Các tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong hoạt động thương mại điện tử - Thực tiễn xét xử và kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam
Bài viết phân tích các quy định của Bộ luật Hình sự về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả và những vướng mắc trong thực tiễn xét xử. Trên cơ sở nghiên cứu một số vụ án điển hình, bài viết chỉ ra một số bất cập trong áp dụng pháp luật, từ đó đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định và hướng dẫn áp dụng, góp phần cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình sửa đổi Bộ luật Hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm khi hoạt động thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ.
Đặt vấn đề
Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử, mạng xã hội và hoạt động livestream đang làm thay đổi đáng kể phương thức sản xuất, quảng cáo và tiêu thụ hàng giả. Các hành vi vi phạm không còn giới hạn ở cửa hàng hoặc địa điểm kinh doanh truyền thống mà có thể được tổ chức qua tài khoản mạng xã hội, gian hàng trực tuyến, nền tảng xuyên biên giới và hệ thống giao nhận công nghệ. Thực tế này làm cho việc phát hiện, chứng minh và xét xử các tội sản xuất, buôn bán hàng giả trở nên phức tạp hơn, đặc biệt ở các vấn đề xác định đối tượng hàng giả, lựa chọn tội danh, thu thập chứng cứ điện tử và xác định vai trò của từng chủ thể. Trong khi đó, các điều 192, 193, 194 và 195 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 được xây dựng dựa trên các hành vi sản xuất, buôn bán theo phương thức truyền thống. Do đó, việc nghiên cứu những vướng mắc trong thực tiễn xét xử các tội phạm này trên môi trường số là cần thiết nhằm nhận diện những khoảng trống trong áp dụng pháp luật và đề xuất giải pháp hoàn thiện phù hợp với bối cảnh phát triển của thương mại điện tử hiện nay.
1. Khái quát về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả
1.1. Khái niệm hàng giả và phân loại hàng giả
Khái niệm “hàng giả” là cơ sở để xác định đối tượng tác động và phạm vi áp dụng các quy định của BLHS về sản xuất, buôn bán hàng giả. Theo Từ điển Luật học: “Hàng giả là thứ không có giá trị sử dụng của loại hàng mà nó mang tên (hàng giả về nội dung) hoặc tuy có giá trị sử dụng của loại hàng mang tên nhưng mang nhãn hiệu của cơ sở sản xuất khác nhằm lừa dối khách hàng (giả về hình thức)”[1]. Cách tiếp cận này cho thấy hàng giả có thể biểu hiện ở sự gian dối về chất lượng, công dụng của sản phẩm hoặc về những dấu hiệu bên ngoài làm người mua nhầm lẫn về nguồn gốc của hàng hóa.
Ở phương diện pháp lý, việc nhận diện hàng giả chủ yếu dựa trên các tiêu chí tại Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng[2]. Theo đó, xét về tính chất giả mạo, có thể chia hàng giả thành hai nhóm: Hàng giả về nội dung là hàng hóa không có giá trị hoặc không đúng giá trị sử dụng, công dụng đã công bố, đăng ký hay ghi nhận trên nhãn, bao bì hoặc có chỉ tiêu chất lượng, đặc tính kỹ thuật cơ bản chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn, quy chuẩn đã đăng ký hoặc công bố áp dụng; hàng giả về hình thức là hàng hóa có sự giả mạo về dấu hiệu nhận diện thương mại, bao gồm nhãn hàng hóa, bao bì, tên thương nhân, địa chỉ kinh doanh, tên thương mại, mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc các thông tin chỉ dẫn về nguồn gốc, nơi sản xuất, lắp ráp, đóng gói.
Bên cạnh cách phân loại trên, BLHS năm 2015 tiếp cận hàng giả theo tính chất của đối tượng tác động để phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS) thành bốn nhóm: hàng giả thông thường (Điều 192); hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); và hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi (Điều 195). Dự thảo BLHS năm 20263 đã hệ thống hóa các tội sản xuất, buôn bán hàng giả tại các Điều 174-177 thuộc Mục 1 Chương XVII, thay cho các điều 192-195 của BLHS năm 2015. Trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành, Dự thảo đã có những sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện dấu hiệu pháp lý của các tội phạm này, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình mới.
1.2. Đặc điểm pháp lý của các tội sản xuất, buôn bán hàng giả
- Về khách thể của tội phạm:
Khách thể của các tội phạm về hàng giả là các quan hệ xã hội liên quan đến trật tự quản lý kinh tế, bao gồm trật tự quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất, lưu thông, phân phối và kinh doanh hàng hóa, cũng như hoạt động quản lý thị trường; đồng thời có thể xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp.
