BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM: NHỮNG BẤT CẬP, VƯỚNG MẮC VÀ ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Shortcomings, difficulties and proposals for amending and supplementing the Vietnamese Penal Code
(TCTA) - Trên cơ sở nghiên cứu Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025), bài viết nhận xét, đánh giá những điểm chưa hợp lý về triết lý và nguyên tắc xây dựng, cũng như vấn đề bất cập, vướng mắc, đồng thời, so sánh, đối chiếu với Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) mới nhất để Ban Soạn thảo có thêm một cách tiếp cận, qua đó, tiếp tục rà soát và sửa đổi, hoàn thiện về cơ sở của trách nhiệm hình sự, những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, cũng như tính thống nhất, đồng bộ và kỹ thuật lập pháp, góp phần thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về công tác phòng, chống tội phạm, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn tới.
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước đang có nhiều biến động sâu sắc, yêu cầu hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đang trở nên đặc biệt cấp thiết. Sau hơn 08 năm thi hành, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024 và 2025) - sau đây gọi là BLHS năm 2015, đã góp phần quan trọng trong việc thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), tạo cơ sở pháp lý cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Cùng với đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), kinh tế số và hội nhập quốc tế sâu rộng, đã làm xuất hiện nhiều phương thức, thủ đoạn phạm tội mới, với tính chất ngày càng tinh vi, xuyên quốc gia và phi truyền thống. Các loại tội phạm công nghệ cao, tội phạm trên không gian mạng, tội phạm tham nhũng, kinh tế, môi trường, rửa tiền, tài trợ khủng bố, mua bán người, ma túy… tiếp tục diễn biến phức tạp, gây ra những thách thức lớn đối với hệ thống tư pháp hình sự. Trong khi đó, một số quy định của BLHS hiện hành chưa theo kịp sự biến đổi của thực tiễn, còn thiếu tính dự báo, chưa bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các luật chuyên ngành và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, còn có những vấn đề chưa bảo đảm tính triết lý, nguyên tắc khi xây dựng, hoàn thiện pháp luật hình sự.
Bên cạnh đó, quá trình áp dụng BLHS năm 2015 thời gian qua cũng cho thấy, còn tồn tại nhiều quy định chưa rõ ràng, khó áp dụng, hoặc có cách hiểu chưa thống nhất, phát sinh mâu thuẫn giữa yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm với yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân; giữa yêu cầu xử lý nghiêm minh với yêu cầu nhân đạo, hướng thiện, phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS) và cá thể hóa hình phạt, cũng như vẫn còn có các quy định gây tranh luận cả về lý luận và thực tiễn áp dụng.
Đặc biệt, với việc Bộ Chính trị ban hành các Nghị quyết quan trọng để tạo động lực phát triển cho đất nước (Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân) và nhiều chính sách, chủ trương lớn đã và đang đặt ra cho chính sách, hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự (PLHS) yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện, đổi mới và thích ứng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn tới. Điều này đã được thể hiện rõ trong Hồ sơ chính sách BLHS (sửa đổi) đã được Ban Soạn thảo đề cập và luận giải rõ[1].
Vì vậy, bài viết không chỉ góp phần nhận diện những hạn chế, thực trạng quy định của BLHS hiện hành, mà còn cung cấp luận cứ tham vấn chính sách, đề xuất giải pháp hoàn thiện cụ thể, nhằm tạo cơ sở pháp lý ổn định, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch, khả thi của BLHS, đồng thời, bảo vệ tốt hơn các quyền con người, quyền công dân và đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cũng như phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn tới.
1. Hoàn thiện cơ sở của trách nhiệm hình sự
1.1. Phân định rõ luật hình sự và luật hành chính, quan hệ pháp luật hình sự và quan hệ pháp luật hành chính
Cơ sở của TNHS và việc phân định giữa ngành luật hình sự và ngành luật hành chính đòi hỏi phải xác định dứt khoát ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính, trước hết, dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, bảo đảm nguyên tắc cốt lõi - chỉ hành vi nào được BLHS quy định là tội phạm, thì mới làm phát sinh TNHS, từ đây, có một số vấn đề đặt ra như sau:
1.1.1. Nghiên cứu bỏ đi dấu hiệu nhân thân “đã bị xử phạt vi phạm hành chính”, “đã bị xử lý kỷ luật”, “đã bị kết án” là dấu hiệu định tội
Khoản 1 Điều 2 BLHS năm 2015 đã quy định “Chỉ người nào phạm một tội đã được...” là đề cập đến việc chủ thể đã thực hiện hành vi được mô tả tại mỗi điều luật cụ thể, như hành vi giết người, cướp tài sản... và là hành vi đã thỏa mãn dấu hiệu của cấu thành tội phạm quy định trong BLHS theo từng loại tội danh. Điều này có nghĩa, “hành vi nguy hiểm cho xã hội” là vấn đề gốc, là cơ sở “gốc” của TNHS khi hành vi đó là hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trong mối tương quan nội tại, vẫn còn một số trường hợp,các nhà làm luật sử dụng dấu hiệu nhân thân - “đã bị xử phạt vi phạm hành chính”, “đã bị xử lý kỷ luật”hay “đã bị kết án” là dấu hiệu định tội[2], nên nghiên cứu loại bỏ đi việc sử dụng dấu hiệu này là dấu hiệu định tội[3]. Ở đây, tội phạm là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ PLHS. Vì vậy, khi tội phạm xảy ra, nhưng chưa bị phát hiện, hoặc đã bị phát hiện, nhưng chưa xác định được người phạm tội, thì quan hệ pháp luật hình sự vẫn tồn tại. Nguyên tắc truy cứu TNHS dựa trên hành vi và quy định cơ sở của TNHS phải dựa trên hành vi, không thể lấy sự “thiếu hụt” về hành vi mà có thể cộng thêm đặc điểm nhân thân và không thể cứ cộng hai lần hành chính lại bằng một lần hình sự[4] (mức độ hình sự là hình sự, mức độ hành chính là hành chính, quan hệ pháp luật hình sự và quan hệ pháp luật hành chính là khác nhau), so sánh như sau:
Trường hợp 1: A đáp ứng điều kiện chủ thể của tội phạm, có hành vi trộm cắp tài sản trị giá 2.000.000 đồng (Dự thảo BLHS (sửa đổi) ngày 22/9/2026 và ngày 09/10/2026 (sau đây gọi tắt là Dự thảo) tăng lên là 5.000.000 đồng, giả định đủ điều kiện truy cứu TNHS), bị xử lý hình sự.
