Bồi thường kinh tế khi ly hôn theo pháp luật Trung Quốc và Pháp: Kinh nghiệm quốc tế và bài học nhằm bảo vệ người yếu thế tại Việt Nam
Bài viết tập trung phân tích tổng quan về bồi thường kinh tế khi ly hôn, làm rõ các quy định của pháp luật Trung Quốc và Pháp, từ đó nhóm tác giả đề xuất xây dựng và hoàn thiện pháp luật về Bồi thường kinh tế khi ly hôn tại Việt Nam.
Đặt vấn đề
Bồi thường kinh tế (BTKT) khi ly hôn đang dần trở thành một công cụ kinh tế quan trọng được áp dụng một cách rộng rãi trong bối cảnh các vấn đề xã hội ngày càng phức tạp và đa chiều, vừa bù đắp thiệt hại kinh tế, đảm bảo ổn định đời sống xã hội, vừa là yếu tố then chốt bảo vệ bên yếu thế, tạo nền tảng cho cuộc sống mới đôi bên. Dù được đánh giá rất cao, chế định về BTKT tại Việt Nam vẫn còn ở mức sơ khai, vẫn chưa có cơ chế quy định một cách cụ thể. Trên cơ sở phân tích một số mô hình về BTKT quốc tế, bài viết rút ra được bài học kinh nghiệm, từ đó kiến nghị hoàn thiện một số hạn chế của hệ thống pháp luật nội địa, bảo vệ hiệu quả người yếu thế và đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế.
1. Tổng quan về bồi thường kinh tế khi khi ly hôn
Dù chưa có một định nghĩa thống nhất trên toàn cầu, các tổ chức quốc tế lớn và giới học thuật đã dần định hình khái niệm BTKT khi ly hôn như một cơ chế pháp lý quan trọng nhằm khắc phục những bất bình đẳng sau khi hôn nhân tan vỡ. Theo Ủy ban CEDAW của Liên hợp quốc, đây là sự công nhận và bồi thường cho những đóng góp kinh tế phi tài chính của người vợ trong thời gian hôn nhân, qua đó yêu cầu các quốc gia sửa đổi luật để ngăn chặn việc lạm dụng quyền thương lượng không bình đẳng[1]. Quỹ Hưu trí Liên hợp quốc (UNJSPF) tiếp cận theo hướng thực tiễn, xem việc phân chia quyền lợi hưu trí như một phần của bồi thường kinh tế để đảm bảo an sinh cho cả hai bên[2]. Từ những nhận định trên, có thể hiểu “Bồi thường kinh tế khi ly hôn là một chế định pháp lý mang bản chất kép vừa đền bù vừa hỗ trợ, được thiết kế nhằm công nhận và bù đắp cho những đóng góp kinh tế phi thị trường (như lao động nội trợ, chăm sóc gia đình) của một bên trong suốt thời kỳ hôn nhân, đồng thời phân phối công bằng những bất lợi về kinh tế và giảm thiểu sự chênh lệch về mức sống giữa hai vợ chồng cũ sau khi ly hôn”. Như vậy, dù cách diễn đạt có khác biệt, điểm chung xuyên suốt từ các tổ chức quốc tế chính là khẳng định sự cần thiết của một cơ chế tài chính công bằng, bảo vệ bên yếu thế sau ly hôn.
BTKT khi ly hôn bản chất là sự bù đắp tổn thất chứ không nhằm trừng phạt trực tiếp, vấn đề BTKT khi ly hôn chỉ được đặt ra khi tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp và quan hệ này chấm dứt bằng việc ly hôn. Khi hôn nhân tan vỡ, một bên có thể phải chịu thiệt thòi về mặt kinh tế do đã dành nhiều thời gian chăm sóc gia đình, hy sinh cơ hội phát triển nghề nghiệp và các mối quan hệ xã hội. Việc bồi thường trong trường hợp này nhằm khôi phục phần nào sự cân bằng đã bị phá vỡ. khác với các quan hệ trong Luật Dân sự, bồi thường khi ly hôn gắn chặt với yếu tố tình cảm, đạo đức và trách nhiệm gia đình, nên cách thức xác định có phần linh hoạt, dựa trên tình cảnh cụ thể của từng trường hợp.