- Về mặt khách quan của tội phạm:
Các tội phạm về sản xuất, buôn bán hàng giả được thực hiện thông qua hành vi sản xuất hoặc buôn bán hàng giả. Theo khoản 1, 2 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP thì sản xuất hàng giả bao gồm các hoạt động chế tạo, chế bản, in, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa; hoạt động buôn bán hàng giả bao gồm hoạt động chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đưa hàng hóa vào lưu thông. Việc xác định trách nhiệm hình sự phải căn cứ vào hành vi thực tế và các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của BLHS.
- Về chủ thể của tội phạm:
Theo quy định của BLHS, chủ thể của các tội sản xuất, buôn bán hàng giả bao gồm cả cá nhân và pháp nhân thương mại (PNTM). Đối với cá nhân, phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên4 và có năng lực TNHS đầy đủ. Đối với PNTM, phải có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân và có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân đó.
- Về mặt chủ quan của tội phạm:
Các tội sản xuất, buôn bán hàng giả được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ tính nguy hiểm của hành vi, biết hàng hóa là giả nhưng vẫn thực hiện việc sản xuất hoặc buôn bán. Trong cấu thành các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, động cơ và mục đích không được xem là dấu hiệu bắt buộc để xác định TNHS.
2. Vướng mắc trong thực tiễn xét xử các tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong hoạt động thương mại điện tử
Theo thống kê của Ban Chỉ đạo 389 TP. Hà Nội, trong 06 tháng đầu năm 2026, các lực lượng chức năng đã phát hiện, bắt giữ và xử lý 9.922 vụ vi phạm, tăng 16,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 1.611 vụ liên quan đến hàng lậu, hàng cấm; 1.610 vụ hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và 6.701 vụ gian lận thương mại cùng các hành vi vi phạm khác5. Thực tế này không làm thay đổi các dấu hiệu pháp lý cơ bản của các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, nhưng làm phát sinh những khó khăn mới trong công tác xét xử loại tội phạm này như sau:
Vướng mắc thứ nhất là khó phân định hàng giả với hàng hóa giả mạo sở hữu trí tuệ. Tại điểm đ khoản 7 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP xác định một số trường hợp giả mạo nhãn, bao bì, nguồn gốc, xuất xứ là hàng giả, trong khi đó Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022, 2025) lại xác định hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý là hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ. Sự chồng chéo trong quy định pháp luật này dẫn đến việc khó khăn trong công tác xét xử khi lựa chọn tội danh giữa hai điều luật này.
Chẳng hạn, tại Bản án số 55/2024/HS-ST của TAND huyện T (cũ), tỉnh Đ, hành vi kinh doanh các sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng như Nike, Adidas, Gucci, Chanel… có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu đã được bảo hộ bị xét xử về tội “Buôn bán hàng giả” theo Điều 192 BLHS; trong khi đó, ở Bản án số 192/2023/HS-ST của TAND quận N (cũ), thành phố H, hành vi tương tự lại bị xử lý theo Điều 226 BLHS6. Vụ án cho thấy ranh giới giữa hàng giả và hàng hóa giả mạo nhãn hiệu chưa rõ ràng, dẫn đến không thống nhất trong công tác xét xử giữa các Tòa án.
Vướng mắc thứ hai là khó khăn khi xác định quy mô hàng giả đã được tiêu thụ. Việc xác định quy mô hàng giả đã tiêu thụ có ý nghĩa quan trọng trong chứng minh các dấu hiệu định tội, định khung hình phạt, nhất là khi hàng hóa không còn để thu giữ, giám định. Trong trường hợp hàng giả đã được bán hết cho người tiêu dùng, không thể thu hồi để giám định chất lượng thì việc xác định số lượng hàng đã sản xuất, bán ra thị trường cũng như trị giá tương ứng gặp phải những khó khăn nhất định, dẫn đến cách đánh giá khác nhau giữa các cơ quan có thẩm quyền.
