Bình luận về việc xác định tính đồng phạm đối với các bị can về tội cố ý gây thương tích
Sau khi nghiên cứu bài viết “Các đối tượng tham gia rượt đuổi bị hại nhưng bị mất dấu có đồng phạm với các bị can về tội cố ý gây thương tích không?” của tác giả Kiều Thị Mai đăng ngày 28/5/2026, đối với 02 quan điểm được nêu trong bài viết; chúng tôi xin đóng góp cách nhìn, quan điểm, đồng thời đưa ra một số kiến nghị để cùng trao đổi với các đồng nghiệp.
1. Về tình huống và các quan điểm định tội
1.1. Tóm tắt nội dung tình huống
Tối ngày 23/11/2024, nhóm 09 thanh niên tại xã YL, tỉnh PT mang theo nhiều hung khí nguy hiểm gồm kiếm nhật, kiếm tự chế, sử dụng 05 xe mô tô đi tìm nhóm thanh niên xã XL để giải quyết mâu thuẫn. Trên đường đi, cả nhóm phát hiện anh Trần L chở anh Lê Mạnh K lưu thông theo chiều ngược lại và nhầm tưởng là nhóm thanh niên đối thủ nên quay xe truy đuổi. Trong quá trình dồn đuổi, một số đối tượng ngồi sau xe dùng kiếm chém về phía bị hại nhưng không trúng.
Sau đó, hai xe do Nguyễn Văn G điều khiển chở Nguyễn Xuân K và Nguyễn Văn K điều khiển chở Nguyễn Việt H tiếp tục áp sát xe của anh L với tốc độ cao. Ba xe còn lại do Đại Văn B, Đào Tiến Đ và Phạm Bảo N điều khiển bị tụt phía sau do vướng xe ô tô nên mất dấu nhóm phía trước.
Khi đến đoạn đường cong thuộc thôn Đ, xã XL, do trời tối, tốc độ cao và bị truy đuổi quyết liệt, anh Trần L không làm chủ được tay lái nên lao xuống cống nước. Hậu quả anh L bị xây xát nhẹ, còn anh Lê Mạnh K bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 69%.
Cơ quan điều tra đã khởi tố Nguyễn Xuân K, Nguyễn Văn G, Nguyễn Việt H và Nguyễn Văn K về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015. Tuy nhiên, đối với 05 đối tượng còn lại gồm Phạm Quang Đ, Đại Văn B, Đào Tiến Đ, Nguyễn Văn Đ và Phạm Bảo N, quá trình giải quyết vụ án xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định vai trò đồng phạm.
1.2. Các quan điểm nêu trong bài viết
Quan điểm thứ nhất: Quan điểm này cho rằng cần xác định cả 05 đối tượng gồm Phạm Quang Đ, Đại Văn B, Đào Tiến Đ, Nguyễn Văn Đ và Phạm Bảo N là đồng phạm với 04 bị can đã bị khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 4 Điều 134 BLHS năm 2015.
Theo quan điểm này, các đối tượng đã có sự thống nhất ý chí ngay từ đầu về việc mang theo hung khí đi tìm và đánh nhóm thanh niên xã XL. Trong quá trình truy đuổi, Quang Đ là người hô hào, kích động cả nhóm đuổi theo bị hại; các đối tượng còn lại đều tham gia hỗ trợ bằng việc điều khiển xe mô tô truy đuổi nhằm tạo áp lực tinh thần để thực hiện hành vi đánh nhau.
Mặc dù ba xe mô tô phía sau bị tụt lại do yếu tố khách quan nhưng các đối tượng này không tự ý chấm dứt hành vi mà vẫn tiếp tục đi theo tuyến đường độc đạo để tìm bị hại và hỗ trợ đồng bọn. Vì vậy, hành vi của các đối tượng thể hiện sự cố ý cùng thực hiện tội phạm theo quy định tại Điều 17 BLHS năm 2015.
