong ly hôn
Khi xét trong bối cảnh ly hôn, khái niệm “người yếu thế” mang tính đặc thù riêng, không chỉ nằm trong năng lực hành vi dân sự thông thường mà bao hàm các khía cạnh xã hội, kinh tế, tâm lý và cấu trúc quyền lực gia đình sâu sắc hơn. Phụ nữ thường là đối tượng yếu thế do đảm nhận vai trò truyền thống của gia đình khiến họ gặp bất lợi khi chia tài sản chung của vợ chồng. Phụ nữ thuộc nhóm có nguy cơ cao trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình1, đặc biệt là trong quá trình ly hôn, hành vi bạo lực gia đình là một trong những nguyên nhân phổ biến khiến họ rơi vào hoàn cảnh bất lợi trong tranh chấp tài sản chung và cần sự bảo trợ pháp lý. Do đó, người vợ trở thành bên yếu thế hơn trong ly hôn.
1.2. Nguyên tắc phân chia tài sản chung khi ly hôn
1.2.1. Khái niệm về tài sản chung
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân[1]. Bản chất của tài sản chung là sở hữu chung hợp nhất, tức là hai bên cùng có quyền ngang nhau đối với toàn bộ tài sản mà không phân chia phần cụ thể, thể hiện sự gắn bó về lợi ích và trách nhiệm trong quan hệ hôn nhân. Phạm vi tài sản chung không chỉ bao gồm những tài sản do vợ chồng trực tiếp tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mà còn bao gồm cả các khoản thu nhập hợp pháp, hoa lợi, lợi tức phát sinh, cả những đóng góp gián tiếp trong đời sống gia đình. Như vậy, tài sản chung của vợ chồng là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ và chồng, được hình thành trong thời kỳ hôn nhân hoặc được xác lập theo thỏa thuận là tài sản chung theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình (Luật HNGĐ).
1.2.2. Nguyên tắc phân chia tài sản chung
Nguyên tắc ưu tiên sự thỏa thuận của các bên[2]. Khi ly hôn, vợ chồng có quyền tự thỏa thuận với nhau về việc phân chia toàn bộ hoặc một phần tài sản chung mà không nhất thiết phải tuân theo nguyên tắc chia đôi do pháp luật quy định. Sự thỏa thuận này dựa trên ý chí tự nguyện, sự cân nhắc về hoàn cảnh thực tế, nhu cầu của mỗi bên cũng như lợi ích của con chung. Để được pháp luật công nhận, thỏa thuận về chia tài sản phải bảo đảm một số điều kiện nhất định. Trước hết, chủ thể trong quan hệ thỏa thuận phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập. Thỏa thuận phải được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. Đồng thời, nội dung thỏa thuận không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và các thành viên khác trong gia đình, đặc biệt là con chưa thành niên hoặc người phụ thuộc.
Đối với thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng[3]. Trước khi kết hôn, vợ chồng có quyền thỏa thuận về chế độ tài sản, bao gồm việc xác định tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với tài sản, cũng như nguyên tắc phân chia tài sản khi ly hôn. Hình thức thỏa thuận này phải được lập thành văn bản và được công chứng hoặc chứng thực thì mới có giá trị pháp lý. Như vậy, chia tài sản chung theo thỏa thuận không chỉ phát sinh tại thời điểm ly hôn mà còn có thể được hình thành từ giai đoạn trước hôn nhân thông qua thỏa thuận về chế độ tài sản. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để khi phát sinh việc ly hôn, việc phân chia tài sản sẽ được thực hiện theo nội dung mà các bên đã thống nhất từ trước, thay vì áp dụng mặc định chế độ tài sản theo luật định.
Nguyên tắc chia đôi nhưng có tính theo các yếu tố khác[4]:
Thứ nhất, hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
Thứ hai, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
Thứ ba, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
Thứ tư, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Đây là nguyên tắc thể hiện sự kết hợp giữa bình đẳng hình thức và công bằng thực chất trong giải quyết quan hệ tài sản khi hôn nhân chấm dứt. Về cơ bản, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhằm bảo đảm quyền ngang nhau của vợ chồng đối với khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất. Tuy nhiên, pháp luật đồng thời yêu cầu phải xem xét các yếu tố cụ thể để điều chỉnh tỷ lệ chia cho phù hợp với thực tế. Nguyên tắc này thực chất không nhằm đạt tới sự bình quân tuyệt đối, mà hướng đến công bằng thực chất trên cơ sở đánh giá toàn diện hoàn cảnh, đóng góp và lỗi của các bên, qua đó bảo đảm việc phân chia tài sản không chỉ hợp lý về mặt pháp lý mà còn phù hợp với thực tiễn đời sống sau ly hôn.