Điển hình trong vụ án Lâm Phát T, bị cáo thừa nhận đã mua tổng cộng 4.250 kg bột ngọt của Trung Quốc về đóng gói vào bao bì Ajinomoto giả và đã bán hết. Tổng trị giá số bột ngọt giả này nếu tương đương hàng thật là 255.000.000 đồng (thỏa mãn quy định tại khoản 2 Điều 193). Tuy nhiên, các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) cấp sơ thẩm chỉ xem xét, truy tố bị cáo đối với 1.059 kg bột ngọt giả thu giữ được tại xưởng sản xuất (trị giá 65.976.000 đồng) để xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 193. TAND cấp cao đã quyết định hủy toàn bộ bản án để điều tra lại vì có dấu hiệu bỏ lọt hành vi phạm tội nghiêm trọng của bị cáo7. Từ vụ việc này cho thấy sự lúng túng của Tòa án khi xử lý phần hàng giả đã tiêu thụ, dẫn đến nguy cơ bỏ lọt hành vi phạm tội nghiêm trọng.
Vướng mắc này dù bước đầu đã được tháo gỡ khi Dự thảo BLHS năm 2026 bổ sung quy định về “tổng doanh số hàng đã bán và giá thành hàng chưa bán”8. Quy định này cho phép xác định quy mô hành vi phạm tội trên cơ sở tổng doanh số hàng đã bán và giá thành hàng chưa bán thông qua dữ liệu giao dịch điện tử, góp phần khắc phục khó khăn trong chứng minh hành vi phạm tội khi hàng giả đã tiêu thụ hết. Tuy nhiên, việc bổ sung tiêu chí định lượng mới chưa giải quyết triệt để những khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật, nhất là việc xác định doanh số đối với các đơn hàng bị hủy, hoàn trả; phương pháp xác định giá thành hàng chưa bán và tính xác thực của dữ liệu giao dịch trên nền tảng thương mại điện tử.
Vướng mắc thứ ba là khó khăn trong thu thập, xác thực và sử dụng chứng cứ điện tử để chứng minh hành vi phạm tội. Trên môi trường số, chứng cứ của hành vi phạm tội chủ yếu tồn tại dưới dạng dữ liệu điện tử như tin nhắn giao dịch trực tuyến, nhật ký đơn hàng trên sàn thương mại điện tử, lịch sử chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng hoặc ví điện tử. Các đối tượng phạm tội thường sử dụng các công nghệ số để che giấu danh tính, sử dụng tài khoản ảo, đặt máy chủ ở nước ngoài, liên tục xóa dấu vết điện tử hoặc chỉnh sửa chứng cứ số trong thời gian rất ngắn9. Điều này gây khó khăn cho CQTHTT trong việc xác định đầy đủ số lượng giao dịch, doanh thu và khoản thu lợi bất chính, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc chứng minh các dấu hiệu định tội và định khung hình phạt.
Ví dụ: Trong Bản án số 26/2023/HS-ST ngày 11/4/2023 của TAND huyện T (cũ), bị cáo Đỗ Văn H sử dụng Facebook để tìm nguồn hàng và nhắn tin qua Zalo với một người không quen biết để đặt mua 720 tuýp kem đánh răng Sensodyne giả. Tuy nhiên, điện thoại được sử dụng để liên lạc, giao dịch không thu giữ được; không xác định được tên, địa chỉ của người bán nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ làm rõ và xử lý người cung cấp hàng giả10. Vụ án cho thấy, khi giao dịch hàng giả được thực hiện qua tài khoản mạng xã hội và dữ liệu điện tử không còn được lưu giữ, việc xác định nguồn hàng, danh tính và vai trò của các chủ thể liên quan có thể bị gián đoạn, làm hạn chế khả năng làm rõ đầy đủ chuỗi hành vi phạm tội cũng như tiềm ẩn nguy cơ bỏ lọt tội phạm.
Dự thảo BLHS năm 2026 đã bổ sung các biện pháp tư pháp như tịch thu, tiêu hủy dữ liệu số trái phép; buộc dừng hoạt động tên miền, địa chỉ IP và thu hồi khóa mật mã10. Đồng thời, Điều 415 Dự thảo cũng đã bổ sung quy định về trình tự, thủ tục thi hành các biện pháp này. Tuy nhiên chưa có quy định đầy đủ về điều kiện, phạm vi áp dụng và cơ chế bảo toàn chứng cứ điện tử, cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể không liên quan, đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn thi hành.