Quan điểm thứ hai: Quan điểm thứ hai cho rằng chưa đủ căn cứ xác định 05 đối tượng trên là đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích”. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này, bởi vì:
Theo quan điểm này, hậu quả thương tích 69% của bị hại xuất phát trực tiếp từ việc xe của anh Trần L bị mất lái do chịu áp lực truy đuổi quyết liệt từ hai xe do Nguyễn Văn G và Nguyễn Văn K điều khiển. Chỉ hai xe này áp sát ở khoảng cách gần, tốc độ cao và liên tục tạo sức ép khiến người điều khiển xe bị hại buộc phải tăng tốc bỏ chạy dẫn đến tai nạn.
Đối với ba xe còn lại, do bị cản trở bởi xe ô tô nên đã bị mất dấu nhóm truy đuổi phía trước, không còn tham gia trực tiếp vào việc tạo áp lực dẫn đến hậu quả thương tích xảy ra. Các đối tượng này cũng không biết việc bị hại đã bị ngã xe. Vì vậy, không đủ căn cứ chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của họ với hậu quả thương tích của bị hại.
1.3. Lý do và căn cứ pháp lý
Theo quy định tại Điều 17 BLHS năm 2015: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Khoản 2 Điều 17 BLHS quy định: “Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức”.
Như vậy, để xác định đồng phạm cần làm rõ các dấu hiệu: có sự thống nhất ý chí giữa những người tham gia; cùng thực hiện hành vi phạm tội; hành vi của mỗi người phải có mối liên hệ với hậu quả chung của vụ án.
Trong vụ án này, mặc dù cả nhóm ban đầu đều thống nhất mục đích đi tìm nhóm thanh niên xã XL để đánh nhau và có chuẩn bị hung khí nguy hiểm, tuy nhiên việc xác định trách nhiệm hình sự phải căn cứ vào tính chất, mức độ tham gia cụ thể của từng đối tượng theo nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 3 BLHS năm 2015.
Đối với hậu quả thương tích 69% của bị hại Lê Mạnh K, cần xác định đây là hậu quả phát sinh gián tiếp từ việc bị hại tự ngã xe trong quá trình bỏ chạy, chứ không phải hậu quả trực tiếp do hành vi dùng hung khí gây ra.
Theo Điều 134 BLHS năm 2015 quy định về tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”, người phạm tội phải có hành vi tác động trái pháp luật đến thân thể người khác gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe. Trong trường hợp này, hành vi truy đuổi bằng xe mô tô với tốc độ cao, áp sát liên tục tạo áp lực tâm lý buộc bị hại phải tăng tốc bỏ chạy được xem là hành vi nguy hiểm có khả năng dẫn đến hậu quả thương tích.
Tuy nhiên, cần xác định rõ ai là người có hành vi trực tiếp tạo ra áp lực dẫn đến việc bị hại mất lái. Theo diễn biến vụ án, chỉ có xe do Nguyễn Văn G điều khiển chở Nguyễn Xuân K và xe do Nguyễn Văn K điều khiển chở Nguyễn Việt H là các xe bám sát phía sau bị hại ở khoảng cách gần, truy đuổi quyết liệt với tốc độ cao. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc anh Trần L hoảng sợ, không làm chủ được tay lái và lao xuống cống nước.
Trong khi đó, nhóm các đối tượng gồm Đại Văn B, Phạm Quang Đ, Đào Tiến Đ, Nguyễn Văn Đ và Phạm Bảo N đã bị tụt lại phía sau do bị cản trở bởi xe ô tô, không còn tham gia trực tiếp vào việc truy đuổi áp sát bị hại tại thời điểm xảy ra tai nạn. Các đối tượng này cũng không biết việc bị hại đã bị ngã xe và gây thương tích.
Theo nguyên tắc xác định quan hệ nhân quả trong luật hình sự, chỉ người nào có hành vi là nguyên nhân thực tế dẫn đến hậu quả mới phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả đó. Việc các đối tượng còn lại vẫn tiếp tục di chuyển trên tuyến đường độc đạo để tìm bị hại chỉ thể hiện ý chí chủ quan muốn tiếp tục đánh nhau, chưa đủ căn cứ xác định hành vi của họ có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với thương tích 69% của bị hại.
Ngoài ra, Điều 58 BLHS năm 2015 quy định: “Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm”.