Nguyên tắc tài sản chung được chia bằng hiện vật hoặc giá trị của hiện vật. Theo đó, pháp luật ưu tiên việc chia tài sản bằng hiện vật nhằm bảo đảm giữ nguyên giá trị và công năng sử dụng của tài sản, tránh việc chuyển đổi không cần thiết làm phát sinh thiệt hại. Trong trường hợp không thể chia bằng hiện vật, hoặc việc chia hiện vật không bảo đảm công bằng và hợp lý, thì tài sản sẽ được quy đổi thành giá trị để phân chia, bên nhận tài sản có giá trị lớn hơn phải thanh toán phần chênh lệch cho bên còn lại. Điều này hướng tới sự linh hoạt trong phương thức phân chia, vừa bảo đảm quyền lợi của các bên, vừa phù hợp với đặc điểm thực tế của từng loại tài sản.
Tài sản chung được chia phải cân nhắc nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ. Xuất phát từ thực tế trong quan hệ hôn nhân, người vợ thường ở vị trí dễ bị tổn thương hơn về kinh tế do gánh vác phần lớn trách nhiệm sinh con, chăm sóc gia đình, dẫn đến hạn chế về thu nhập và cơ hội nghề nghiệp. Khi ly hôn, người vợ dễ rơi vào tình trạng bất lợi so với người chồng về kinh tế hoặc xã hội, đặc biệt khi phải trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Do đó, chia tài sản chung không thể áp dụng một cách cứng nhắc theo tỷ lệ, mà cần điều chỉnh để bảo đảm người vợ có điều kiện ổn định cuộc sống.
1.3. Quy định hiện hành về bảo vệ quyền tài sản của người vợ khi ly hôn
Trước hết, tại Điều 33 Luật HNGĐ năm 2014 xác lập chế độ tài sản chung hợp nhất của vợ chồng, người vợ có quyền ngang bằng với chồng đối với toàn bộ tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, không phụ thuộc vào việc ai là người trực tiếp tạo ra hay đứng tên. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền tài sản của người vợ ngay từ giai đoạn xác lập tài sản. Ngoài ra, pháp luật còn bảo vệ quyền tài sản của người vợ thông qua suy đoán tài sản chung. Theo đó nếu không chứng minh được tài sản là tài sản riêng thì tài sản được coi là tài sản chung. Quy định này giúp hạn chế tình trạng người vợ bị thiệt thòi do không đứng tên tài sản hoặc thiếu chứng cứ. Nhưng trong thực tiễn, người vợ vẫn gặp khó khăn trong việc chứng minh nguồn gốc tài sản, đặc biệt khi tài sản đứng tên một bên hoặc bị che giấu. Điều này làm giảm hiệu quả thực tế của cơ chế bảo vệ.
Thứ hai, trong trường hợp ly hôn, khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ năm 2014 quy định chia đôi tài sản chung nhưng có tính đến các yếu tố khác, đặc biệt là công sức đóng góp của mỗi bên. Pháp luật nhấn mạnh rằng lao động nội trợ, chăm sóc gia đình của người vợ được coi là đóng góp có giá trị như lao động có thu nhập. Tuy nhiên, sự bất lợi của người vợ thể hiện rõ trong các trường hợp họ không trực tiếp tạo ra thu nhập, chủ yếu thực hiện công việc nội trợ, chăm sóc gia đình hoặc phụ thuộc kinh tế vào người chồng. Trong những tình huống này, việc chứng minh công sức đóng góp, tiếp cận thông tin về tài sản chung cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp trước Tòa án gặp nhiều khó khăn.
Thứ ba, pháp luật gián tiếp bảo vệ quyền tài sản của người vợ thông qua quyền lưu cư theo Điều 63 Luật HNGĐ năm 2014. Trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của chồng, người vợ sau ly hôn vẫn có thể được tiếp tục cư trú trong một thời hạn nhất định (thường là 06 tháng) nếu gặp khó khăn về chỗ ở, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Đây là cơ chế nhân đạo, nhưng còn hạn chế về thời gian và điều kiện áp dụng, chưa thực sự đáp ứng nhu cầu ổn định lâu dài của người vợ, đặc biệt trong bối cảnh khó khăn về chỗ ở và kinh tế.
Ngoài ra, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 01/6/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình đã hướng dẫn: “Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn”[5]. Cơ chế xác định công sức đóng góp còn mang tính định tính, thiếu tiêu chí cụ thể. Mặc dù pháp luật đã thừa nhận lao động nội trợ có giá trị như lao động có thu nhập, nhưng lại không có hướng dẫn rõ ràng về cách lượng hóa mức độ đóng góp. Dẫn đến việc Tòa án có thể áp dụng không thống nhất, phụ thuộc nhiều vào nhận định chủ quan, từ đó làm giảm hiệu quả bảo vệ người vợ.