Quan trọng hơn, bồi thường kinh tế khi ly hôn có vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế từ đó tiến tới bảo đảm công bằng xã hội. Trong nhiều gia đình, người vợ hoặc chồng có thể tạm gác sự nghiệp để chăm lo cho tổ ấm, dẫn đến sự phụ thuộc về kinh tế. Khi hôn nhân chấm dứt, nếu không có cơ chế bồi thường hợp lý, họ rất dễ rơi vào tình trạng khó khăn, túng thiếu. Từ đó, chế định về BTKT góp phần đảm bảo quyền lợi chính đáng của những người này, giúp họ có điều kiện ổn định cuộc sống và tái hòa nhập xã hội. Đồng thời, cơ chế này còn thể hiện nguyên tắc công bằng người có công sức đóng góp nhiều hơn hoặc chịu nhiều thiệt hại hơn thì sẽ được xem xét bảo đảm quyền lợi tương xứng. BTKT khi ly hôn là một chế định quan trọng, phản ánh rõ nét sự kết hợp giữa pháp luật và đạo lý trong đời sống hôn nhân. Không chỉ nhằm giải quyết hậu quả tài chính khi chấm dứt hôn nhân mà chế định còn góp phần bảo vệ quyền con người, duy trì công bằng và ổn định xã hội. Do đó, việc hiểu đúng và áp dụng hợp lý cơ chế này có ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển và các quan hệ gia đình ngày càng đa dạng và phức tạp.
2. Bồi thường kinh tế khi ly hôn theo pháp luật Trung Quốc và Pháp
2.1. Chế định về Bồi thường kinh tế khi ly hôn theo pháp luật Trung Quốc
Xét đến vấn đề đền bù kinh tế khi ly hôn tại Trung Quốc, nếu một bên đã gánh vác nhiều nghĩa vụ hơn trong việc nuôi dạy con cái, chăm sóc người già hoặc giúp đỡ bên kia trong công việc, thì khi ly hôn, người đó có quyền yêu cầu bên kia đền bù và bên kia phải đền bù.[3] Chế định này là hiện thân của nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân và gia đình, tạo cơ sở xác định quyền của các bên trong quá trình tranh tụng, trong đó, khi quan hệ hôn nhân chấm dứt, một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu bên còn lại đền bù kinh tế. Nuôi dạy con cái, chăm sóc cha mẹ lớn tuổi, cùng vun vén hạnh phúc gia đình là nghĩa vụ chung của cả hai phía vợ và chồng. Khi một bên bỏ thêm thời gian và công sức của bản thân để thực hiện thêm nghĩa vụ vì lợi ích chung của cả hai người thì nhiễm nhiên có quyền yêu cầu bên còn lại thực hiện đền bù kinh tế khi chấm dứt quan hệ hôn nhân[4]. Tuy nhiên, để được BTKT khi ly hôn thì cần đảm bảo thỏa mãn ba yếu tố. Vợ chồng phải có thỏa thuận bằng văn bản về chế độ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân thì mới có quyền yêu cầu bên kia đền bù khi ly hôn nếu một bên đã thực hiện nhiều hơn nghĩa vụ nuôi con, chăm sóc người lớn tuổi hay giúp đỡ bên kia trong công việc. Trong thực tiễn hôn nhân và gia đình của Trung Quốc, hệ thống tài sản theo luật định dựa trên quyền sở hữu chung tài sản có được sau hôn nhân là một chuẩn mực, trong khi hệ thống tài sản theo hợp đồng là trường hợp ngoại lệ[5]. Trên thực tế chỉ có 3% các cặp vợ chồng tại Trung Quốc áp dụng chế độ tài sản riêng. Thường Tòa án sẽ trực tiếp bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn với lý do vợ chồng không thỏa thuận về chế độ tài sản riêng[6]. Qua đó có thể thấy phạm vi áp dụng quy định này còn hạn chế. Điều kiện tiền đề để một bên có quyền yêu cầu BTKT là bên yêu cầu đền bù đã phải thực hiện nhiều hơn bên còn lại các nghĩa vụ chung của vợ chồng như chăm sóc con cái, cha mẹ,... Nhưng về căn cứ xác định việc “thực hiện nhiều nghĩa vụ hơn” còn chưa được hướng dẫn cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật. Nếu vợ chồng có thỏa thuận bằng văn bản về việc tài sản được tạo lập trong thời gian hôn nhân thuộc về mỗi người, và một bên đã đảm nhận nhiều nghĩa vụ hơn trong việc nuôi dạy con cái, chăm sóc người già hoặc giúp đỡ bên kia trong công việc, thì bên kia có quyền yêu cầu bồi thường từ bên kia khi ly hôn, và bên kia có nghĩa vụ bồi thường[7] hay nói cách khác yêu cầu BTKT chỉ được đưa ra vào thời điểm ly hôn. Nếu bên đã thực hiện nghĩa vụ nhiều hơn không tiến hành yêu cầu bên còn lại BTKT thì đồng nghĩa với việc họ đã từ bỏ quyền được yêu cầu BTKT. Khi đã thỏa mãn đủ các điều kiện theo quy định thì một bên mới có quyền yêu cầu BTKT.