Vướng mắc thứ tư là khó khăn trong việc xác định lỗi và vai trò của các chủ thể tham gia chuỗi phân phối hàng giả trên môi trường số. Hoạt động buôn bán hàng giả trực tuyến thường được tổ chức qua nhiều khâu như người tạo nội dung quảng cáo, KOL/livestream, quản trị gian hàng, nhân viên chốt đơn, chủ kho và đơn vị vận chuyển. Việc phân định TNHS của các chủ thể này gặp khó khăn khi họ không trực tiếp thực hiện hành vi buôn bán nhưng có thể góp phần vào quá trình tiêu thụ hàng giả. Dự thảo BLHS năm 2026 đã tiếp tục ghi nhận chế định đồng phạm tại Điều 17, đồng thời bổ sung các tình tiết tăng nặng đối với PNTM liên quan đến việc lợi dụng hệ thống đại lý, tổ chức, cá nhân trung gian để thực hiện hoặc che giấu tội phạm tại điểm c và điểm đ khoản 1 Điều 86. Tuy nhiên, các quy định này chưa làm rõ ranh giới giữa hoạt động cung cấp dịch vụ trung gian hợp pháp và hành vi cố ý giúp sức trong chuỗi phân phối hàng giả trực tuyến. Đây là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện nhằm bảo đảm xác định đúng TNHS của từng chủ thể, tránh bỏ lọt tội phạm hoặc mở rộng TNHS đối với những người không có lỗi cố ý tham gia thực hiện tội phạm.
Vướng mắc cuối cùng là khó khăn trong việc phân định hành vi buôn bán hàng giả trực tuyến qua biên giới và hành vi buôn lậu.
Trong hoạt động thương mại điện tử, việc đặt mua, vận chuyển và tiêu thụ hàng giả từ nước ngoài vào Việt Nam có thể đồng thời làm phát sinh dấu hiệu của tội buôn lậu và tội buôn bán hàng giả, gây khó khăn trong việc xác định tội danh. Điển hình là vụ án VN Pharma nhập khẩu 9.300 hộp thuốc H-Capita, trong đó Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy bản án sơ thẩm năm 2017 để điều tra lại, làm rõ dấu hiệu của tội buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh thay vì chỉ xem xét hành vi buôn lậu12. Vụ án cho thấy, việc định tội danh không thể chỉ căn cứ vào hành vi đưa hàng hóa qua biên giới mà cần đánh giá đầy đủ tính chất của hàng hóa và các dấu hiệu cấu thành tội phạm tương ứng.
Dự thảo BLHS (sửa đổi) ngày 09/10/2026 đã bước đầu làm rõ dấu hiệu của tội buôn lậu tại Điều 170, gắn hành vi buôn bán qua biên giới với việc không khai báo hải quan hoặc gian dối trong khai báo, làm thủ tục hải quan; đồng thời tiếp tục quy định tình tiết định khung tăng nặng “buôn bán qua biên giới” tại các Điều 174–177 về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Tuy nhiên, Dự thảo chưa xác định rõ nguyên tắc phân định TNHS khi cùng một hành vi có dấu hiệu cấu thành của cả hai nhóm tội phạm, đặc biệt là ranh giới giữa việc áp dụng một tội danh với tình tiết định khung tăng nặng và việc xử lý nhiều tội danh đối với các hành vi phạm tội độc lập.
3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xét xử các tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong hoạt động thương mại điện tử
Từ những vướng mắc trong thực tiễn xét xử, cùng với các sửa đổi, bổ sung được đề xuất tại dự thảo BLHS năm 2026, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật và bảo đảm áp dụng thống nhất trong xử lý các tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên môi trường thương mại điện tử như sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện quy định về phân định phạm vi áp dụng giữa Tội sản xuất, buôn bán hàng giả và Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong trường hợp hành vi vi phạm được thực hiện trên môi trường thương mại điện tử.
Dự thảo BLHS năm 2026 đã có sự điều chỉnh đối với các quy định về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả tại Điều 174 và Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 211. Tuy nhiên, trong hoạt động thương mại điện tử, một sản phẩm có thể đồng thời giả về chất lượng, công dụng và giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, làm phát sinh khó khăn trong việc xác định tội danh. Vì vậy, cần nghiên cứu bổ sung quy định tại Điều 174 và Điều 211 theo hướng xác định rõ mối quan hệ giữa hai tội danh, trong đó làm rõ: (i) Trường hợp hàng hóa chỉ có dấu hiệu giả mạo về chất lượng, giá trị sử dụng, công dụng hoặc đặc tính kỹ thuật thì xem xét TNHS theo Điều 174 hoặc các điều luật tương ứng quy định về hàng giả; (ii) Trường hợp hàng hóa không có dấu hiệu giả mạo về chất lượng, công dụng nhưng có hành vi cố ý sử dụng nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý giả mạo, đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì xem xét TNHS theo Điều 211; (iii) Trường hợp hàng hóa đồng thời có dấu hiệu giả mạo về chất lượng, công dụng và giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý thì cần có quy định xác định nguyên tắc xử lý trên cơ sở đánh giá đầy đủ các yếu tố cấu thành của từng tội phạm, tính độc lập của hành vi xâm phạm và khách thể bị xâm hại, bảo đảm không bỏ lọt tội phạm nhưng cũng không xử lý trùng lặp một hành vi phạm tội.