2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người vợ trong phân chia tài sản chung qua một số vụ án cụ thể
Thực tiễn xét xử cho thấy trong nhiều vụ án, người vợ không được chia tài sản tương xứng do không chứng minh được mức đóng góp trong tài sản chung, điển hình như Bản án số 28/2015/DS-PT ngày 13/4/2015 về việc “Tranh chấp tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn” tại Tòa án nhân dân tỉnh K[6]. Trọng tâm của tranh chấp là việc phân chia căn nhà và quyền sử dụng đất được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, nhưng do người chồng đứng tên và quản lý, sử dụng vì cho rằng nhà được mua bằng tiền thừa kế từ cha mẹ chồng nên là tài sản riêng. Tại phiên xét xử sơ thẩm, Tòa án đã bác bỏ “yêu cầu phân chia căn nhà, khẳng định đó là tài sản chung” của người vợ. Tuy nhiên Tòa án xét xử phúc thẩm đã công nhận yêu cầu, vì khi mua nhà, người chồng không yêu cầu vợ ký xác nhận tài sản riêng, người vợ cất giữ và quản lý tài sản cha mẹ chồng cho, cả hai đã cùng thế chấp căn nhà để vay tiền kinh doanh. Tất cả các đều có thể minh chứng người vợ đồng sở hữu và cùng đóng góp công sức quản lý tài sản.
Bản án số 02/2019/HNGĐ-PT ngày 20/02/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh T[7] nêu rõ tác động của lỗi trong quan hệ hôn nhân đến kết quả chia tài sản. Trong vụ việc, người chồng bị xác định thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình và từng bị xử phạt hành chính. Tòa án quyết định chia tài sản theo tỷ lệ 40% cho người chồng và 60% cho người vợ với lý do người chồng “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng, ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản chung và an toàn của thành viên trong gia đình”. Cách xử lý này thêm phần khẳng định vai trò của luật pháp trong bảo vệ quyền lợi của người vợ - người yếu thế khi ly hôn.
Ngoài ra, qua một số vụ việc cho thấy còn khó khăn trong xử lý tài sản đang có tranh chấp với bên thứ ba. Ví dụ, trong Bản án số 17/2022/DS-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, Tỉnh Lạng Sơn[8], tài sản chung là quyền sử dụng đất bị người chồng mang đi thế chấp cho một khoản vay cá nhân mà người vợ không biết. Tòa án xác định, nghĩa vụ trả nợ thuộc về riêng người chồng nhưng vẫn gặp vướng mắc khi xử lý phần tài sản bảo đảm do ngân hàng khởi kiện riêng trong vụ án khác.
Thực tế so với nam giới, phụ nữ thường phải đối mặt với nhiều thách thức và tổn thương hơn trong cuộc sống, đặc biệt là khi ly hôn, nó có thể ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần và kinh tế của người phụ nữ. Qua phân tích bản án có thể thấy Tòa án khi xét xử có xu hướng bảo vệ quyền lợi của người vợ. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành vẫn còn mang tính khái quát, cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa các cấp xét xử. Xác định tài sản chung, tài sản riêng thiếu nhất quán, đánh giá công sức đóng góp còn mang tính định tính và cảm tính, chưa có tiêu chí cụ thể.
Qua thực tiễn giải quyết tại Tòa án cho thấy, pháp luật Việt Nam còn thiếu tiêu chí định lượng công sức đóng góp của vợ chồng khi phân chia tài sản và cơ chế kiểm soát tài sản dẫn đến nhiều vướng mắc khi giải quyết ly hôn. Bên cạnh đó, hệ quả của tư tưởng trọng nam khinh nữ dễ khiến cho người vợ mất nhiều quyền lợi, được chia ít tài sản hơn khi ly hôn vì cho rằng “đàn ông là trụ cột trong gia đình” nên đóng góp nhiều hơn vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.
Hệ thống pháp luật quy định cơ chế xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng chưa rõ, thiếu tính thống nhất nên đã gây ra nhiều tranh chấp, đặc biệt đối với trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất chỉ đứng tên một bên vợ hoặc chồng. Theo phong tục nước ta, người vợ sau khi kết hôn đa số sẽ về sinh sống tại gia đình nhà chồng và thường là đối tượng phải chịu bạo lực gia đình, nhiều áp lực, từ đó dễ phát sinh mâu thuẫn về tài sản, nghĩa vụ với bên thứ ba. Ngoài ra còn trường hợp tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nhưng được mua bằng nguồn tiền riêng hoặc nguồn tiền hỗn hợp, gây khó khăn cho công tác xác định. Từ đó đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật và cơ chế chứng minh theo hướng có lợi hơn cho bên yếu thế, áp dụng cơ chế thanh toán giá trị tài sản tương xứng cho người vợ.