Ngoài ra, chế định “Nếu một bên vì nuôi dưỡng con, chăm sóc người già, trợ giúp bên kia công tác mà gánh vác nhiều nghĩa vụ hơn thì khi ly hôn có quyền yêu cầu bên kia đền bù và bên kia phải đền bù. Biện pháp cụ thể do hai bên thỏa thuận, nếu thỏa thuận bất thành thì do Tòa án nhân dân phán quyết”[8] đã khẳng định ưu thế của mình trong bảo vệ quyền lợi chính đáng qua việc không giới hạn quyền yêu cầu BTKT trong khuôn khổ chế độ tài sản riêng của vợ chồng. Với chế định này, dù vợ và chồng có hay không có thỏa thuận chế độ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân thì một bên nếu thỏa mãn điều kiện do luật định vẫn có quyền yêu cầu BTKT. Về căn cứ thực hiện quyền đền BTKT khi ly hôn thì các trường hợp được yêu cầu BTKT bao gồm: (i) nuôi dưỡng con cái; (ii) chăm sóc người già, tức là chăm sóc cha mẹ chồng, cha mẹ vợ hoặc những người mà chồng hoặc vợ có nghĩa vụ phải chăm sóc, nuôi dưỡng; (iii) trợ giúp công việc cho bên còn lại. Về thời điểm yêu cầu BTKT chế định quy định rõ thời điểm yêu cầu BTKT chỉ được thực hiện vào thời điểm ly hôn. Đối với phương thức BTKT sẽ được giải quyết theo thỏa thuận của vợ chồng, trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì phương thức BTKT sẽ do Tòa án quyết định.
Trong thực tế cuộc sống gia đình, người dành nhiều thời gian hơn thực hiện các công việc trong gia đình thường là phụ nữ[9]. Họ thường bị thiệt thòi nhiều hơn bởi khi giành thời gian chú tâm chăm lo cho cuộc sống gia đình họ sẽ có ít thời gian hơn cho các quan hệ xã hội từ đó dẫn tới ít cơ hội về việc làm, thu nhập và trở nên yếu thế về mặt kinh tế. Vì vậy, khi quyền yêu cầu BTKT chỉ giới hạn ở “tại thời điểm ly hôn” thì điều kiện cung cấp đủ chứng cứ hoặc việc yêu cầu quyền kịp thời tại thời điểm ly hôn có thể sẽ không được đảm bảo. Bởi lý do đó, hai học giả Mingyu và Xunan Lou cho rằng nếu thời hạn yêu cầu BTKT có thể được kéo dài đến “một năm sau khi ly hôn” theo thời hạn của quy định bồi thường thiệt hại do ly hôn, hoặc thời hạn tranh tụng thông thường có thể được áp dụng, thì điều này sẽ phản ánh rõ hơn tinh thần của nguyên tắc công bằng và nhân đạo[10].
Các quy định về BTKT khi ly hôn của pháp luật Trung Quốc không chỉ hướng tới bảo vệ về tài sản mà còn hướng tới lợi ích nhân thân và công sức đóng góp trong hôn nhân. Pháp luật Trung quốc ghi nhận cơ chế BTKT đối với bên đã có đóng góp nhiều hơn vào đời sống gia đình. Những đóng góp này dù không trực tiếp tạo ra thu nhập, vẫn được xem là yếu tố làm tăng giá trị tài sản chung và ổn định đời sống gia đình. Qua việc thừa nhận trực tiếp BTKT khi ly hôn là một quyền độc lập thay vì chỉ lồng ghép trong các quy định về phân chia tài sản như nhiều quốc gia khác, pháp luật Trung Quốc đã đặt trọng tâm vào việc bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người yếu thế khi ly hôn.