Thứ hai, hoàn thiện quy định về xác định TNHS của PNTM và cá nhân có liên quan trong hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả trong hoạt động thương mại điện tử.
Dự thảo BLHS năm 2026 đã quy định TNHS đối với PNTM phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả và tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, trong môi trường thương mại điện tử, hoạt động kinh doanh thường được tổ chức thông qua nhiều chủ thể và phương thức khác nhau, việc xác định chủ thể thực sự tổ chức, điều hành, hưởng lợi từ hoạt động kinh doanh hàng giả và phân biệt trách nhiệm của người trực tiếp thực hiện hành vi với trách nhiệm của PNTM đứng sau hoạt động kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định về TNHS của PNTM theo hướng làm rõ căn cứ xác định hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân và có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân trong hoạt động kinh doanh. Đồng thời, cần làm rõ nguyên tắc xác định TNHS của cá nhân. Việc hoàn thiện các quy định này sẽ góp phần khắc phục tình trạng lợi dụng tư cách pháp nhân, tài khoản trung gian hoặc người đứng tên hộ để che giấu chủ thể thực sự thực hiện hành vi phạm tội, qua đó nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả trên môi trường thương mại điện tử.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế xác định quy mô hàng giả đã tiêu thụ và thu thập, đánh giá chứng cứ điện tử.
Việc dự thảo BLHS năm 2026 bổ sung tiêu chí “tổng doanh số hàng đã bán và giá thành hàng chưa bán” tại các Điều 174 - 177 góp phần tháo gỡ vướng mắc về xác định quy mô hành vi phạm tội khi hàng giả đã tiêu thụ. Tuy nhiên, để bảo đảm tính minh bạch và thống nhất trong áp dụng pháp luật, cần tiếp tục hoàn thiện quy định này theo hướng làm rõ nội hàm và phương pháp xác định từng yếu tố cấu thành tiêu chí định lượng, đặc biệt là cách xác định doanh số đối với các giao dịch phát sinh trên nền tảng thương mại điện tử; phân biệt đơn hàng đã hoàn thành với đơn hàng bị hủy, hoàn trả và loại trừ trường hợp tính trùng giá trị giao dịch. Đồng thời, cần nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thu thập, bảo toàn, xác thực và đánh giá dữ liệu điện tử từ sàn thương mại điện tử, ngân hàng, ví điện tử và đơn vị vận chuyển. Đối với trường hợp hàng giả không còn để giám định như vụ án Lâm Phát T, cần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc sử dụng tổng hợp các nguồn chứng cứ hợp pháp nhằm xác định bản chất hàng hóa, đồng thời bảo đảm phân biệt giữa chứng cứ chứng minh quy mô giao dịch và chứng cứ chứng minh tính chất giả của hàng hóa, tránh suy đoán bất lợi cho người bị buộc tội khi chưa có đủ căn cứ chứng minh..
Thứ tư, hoàn thiện quy định về TNHS của các chủ thể trung gian và PNTM trong chuỗi phân phối hàng giả trực tuyến.
Trong bối cảnh hoạt động thương mại điện tử có sự tham gia của nhiều chủ thể với vai trò khác nhau, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định của BLHS về đồng phạm và TNHS của PNTM nhằm bảo đảm khả năng phân định trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi phân phối hàng giả. Đối với người quảng cáo, người thực hiện hoạt động livestream bán hàng, người quản trị gian hàng và các chủ thể cung cấp dịch vụ trung gian, việc xác định TNHS phải căn cứ vào hành vi thực tế, yếu tố lỗi và mức độ tham gia vào việc thực hiện tội phạm. Đối với PNTM, cần tiếp tục hoàn thiện các tình tiết tăng nặng được đề xuất tại điểm c và điểm đ khoản 1 Điều 86 dự thảo BLHS năm 2026 theo hướng bảo đảm tính rõ ràng trong việc xác định hành vi lợi dụng quyền sở hữu, quyền chi phối, hệ thống công ty con, đại lý hoặc cơ cấu tổ chức để thực hiện, che giấu tội phạm.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế áp dụng và thi hành các biện pháp tư pháp đối với hoạt động phạm tội trên môi trường số.
