Hoàn thiện quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ theo Luật Thi hành án hình sự năm 2025 từ thực tiễn áp dụng

Trên cơ sở phân tích quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn áp dụng và đối chiếu với các chế định tương tự trong pháp luật hình sự, bài viết đề xuất sửa đổi Điều 99 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 theo hướng bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và phù hợp với chính sách hình sự nhân đạo.

1. Đặt vấn đề

Giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ là một trong những chế định quan trọng của pháp luật thi hành án hình sự, thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước, góp phần khuyến khích người chấp hành án tích cực cải tạo, tự giác sửa chữa lỗi lầm và tái hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên, qua một tháng triển khai, thi hành Luật Thi hành án hình sự năm 2025, quy định tại khoản 2 Điều 99 về mức giảm thời hạn chấp hành án từ 03 tháng đến 09 tháng đã bộc lộ một số bất cập, đặc biệt đối với trường hợp người chấp hành án chỉ còn dưới 03 tháng phải chấp hành nhưng vẫn đủ điều kiện được xét giảm. Khoảng trống pháp lý này dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan thi hành án, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án cũng như nguyên tắc áp dụng thống nhất pháp luật.

Trong xu hướng cải cách tư pháp, việc mở rộng áp dụng các hình phạt không tước tự do được xác định là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giảm tình trạng giam giữ không cần thiết, nâng cao hiệu quả giáo dục, cải tạo người phạm tội và tiết kiệm nguồn lực xã hội. Hình phạt cải tạo không giam giữ được quy định trong Bộ luật Hình sự là hình phạt không cách ly người phạm tội khỏi đời sống xã hội, tạo điều kiện để họ tiếp tục lao động, học tập, chăm sóc gia đình dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương.

Để khuyến khích người chấp hành án tích cực rèn luyện, pháp luật thi hành án hình sự quy định cơ chế xét giảm thời hạn chấp hành án đối với người có nhiều tiến bộ. Đây là chế định phản ánh rõ nguyên tắc cá thể hóa trong thi hành án hình sự, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành khoản 2 Điều 99 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 cho thấy đã phát sinh một số vướng mắc mà pháp luật chưa dự liệu, cụ thể là trường hợp người chấp hành án chỉ còn dưới 03 tháng phải chấp hành nhưng vẫn đáp ứng đầy đủ các điều kiện xét giảm. Việc thiếu quy định xử lý tình huống này dẫn đến những cách hiểu và áp dụng khác nhau, làm ảnh hưởng đến tính thống nhất của hệ thống pháp luật và hiệu quả của chính sách hình sự.

2. Quy định của pháp luật và khoảng trống pháp lý

Khoản 2 Điều 99 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 quy định:

“Người chấp hành án mỗi năm có thể được xét giảm thời hạn chấp hành án 01 lần, mỗi lần có thể được giảm từ 03 tháng đến 09 tháng”.

Có thể thấy, nhà làm luật đã xác định giới hạn tối thiểu và tối đa của mỗi lần xét giảm nhằm bảo đảm sự chặt chẽ trong quá trình thi hành án. Tuy nhiên, quy định này chỉ điều chỉnh mức giảm mà chưa điều chỉnh trường hợp thời gian còn lại phải chấp hành dưới 03 tháng.

Trong kỹ thuật lập pháp, khi quy định mức giảm tối thiểu, đồng thời phải dự liệu trường hợp thời gian còn lại thấp hơn mức tối thiểu đó. Nếu không, sẽ phát sinh khoảng trống pháp lý trong quá trình áp dụng. Khoảng trống này dẫn đến tình trạng pháp luật không trả lời được câu hỏi: Người còn phải chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ dưới 03 tháng (ví dụ thời hạn chấp hành án cải tạo không giam giữ còn lại là 02 tháng hoặc 01 tháng) nhưng đủ điều kiện xét giảm thì có được xét giảm hết thời gian còn lại hay không?

Đây là vấn đề không chỉ mang tính kỹ thuật lập pháp mà còn liên quan trực tiếp đến việc bảo đảm quyền của người chấp hành án.

3. Thực tiễn áp dụng và một số bất cập

Qua thực tiễn thi hành án tại một số địa phương cho thấy, không ít trường hợp người chấp hành án còn thời gian rất ngắn nhưng có quá trình cải tạo tốt, luôn chấp hành đầy đủ nghĩa vụ, được chính quyền địa phương và cơ quan giám sát đánh giá đủ điều kiện đề nghị giảm thời hạn chấp hành án.