2.2. Chế định về Bồi thường kinh tế khi ly hôn theo pháp luật Pháp
Hệ thống pháp luật Pháp xây dựng các cơ chế về BTKT khi ly hôn với mục tiêu đảm bảo sự ổn định tài chính cho vợ và chồng khi hôn nhân tan vỡ, khác biệt hoàn toàn với mô hình phân chia tài sản chung chỉ tập trung vào việc định danh sở hữu các tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Hai hình thức bồi thường chính được pháp luật Pháp công nhận: (i) Bồi thường thiệt hại áp dụng cho các trường hợp ly hôn do lỗi nghiêm trọng của một bên hoặc khi sự đổ vỡ hôn nhân gây ra thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng, vượt ngoài phạm vi của các khoản trợ cấp thông thường[11]; (ii) chế định trợ cấp bù đắp (prestation compensatoire) đây là chế định bồi thường kinh tế độc lập được sử dụng phổ biến nhằm cân bằng sự chênh lệch về điều kiện sống sau ly hôn của vợ chồng, không phụ thuộc vào yếu tố lỗi mà tập trung vào hoàn cảnh thực tế của các bên[12].
Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả chỉ đề cập đến hình thức thứ hai - chế định trợ cấp bù đắp về BTKT khi ly hôn. Cơ sở pháp lý của chế định này được quy định chi tiết từ Điều 270 đến Điều 281 Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 (sửa đổi, bổ sung năm 2016). Tại Pháp, Tòa án có thể buộc một bên trả cho bên kia một khoản tiền hoặc chuyển giao tài sản để bù đắp sự chênh lệch về điều kiện sống do ly hôn gây ra[13], đây là quy định được xây dựng để giải quyết các trường hợp một bên bị ảnh hưởng bởi các tác động tiêu cực tài chính đem lại khi ly hôn, đặc biệt là những người đã hy sinh sự nghiệp cá nhân để tập trung vào đời sống gia đình. Chế định trợ cấp bù đắp được xem là cơ chế BTKT phổ biến và tiêu biểu trong pháp luật Pháp, đóng vai trò như một công cụ quan trọng phản ánh nguyên tắc bình đẳng giới và bảo vệ quyền lợi người yếu thế trong ly hôn. Bản chất của chế định này không phải là hình phạt mà là biện pháp hỗ trợ và tái lập cân bằng về kinh tế giữa vợ và chồng, mục tiêu cốt lõi là giúp bên gặp bất lợi duy trì được mức sống tương đương với mức sống khi còn kết hôn[14]. Theo đó, việc áp dụng chế định này là một quá trình phức tạp, đòi hỏi cần trải qua quá trình đánh giá, xem xét một cách toàn diện mức độ bồi thường, dựa trên nhiều yếu tố bao gồm: nhu cầu của người nhận và khả năng tài chính của người phải trả; thời gian của cuộc hôn nhân; độ tuổi và tình trạng sức khỏe của các bên; trình độ nghề nghiệp; kết quả từ các lựa chọn việc làm trong thời kỳ hôn nhân; tình trạng tài sản; các quyền lợi hiện có và có thể phát sinh trong tương lơi; quyền lợi hưu trí và triển vọng kinh tế trong tương lai[15]. Quy trình xác định này không chỉ tập trung vào tình hình tài chính hiện tài mà còn xem xét cả quá khứ và tương lai của từng cá nhân, ưu tiên bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, linh hoạt điều chỉnh theo hoàn cảnh sống của từng cá nhân, giảm thiểu tranh chấp và bảo đảm công bằng cho cả hai bên tham gia. Tính linh hoạt và khả thi của chế định BTKT khi ly hôn ở Pháp còn thể hiện ở hình thức thanh toán, cho phép Tòa án lựa chọn các phương thức phù hợp với yêu cầu khách quan giữa các bên như thanh toán một lần, thanh toán bằng hình thức trả dần, thanh toán theo đợt định kỳ, kết hợp nhiều hình thức và thanh toán bằng tài sản[16]. Sự đa dạng này là một điểm đột phá so với nhiều quốc gia Châu Âu khác, mang tính tiên phong và bao quát hơn trong việc cung cấp các giải pháp tài chính đa dạng, đồng thời đảm bảo thực thi nếu bên trả trợ cấp theo phán quyết không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán thì bên nhận có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp thi hành bao gồm khóa tài khoản, thu giữ tài sản hoặc trừ tiền lương hàng tháng.