Dự thảo BLHS năm 2026 bổ sung các biện pháp tư pháp như tịch thu, tiêu hủy dữ liệu số trái phép; buộc dừng hoạt động tên miền, địa chỉ IP và thu hồi khóa mật mã (Điều 49, 50, 83) là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả xử lý tội phạm trong môi trường số. Tuy nhiên, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định này theo hướng xác định rõ đối tượng, điều kiện và giới hạn áp dụng từng biện pháp, bảo đảm tính cần thiết, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án hình sự được đề xuất tại Điều 415 dự thảo BLHS, bảo đảm sự thống nhất về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thi hành và trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan thi hành án hình sự với các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng, qua đó nâng cao tính khả thi của các biện pháp tư pháp trong thực tiễn.
Kết luận
Bài viết phân tích những vướng mắc trong thực tiễn xét xử các tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên môi trường thương mại điện tử, tập trung vào việc xác định hàng giả, phân định tội danh, chứng minh quy mô hành vi phạm tội, đánh giá chứng cứ điện tử và xác định TNHS của các chủ thể liên quan. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các kiến nghị nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của dự thảo BLHS năm 2026, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm hàng giả trong bối cảnh chuyển đổi số.
[1] Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa, tr.319.
[2] Nghị định này đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP ngày 21/02/2025.
3 Dự thảo ngày 09/10/2026.
4 Điều 12 BLHS năm 2015.
5 Báo Điện tử Chính phủ, Quyết liệt ngăn chặn hàng giả trên không gian mạng, https://thanglong.baochinhphu.vn/quyet-liet-ngan-chan-hang-gia-tren-khong-gian-mang-103260713124537303.htm?, truy cập ngày 15/10/2026.
6 Trịnh Thị Hạnh, Phùng Duy Mạnh, Đào Hương Giang (2026), Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và những gợi mở hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14 (kỳ II tháng 7/2026), tr.15.
7 TAND cấp cao tại Đà Nẵng (2020), Quyết định giám đốc thẩm số 31/2020/HS-GĐT ngày 04/9/2020 về vụ án hình sự đối với Lâm Phát T.
8 Tại các Điều 174 đến Điều 177 dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2026 (dự thảo ngày 09/10/2026).
9 Trường Giang, Hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng tinh vi trên môi trường số, https://baovephapluat.vn/kinh-te/kinh-doanh-phap-luat/hang-gia-va-hang-hoa-xam-pham-quyen-so-huu-tri-tue-ngay-cang-tinh-vi-tren-moi-truong-so-200416.html?, truy cập ngày 15/6/2026.
10 TAND huyện T, tỉnh V (2023), Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HS-ST ngày 11/4/2023 về Tội buôn bán hàng giả.
10 Điều 49, Điều 50 và Điều 83 dự thảo Bộ luật Hình sự năm 2026 (dự thảo ngày 09/10/2026).
12 TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Bản án hình sự phúc thẩm về vụ án xảy ra tại Công ty Cổ phần VN Pharma, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 306/2017/HSST ngày 25/8/2017 của TAND Thành phố H để điều tra, truy tố và xét xử lại.
Cán bộ Ðội Quản lý thị trường số 3 - Cục Quản lý thị trường thành phố Cần Thơ kiểm tra một cơ sở kinh doanh mỹ phẩm trên nền tảng thương mại điện tử - Ảnh: KHÁNH NAM.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
XỬ LÝ VẬT CHỨNG TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
Handling physical evidence in criminal cases: Issues in improving the Vietnamese criminal procedure law from the perspective of adjudication -
TANDTC đánh giá kết quả rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027-2031
-
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM: NHỮNG BẤT CẬP, VƯỚNG MẮC VÀ ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Shortcomings, difficulties and proposals for amending and supplementing the Vietnamese Penal Code -
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TỐ TỤNG ĐIỆN TỬ TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Improving the legal framework for eletronic procedures in criminal adjudication -
VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TẠI DỰ THẢO BỘ LUẬT HÌNH SỰ (SỬA ĐỔI) THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT SỐ 66-NQ/TW NGÀY 30/4/2025 CỦA ĐẢNG
Circumstances excluding criminal responsibility in the Draft Penal Code (amended) in accordance with Resolution No. 66-NQ/TW dated 30 April 2025 of the Party
Bình luận