3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trong bối cảnh này, việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong vụ án ly hôn trở nên cực kỳ cần thiết. Từ những bất cập và khoảng trống pháp lý trên, cần đưa ra giải pháp để hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung khi ly hôn để vừa đảm bảo công bằng vừa nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của người vợ.
Thứ nhất, cần cụ thể hóa quy định pháp luật về định lượng các yếu tố xác định mức độ đóng góp công sức của vợ chồng vào công việc gia đình. Ban hành văn bản hướng dẫn về các yếu tố xác định như thời gian, hoàn cảnh, mức độ và hình thức đóng góp sẽ giúp Tòa án các cấp thống nhất trong xét xử, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người yếu thế trong ly hôn, đặc biệt là người vợ.
Thứ hai, xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý tài sản liên thông và hoàn thiện quy định về nghĩa vụ kê khai, minh bạch tài sản, bên cho rằng tài sản là của riêng có nghĩa vụ chứng minh bằng chứng cứ hợp lệ như hợp đồng, văn bản, ... Việt Nam có thể xây dựng mẫu hợp đồng tài sản trước và trong hôn nhân để khuyến khích các bên chủ động minh bạch hóa tài sản giúp giảm thiểu tranh chấp khi ly hôn, đảm bảo sự công bằng cho người vợ, thường không nắm rõ thu nhập chính của gia đình.
Thứ ba, tăng cường chế tài xử lý các hành vi che giấu hay tẩu tán tài sản, làm rõ tiêu chí áp dụng yếu tố lỗi trong chia tài sản chung, ranh giới giữa quan hệ tài sản vợ chồng và nghĩa vụ với bên thứ ba cần được pháp luật quy định rõ hơn. Việc này sẽ bảo vệ quyền tài sản cũng như bồi thường tinh thần cho người vợ là nạn nhân của bạo lực gia đình sau ly hôn một cách hợp lý.
Kết luận
Bảo vệ quyền lợi của người vợ trong phân chia tài sản chung khi ly hôn là yêu cầu quan trọng trong pháp luật hôn nhân và gia đình. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, có thể thấy pháp luật đã ghi nhận nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người vợ khi phân chia tài sản chung nhưng vẫn còn tồn tại những khoảng trống pháp lý. Do đó, tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng cụ thể, rõ ràng và phù hợp với thực tiễn, đồng thời nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong xét xử là cần thiết với xã hội hiện nay. Góp phần bảo vệ tốt quyền lợi của người vợ - người yếu thế khi phân chia tài sản chung, thúc đẩy công bằng xã hội và củng cố niềm tin vào hệ thống pháp luật.
Tài liệu tham khảo
1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2. Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ hướng dẫn một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Thông tư liên tịch số 01/2016//TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
4. Đinh Thị Thu Hương, Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam, http://hvta.toaan.gov.vn/portal/page/portal/hvta/27676686/27677461?p_page_id=27677461&pers_id=28346379&folder_id=&item_id=309069077&p_details=1
5. Nguyễn Thị Hương, Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn - thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật, https://danchuphapluat.vn/chia-tai-san-chung-cua-vo-chong-khi-ly-hon-thuc-trang-va-kien-nghi-hoan-thien-phap-luat-7479-7479.html&link=autochanger.
6. Nguyên Hương, Hoàn thiện pháp luật về hôn nhân và gia đình, https://nhandan.vn/hoan-thien-phap-luat-ve-hon-nhan-va-gia-dinh-post936362.html.
1 Điểm c khoản 2 Điều 16 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022.
[1] Khoản 1 Điều 33 Luật HNGĐ năm 2014.
[2] Khoản 1 Điều 59 Luật HNGĐ năm 2014.
[3] Điều 47 Luật HNGĐ năm 2014.
[4] Khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Điểm b khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.
[6] Bản án số 28/2015/DS-PT ngày 13/4/2015 của TAND tỉnh K.
[7] Bản án số 02/2019/HNGĐ-PT ngày 20/02/2019 của TAND tỉnh T.
[8] Bản án số 17/2022/DS-ST ngày 18/7/2022 của TAND thành phố L, tỉnh L.
VKSND khu vực 11 - TP. Đà Nẵng phối hợp với TAND khu vực 11 - TP. Đà Nẵng tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm đối với vụ án hôn nhân và gia đình - Nguồn: Báo BVPL.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Xác định bị đơn trong vụ án dân sự về “tranh chấp quyền sử dụng đất”
-
Xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Q như thế nào?
-
Tòa án nhân dân tối cao ban hành Kế hoạch xét nâng bậc Thẩm phán Tòa án nhân dân năm 2026
-
Cần phải làm rõ vụ án có thuộc trường hợp áp dụng Án lệ số 04/2016/AL
-
Tòa án nhân dân tối cao phát động Đợt thi đua cao điểm “90 ngày giải quyết đơn, án”
Bình luận