Thực tiễn áp dụng chế định trợ cấp bù đắp về BTKT khi ly hôn tại Pháp cho thấy, chế định này được triển khai một cách rộng rãi trong xét xử như một cơ chế chủ đạo nhằm giải quyết hậu quả tài chính khi ly hôn, giúp tòa án Pháp linh hoạt hơn trong giải quyết các vụ án, đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia, giúp giảm thiểu sự bất công trong quá trình ly hôn, nhất là phụ nữ khi họ thường phải gặp nhiều khó khăn trong quá trình tìm kiếm việc làm sau hôn nhân tan vỡ. Chế định này được xây dựng từ nền tảng pháp lý cụ thể, tiêu chí xác định toàn diện và phương thức thanh toán linh hoạt đã trở thành một thiết chế điển hình cho hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình Pháp, đây không chỉ là giải pháp tài sản tạm thời mà còn là công cụ kinh tế quan trọng đảm bảo sự ổn định tài chính lâu dài cho các đối tượng yếu thế trong ly hôn.
3. Thực trạng quy định pháp luật và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
3.1. Thực trạng quy định pháp luật về bồi thường kinh tế khi ly hôn tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các quy định về BTKT khi ly hôn vẫn chưa được quy định một cách chi tiết, đặc biệt là chưa công nhận giá trị của hoạt động nội trợ và các đóng góp phi tài chính khác, làm căn cứ độc lập để yêu cầu bồi thường. Theo pháp luật Việt Nam, khi giải quyết hậu quả kinh tế khi ly hôn chủ yếu dựa trên nguyên tắc chia tài sản chung của vợ và chồng, yêu cầu phải xem xét các yếu tố “công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;...”[17]. Song trên thực tế, quy định này đã bỏ qua các giá trị của những đóng góp như chăm sóc con cái, người già, nội trợ, hay sẵn sàng từ bỏ việc làm để hỗ trợ bạn đời, vẫn khó được định định lượng và đánh giá một cách toàn diện do thiếu các tiêu chí pháp lý cụ thể. Do đó, có thể dẫn đến tình trạng bất hợp lý trong phân chia tài sản khi chưa thực sự đi sâu vào chi tiết về giá trị lao động nội trợ và duy trì mái ấm gia đình...
Hiện nay pháp luật Việt Nam chủ yếu tập trung vào phân chia tài sản chung và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con cái, chưa có chế định cụ thể riêng biệt nào được xây dựng để khắc phục sự suy giảm về điều kiện sống, khả năng tài chính của bên yếu thế về kinh tế. Đây là đối tượng thường gặp khó khăn sau ly hôn, dẫn đến hệ quả mức sống thấp hơn thời kỳ trong hôn nhân, mà bên còn lại thì vẫn duy trì mức sống ổn định không gặp khó khăn về kinh tế hay thậm chí tốt hơn do không còn nghĩa vụ chu cấp cho gia đình. Sự thiếu hụt quy định pháp lý này đặt ra một thực trạng nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con cái chứ chưa đạt tới mức sống tương xứng trong giai đoạn hôn nhân.
Trên thực tế vẫn còn thiếu các hướng dẫn; cơ chế phối hợp trong thi hành án vẫn còn một số hạn chế như: Tòa án giải quyết về ly hôn, vấn đề về chia tài sản, cấp dưỡng và bồi thường kinh tế thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự, nhưng trong quá trình thi hành án có thể phát sinh nhiều vấn đề phức tạp như bên phải thi hành tẩu tán tài sản, không hợp tác hoặc không có khả năng thi hành án nên phải có sự phối hợp giữa chính quyền địa phương đảm bảo về việc xác minh tài sản, cưỡng chế thi hành án. Trên thực tế sự phối hợp này vẫn còn chưa thực sự đồng bộ thiếu cơ chế rõ ràng hoặc vướng mắc về thẩm quyền. Điều này có thể dẫn đến việc kéo dài thời gian giải quyết vụ việc, giảm hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.