Quy định này cho thấy, pháp luật hình sự Việt Nam không đồng nhất trách nhiệm của tất cả những người cùng tham gia vụ việc mà yêu cầu đánh giá cụ thể vai trò, mức độ tham gia thực tế của từng người.
Do đó, việc xác định cả 05 đối tượng còn lại là đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 4 Điều 134 BLHS năm 2015 là chưa thật sự bảo đảm căn cứ pháp lý và nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự.
1.4. Trao đổi về các quan điểm không đồng tình
Thứ nhất, không thể chỉ căn cứ vào việc các đối tượng cùng mang hung khí đi đánh nhau để mặc nhiên xác định tất cả đều là đồng phạm đối với hậu quả thương tích xảy ra. Trong đồng phạm, yếu tố quan trọng là sự cùng thực hiện hành vi phạm tội và có mối liên hệ nhân quả đối với hậu quả xảy ra.
Thứ hai, hậu quả thương tích trong vụ án này là hậu quả gián tiếp phát sinh từ hành vi truy đuổi gây áp lực giao thông chứ không phải hậu quả trực tiếp từ hành vi sử dụng hung khí. Vì vậy, cần xác định chính xác những ai có hành vi truy đuổi đủ mức độ gây áp lực trực tiếp dẫn đến việc bị hại mất lái.
Thứ ba, tại thời điểm xảy ra tai nạn, ba xe còn lại đã bị mất dấu nhóm truy đuổi phía trước do bị cản trở khách quan. Khoảng cách xa khiến các đối tượng này không còn tạo ra áp lực thực tế đối với bị hại. Việc tiếp tục di chuyển trên tuyến đường độc đạo chỉ phản ánh ý chí chủ quan muốn tiếp tục tìm đánh chứ chưa đủ căn cứ chứng minh hành vi của họ là nguyên nhân dẫn đến hậu quả thương tích.
Nếu xác định toàn bộ các đối tượng đều là đồng phạm trong trường hợp này sẽ dẫn đến việc mở rộng trách nhiệm hình sự một cách thiếu căn cứ, không bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
2. Một số kiến nghị
Một là, trong các vụ án có nhiều người tham gia truy đuổi, gây áp lực dẫn đến bị hại tự gây thương tích hoặc tai nạn, cơ quan tiến hành tố tụng cần đặc biệt chú trọng đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của từng đối tượng với hậu quả thực tế xảy ra để tránh việc đồng nhất trách nhiệm hình sự.
Hai là, cần tiếp tục có hướng dẫn thống nhất của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc cơ quan có thẩm quyền về việc xác định đồng phạm trong các trường hợp hậu quả phát sinh gián tiếp từ hành vi truy đuổi, đe dọa hoặc gây áp lực tâm lý đối với bị hại.
Ba là, cần tăng cường áp dụng nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong thực tiễn giải quyết án hình sự nhằm bảo đảm việc xử lý phù hợp với tính chất, mức độ tham gia thực tế của từng bị can, bị cáo.
Bốn là, đối với các vụ việc thanh thiếu niên tụ tập mang hung khí, sử dụng xe mô tô truy đuổi nhau trên đường giao thông, ngoài việc xử lý hình sự nghiêm minh cần kết hợp tăng cường giáo dục pháp luật, quản lý xã hội và trách nhiệm của gia đình nhằm phòng ngừa các hành vi bạo lực mang tính bột phát trong giới trẻ hiện nay.
Trên đây là quan điểm của chúng tôi, rất mong có thêm nhiều ý kiến của các đồng nghiệp để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.
Phiên tòa trực tuyến xét xử vụ án cố ý gây thương tích tại TAND huyện Phù Yên (cũ), tỉnh Sơn La - Nguồn: Báo SL.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Cần truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn A đồng thời điểm a và điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015
-
12 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Tạo đột phá cho giai đoạn phát triển 2026-2030
-
Tòa án nhân dân tối cao ban hành văn bản quán triệt một số điểm mới của Luật Thi hành án hình sự năm 2025 thuộc thẩm quyền của Tòa án
-
Điểm mới của Luật Đất đai năm 2024 về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất
-
Thể lệ, Quy trình phản biện, Hội đồng Biên tập và Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tạp chí Toà án nhân dân
Bình luận