Tuy nhiên, do khoản 2 Điều 99 quy định mức giảm tối thiểu là 03 tháng nên việc áp dụng trong thực tiễn tồn tại một số quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Mức giảm từ 03 tháng đến 09 tháng là quy định bắt buộc, vì vậy trường hợp còn dưới 03 tháng thì không đủ điều kiện xét giảm.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Mục đích của chế định là khuyến khích người chấp hành án cải tạo tốt nên có thể giảm hết thời gian còn lại mặc dù dưới 03 tháng.

Quan điểm thứ ba cho rằng: Không lập hồ sơ xét giảm mà để người chấp hành án tiếp tục chấp hành hết thời hạn còn lại.

Sự khác nhau trong nhận thức dẫn đến việc cùng một trường hợp nhưng ở các địa phương khác nhau lại có kết quả giải quyết khác nhau. Điều này làm giảm tính dự báo của pháp luật, ảnh hưởng đến nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và quyền lợi chính đáng của người chấp hành án.

Về bản chất, người còn 03 tháng và người còn 02 tháng 28 ngày đều có quá trình cải tạo giống nhau, đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định, nhưng chỉ vì chênh lệch một ngày mà quyền được hưởng chính sách khoan hồng lại khác nhau. Đây là sự khác biệt không xuất phát từ bản chất pháp lý của quan hệ thi hành án mà chỉ do hạn chế của quy phạm pháp luật.

4. Yêu cầu bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Một trong những yêu cầu cơ bản của xây dựng pháp luật là bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Đối với chế định rút ngắn thời gian thử thách án treo hoặc chế định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, pháp luật hình sự và các văn bản hướng dẫn đều cho phép vận dụng linh hoạt đối với phần thời gian còn lại khi người bị kết án đã đủ điều kiện được giảm án.

Trước hết, có thể thấy pháp luật thi hành án hình sự hiện hành đã thiết lập một cơ chế thống nhất nhằm xử lý trường hợp phần thời gian chấp hành án còn lại quá ngắn ở các chế định có cùng bản chất và cùng mục đích khuyến khích người chấp hành án tích cực học tập, lao động, cải tạo để được hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước. Cụ thể, đối với án treo, Điều 84 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 và khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP quy định mỗi lần được rút ngắn từ 01 tháng đến 01 năm; trường hợp thời gian thử thách còn lại dưới 01 tháng thì Tòa án có thể quyết định rút ngắn hết thời gian còn lại. Tương tự, đối với giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Điều 63 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung các năm 2017 và 2025) cùng Thông tư liên tịch số 02/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP quy định mỗi lần được giảm từ 01 tháng đến 03 năm; đồng thời, nếu thời gian chấp hành án sau khi xét giảm còn lại không quá 01 tháng thì Hội đồng có thể quyết định giảm hết thời gian còn lại. Như vậy, mặc dù mức giảm và phạm vi áp dụng của từng chế định có sự khác biệt, nhưng nhà làm luật đều thống nhất lựa chọn một giải pháp lập pháp: cho phép xử lý toàn bộ phần thời gian còn lại khi thời gian này không đủ mức giảm tối thiểu.

Quy định này thể hiện rõ quan điểm lập pháp rằng, giới hạn về mức giảm tối thiểu chỉ là căn cứ xác định phạm vi giảm trong điều kiện thông thường, không phải là rào cản làm mất đi ý nghĩa của chính sách khoan hồng khi người chấp hành án đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định. Việc cho phép giảm hết phần thời gian còn lại trong trường hợp đặc biệt không chỉ bảo đảm tính hợp lý và khả thi trong áp dụng pháp luật mà còn bảo đảm sự công bằng, quyền lợi chính đáng của người chấp hành án và phát huy hiệu quả của chính sách khuyến khích cải tạo.

Trong khi đó, Điều 99 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 lại không quy định cơ chế tương tự đối với hình phạt cải tạo không giam giữ. Sự thiếu vắng quy định này tạo nên một điểm thiếu thống nhất ngay trong hệ thống các chế định giảm thời hạn chấp hành án có cùng bản chất và cùng mục tiêu lập pháp. Hệ quả là, trong trường hợp người chấp hành án đủ điều kiện được xét giảm nhưng thời gian còn lại dưới mức giảm tối thiểu theo luật định, cơ quan có thẩm quyền không có cơ sở pháp lý để quyết định giảm hết thời gian còn lại. Điều này dẫn đến nghịch lý là người chấp hành án đáp ứng đầy đủ các điều kiện hưởng chính sách khoan hồng nhưng vẫn không thể được hưởng trọn vẹn quyền lợi chỉ vì khoảng thời gian còn lại quá ngắn. Đây không chỉ là khoảng trống pháp lý mà còn làm suy giảm tính thống nhất, tính hợp lý và tính nhất quán của hệ thống pháp luật thi hành án hình sự, đồng thời ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách nhân đạo và khuyến khích cải tạo của Nhà nước.

5. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng, trong thời gian tới, khi sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án hình sự năm 2025, cần sửa đổi khoản 2 Điều 99 theo hướng vừa bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; đồng thời, trong thời gian trước mắt cần ban hành một số văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật. Cụ thể:

Thứ nhất, khi sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án hình sự năm 2025 cần sửa đổi khoản 2 Điều 99 quy định về mức giảm thời hạn chấp hành án theo hướng:

“Người chấp hành án mỗi năm được xét giảm thời hạn chấp hành án một lần. Mỗi lần được giảm từ 01 tháng đến 09 tháng.”

Việc giảm mức tối thiểu từ 03 tháng xuống còn 01 tháng sẽ tạo điều kiện xử lý linh hoạt hơn đối với các trường hợp thời gian còn lại ngắn, đồng thời bảo đảm tương thích với chế định rút ngắn thời gian thử thách của án treo.

Đồng thời, bổ sung quy định:

“Trường hợp thời gian còn lại phải chấp hành sau khi xét giảm dưới 01 tháng thì Hội đồng xét giảm có thể quyết định giảm hết thời gian còn lại.”

Quy định này sẽ khắc phục triệt để khoảng trống pháp lý hiện nay, đồng thời bảo đảm quyền lợi của người chấp hành án có nhiều tiến bộ.

Thứ hai, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn, đồng thời có giải thích và hướng dẫn thống nhất đối với khoản 2 Điều 99 nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước, tránh tình trạng mỗi địa phương vận dụng theo cách hiểu khác nhau.

Thứ ba, khi tiến hành sơ kết, tổng kết thi hành Luật Thi hành án hình sự năm 2025 trong thời gian tới, cần rà soát tổng thể các quy định về miễn chấp hành án, giảm thời hạn chấp hành án, rút ngắn thời gian thử thách tha tù trước thời hạn có điều kiện và rút ngắn thời gian thử thách án treo để bảo đảm tính đồng bộ giữa các chế định, kịp thời khắc phục những khoảng trống pháp lý và những bất cập phát sinh từ thực tiễn áp dụng.

6. Kết luận

Giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ là chế định mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, góp phần hiện thực hóa chính sách khoan hồng của Nhà nước và nâng cao hiệu quả giáo dục, cải tạo người phạm tội trong cộng đồng. Tuy nhiên, quy định tại khoản 2 Điều 99 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 chưa dự liệu trường hợp người chấp hành án còn dưới 03 tháng phải chấp hành đã tạo ra khoảng trống pháp lý, dẫn đến nhận thức và áp dụng pháp luật không thống nhất trong thực tiễn.

Việc sửa đổi quy định theo hướng giảm mức tối thiểu của mỗi lần xét giảm xuống 01 tháng, đồng thời bổ sung cơ chế cho phép Hội đồng xét giảm quyết định giảm hết phần thời gian còn lại khi dưới 01 tháng là cần thiết, phù hợp với yêu cầu bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự và định hướng cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay. Đây cũng là giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thi hành án hình sự, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và tăng cường niềm tin vào sự nghiêm minh nhưng nhân văn của pháp luật.

ThS. HUỲNH DUY KHANH (TAND Khu vực 11 – Cần Thơ), ThS. MẠC THỊ CHIÊN, ThS. NGUYỄN THỊ THU TRANG (TAND thành phố Cần Thơ)

Tài liệu tham khảo

1. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

2. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

3. Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.

4. Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

5. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp hướng dẫn áp dụng điều 65 của bộ luật hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

6. Thông tư liên tịch số 04/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự

7. Thông tư liên tịch số 03/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quy định phối hợp trong thực hiện trình tự, thủ tục rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người được hưởng án treo; hiện nay được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 15/VBHN-TANDTC ngày 23/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao.

8. Thông tư liên tịch số 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 11/10/2021 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quy định phối hợp trong thực hiện trình tự, thủ tục giảm thời hạn, miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú, quản chế còn lại; hiện nay được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 16/VBHN-TANDTC ngày 23/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao.

9. Giáo trình Luật Thi hành án hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

10. Báo cáo tổng kết công tác thi hành án hình sự và theo dõi thi hành pháp luật của Bộ Tư pháp năm 2022.

11. Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) năm 2021, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

Ảnh minh họa: nguồn Internet