3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ những phân tích trên, tác giả đề xuất như sau:
Thứ nhất, pháp luật Việt Nam cần hướng tới việc xác lập một chế định riêng biệt và độc lập về BTKT khi ly hôn. Kinh nghiệm từ Trung Quốc và Pháp cho thấy, việc tách bạch cơ chế BTKT khỏi các quy định chung về phân chia tài sản không chỉ làm rõ bản chất của chế định mà còn giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế. Trên cơ sở đó, Việt Nam cần xây dựng một khuôn khổ pháp lý độc lập, trong đó quy định cụ thể về khái niệm, bản chất, điều kiện áp dụng và hệ quả pháp lý của BTKT khi ly hôn, thay vì tiếp tục lồng ghép một cách hạn chế trong các nguyên tắc phân chia tài sản như hiện nay.
Thứ hai, cần công nhận và thiết lập các tiêu chí định lượng đối với các đóng góp phi tài chính trong hôn nhân. Từ kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là cách tiếp cận của pháp luật Trung Quốc, cho thấy việc ghi nhận công sức chăm sóc gia đình và hỗ trợ bạn đời có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm công bằng sau ly hôn. Pháp luật Việt Nam cần xây dựng quy định cụ thể nhằm công nhận lao động nội trợ, chăm sóc con cái và người thân như một căn cứ riêng biệt để xác định quyền yêu cầu BTKT. Bên cạnh đó, cần có các tiêu chí định lượng tương đối rõ ràng, làm cơ sở để Tòa án đánh giá một cách khách quan, đảm bảo tính công bằng và nhất quán trong thực tiễn áp dụng.
Thứ ba, cần hoàn thiện hệ thống tiêu chí xác định mức bồi thường theo hướng toàn diện và linh hoạt. Kinh nghiệm của pháp luật Pháp cho thấy việc xác định mức bồi thường không chỉ dựa trên thiệt hại thực tế đã phát sinh mà còn phải tính đến nhiều yếu tố như thời gian hôn nhân, độ tuổi, sức khỏe, khả năng lao động, cơ hội nghề nghiệp bị mất, cũng như triển vọng kinh tế trong tương lai của các bên. Việt Nam cần tiếp thu cách tiếp cận này, hướng tới việc xây dựng một hệ thống tiêu chí đa chiều, không chỉ dừng lại ở việc căn cứ vào các tổn thất hiện hữu mà còn xét đến các yếu tố dài hạn, qua đó bảo đảm công bằng thực chất và bền vững sau khi hôn nhân chấm dứt.
Thứ tư, cần tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành trong quá trình thực thi pháp luật về BTKT khi ly hôn. Trong bối cảnh hướng tới bảo vệ bình đẳng giới và anh sinh xã hội, việc bảo vệ hiệu quả quyền lợi của các bên, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội có liên quan. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn liên ngành, thiết lập cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các cơ quan, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác giám và sát thi hành pháp luật, qua đó đảm bảo tính khả thi và hiệu lực thực tế của các chế định BTKT khi ly hôn.
Kết luận
Từ việc phân tích chế định bồi thường kinh tế khi ly hôn trong pháp luật Pháp và Trung Quốc có thể thấy đây là mô hình tiến bộ, được thiết kế trên cơ sở tách biệt rõ ràng giữa phân chia tài sản và bảo đảm cân bằng điều kiện sống sau ly hôn. Đặc biệt, chế định trợ cấp bù đắp không chỉ phản ánh nguyên tắc công bằng mà còn thể hiện cách tiếp cận nhân văn.
Đặt trong bối cảnh Việt Nam, những kinh nghiệm từ pháp luật Pháp, Trung Quốc cho thấy sự cần thiết phải đổi mới theo hướng không chỉ dừng lại ở việc chia tài sản, mà còn phải quan tâm đến việc tái lập sự công bằng về điều kiện sống sau khi hôn nhân chấm dứt. Việc xây dựng một chế định riêng về bồi thường kinh tế khi ly hôn, có cơ sở pháp lý rõ ràng, tiêu chí cụ thể và cơ chế thực thi hiệu quả, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, không chỉ mang ý nghĩa hoàn thiện hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình, mà còn góp phần bảo đảm công bằng xã hội, thúc đẩy bình đẳng giới và hướng tới sự ổn định bền vững cho các chủ thể sau ly hôn trong bối cảnh xã hội hiện đại.
Tài liệu tham khảo
1. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
2. Luật Hôn nhân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2001.
3. Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 (sửa đổi, bổ sung năm 2016).
4. Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2020.
5. CEDAW (2013), General recommendation No. 29 on the economic consequences of marriage, family relations and their dissolution (CEDAW/C/GC/29), đoạn 40.
6. UNJSPF, Divorce, https://dev.www.unjspf.org/for-clients/divorce/.
7. 杨彤彤, 关于《民法典》1088条规定的理解与解读—离婚纠纷中的经济补偿 [trans: Yang Tongtong (2021), “An Understanding and Interpretation of Article 1088 of the ‘Civil Code’—Economic Compensation in Divorce Disputes”], Allbright law Offices.
8. 王雷, 夫妻财产约定的识别与法律效力 [trans: Wang Lei (2025), “Identification and Legal Validity of Marital Property Agreements”], Journal press of Swupl.
9. Mingyu Hu and Xunan Luo (2020), “Study on Application of Divorce Relief System in Chinese Civil Code”, Scientific Research An Academic Publisher, số 11.
10. Candice Helfand-Rogers, Survey Says: Women Are (Still) Doing More of the Housework, https://thestoryexchange.org/survey-says-women-are-still-doing-more-of-the-housework/.
11. Grégory Hanson Avocat (2023), How French divorce handles financial compensation and division of matrimonial assets, How French divorce handles financial compensation and division of matrimonial assets | HANSON GRÉGORY.
12. Dorothée Pierry (2024), Prestation compensatoire divorce : qui peut en bénéficier? Quelle démarche et comment est-elle calculée?, Prestation compensatoire : ce qu'il faut savoir en cas de divorce.
[1] CEDAW (2013), General recommendation No. 29 on the economic consequences of marriage, family relations and their dissolution (CEDAW/C/GC/29), đoạn 40, https://chr-observatories.uwazi.io/tl/entity/pj6vpnc5mx?page=7, truy cập ngày 13/04/2026.
[2] UNJSPF. Divorce, https://dev.www.unjspf.org/for-clients/divorce/, truy cập ngày 13/4/2026.
[3] Điều 40 luật Hôn nhân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2001.
[4] 杨彤彤, 关于《民法典》1088条规定的理解与解读—离婚纠纷中的经济补偿 [trans: Yang Tongtong, “An Understanding and Interpretation of Article 1088 of the ‘Civil Code’—Economic Compensation in Divorce Disputes”], https://www.allbrightlaw.com/CN/10475/7d45e801e6316a6d.aspx, truy cập ngày 11/04/2026.
[5]王雷, 夫妻财产约定的识别与法律效力 [trans: Wang Lei, “Identification and Legal Validity of Marital Property Agreements”], https://qks.swupl.edu.cn/qks/qks_tzgg/ab5912bb9e6e45b39f819a3d7d43ba25.htm, truy cập ngày 12/4/2026.
[6] Mingyu Hu and Xunan Luo, “Study on Application of Divorce Relief System in Chinese Civil Code”, số 11, 2020, tr.963-973.
[7] Điều 40 Luật Hôn nhân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2001.
[8] Điều 1088 Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2020.
[9] Candice Helfand-Rogers, Survey Says: Women Are (Still) Doing More of the Housework, https://thestoryexchange.org/survey-says-women-are-still-doing-more-of-the-housework/, truy cập ngày 12/4/2026.
[10] Mingyu and Xunan Lou, tlđd.
[11] Điều 266 Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 (sửa đổi, bổ sung năm 2016).
[12] Grégory Hanson Avocat (2023), How French divorce handles financial compensation and division of matrimonial assets, How French divorce handles financial compensation and division of matrimonial assets | HANSON GRÉGORY, truy cập ngày 12/4/2026.
[13] Điều 270 Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 (sửa đổi, bổ sung năm 2016).
[14] Dorothée Pierry (2024), Prestation compensatoire divorce : qui peut en bénéficier? Quelle démarche et comment est-elle calculée?, Prestation compensatoire : ce qu'il faut savoir en cas de divorce, truy cập ngày 12/4/2026.
[15] Điều 271 Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 (sửa đổi, bổ sung năm 2016) .
[16] Điều 274 đến Điều 280 Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 (sửa đổi, bổ sung năm 2016).
[17] khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
12 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Tạo đột phá cho giai đoạn phát triển 2026-2030
-
Hệ thống Tòa án của Canada
-
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và vấn đề thực thi - Kinh nghiệm từ một số quốc gia phát triển
-
Vướng mắc khi định tội danh “sử dụng trái phép chất ma túy” theo Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Thể lệ, Quy trình phản biện, Hội đồng Biên tập và Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tạp chí Toà án nhân dân
Bình luận