Trường hợp 2: A đáp ứng điều kiện chủ thể của tội phạm, có hành vi trộm cắp tài sản trị giá 100.000 đồng, bị xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình). Ngoài ra, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025) quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính và với thời hạn được coi là chưa bị xử phạt là 01 năm (Điều 7); trong thời gian tiếp này, A lại trộm cắp tài sản giá trị 100.000 đồng, A bị xử lý hình sự[5].
1.1.2. Bảo đảm tính thống nhất của dấu hiệu nhân thân - “đã bị xử lý kỷ luật” nếu Bộ luật Hình sự chưa bỏ
Hiện nay, trong Mục 1. Các tội phạm tham nhũng, BLHS hiện hành, tại khoản 1 cấu thành tội phạm của 04 tội bao gồm: tội tham ô tài sản (Điều 353); tội nhận hối lộ (Điều 354); tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355); tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358) đều quy định định lượng giá trị vật chất trục lợi phải từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm (Dự thảo đã tăng lên 5.000.000 đồng, giả định đủ điều kiện truy cứu TNHS); trường hợp giá trị “của tham nhũng” không đạt đến định lượng đó, thì chỉ cấu thành tội phạm, khi: 1) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; hoặc 2) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Việc quy định tại điểm a khoản 1 các tội trên - đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm dẫn đến chưa xử lý triệt để, đồng bộ. Ví dụ, chủ thể có hành vi tham ô tài sản dưới 2.000.000 đồng, chỉ bị xử lý kỷ luật, sau đó, lại có hành vi nhận hối lộ dưới 2.000.000 đồng và bị xử lý kỷ luật và tiếp tục lại có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi và bị xử lý kỷ luật, nhưng không cấu thành tội phạm (vì phải bị xử lý chính về hành vi đã vi phạm kỷ luật). Do đó, nhằm bảo đảm đồng bộ, nên sửa điểm a khoản 1 các điều 353, 354, 355 và 358 BLHS năm 2015 thành: “Đã bị xử lý kỷ luật về một trong các hành vi tham nhũng quy định tại Mục 1 Chương này mà còn vi phạm”.
1.1.3. “Gốc” của hai trường hợp là khác nhau, nhưng việc xử lý vi phạm hành chính, lại có thể dẫn đến mức độ nặng hơn việc xử lý vi phạm hình sự
Trường hợp 1: A đáp ứng điều kiện chủ thể của tội phạm, có hành vi trộm cắp tài sản trị giá 100.000 đồng, bị xử phạt vi phạm hành chính (đã nêu) và thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm; trong thời gian này, A lại trộm cắp tài sản giá trị 100.000 đồng (không có dấu hiệu khác) A bị xử lý hình sự (gốc vi phạm ở mức độ hành chính);
Trường hợp 2: A đáp ứng điều kiện chủ thể của tội phạm, có hành vi trộm cắp tài sản trị giá 2.000.000 đồng (Dự thảo đã nâng mức thành 5.000.000 đồng, giả định đủ điều kiện truy cứu TNHS), có đủ điều kiện miễn hình phạt (Điều 59) và sau đó “không bị coi là có án tích” (khoản 2 Điều 69 BLHS hiện hành), tiếp tục trộm cắp 1.900.000 đồng (hoặc nếu theo Dự thảo BLHS (sửa đổi) ngày 09/10/2026, giả định 4.900.000 đồng) A không phạm tội và không bị xử lý hình sự (gốc vi phạm ở mức độ hình sự).
1.2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự với các trường hợp đặc biệt
Khoản 1 Điều 2 BLHS năm 2015 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” nhưng chưa đồng bộ với nhiều trường hợp đặc biệt, ví dụ:
a) Với thời hiệu truy cứu TNHS, ví dụ, một người trộm cắp tài sản có giá trị 2.000.000 đồng (Dự thảo đã tăng lên 5.000.000 đồng), nhưng không bị phát hiện, không phạm tội mới, không có quyết định truy nã, thì sau 05 năm, hết thời hiệu truy cứu TNHS, họ không phải chịu TNHS;
b) Một người phạm một tội đã được BLHS hiện hành quy định, đáp ứng cơ sở của TNHS, tuy nhiên, tội phạm được đại xá (thuộc thẩm quyền của Quốc hội) là một căn cứ không khởi tố vụ án hình sự, cũng như đang khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thì đình chỉ và không bị truy cứu TNHS...
1.3. Cơ sở của trách nhiệm hình sự và việc bảo đảm nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong các tội danh
Một trong các nội dung của nguyên tắc “suy đoán vô tội”[6] là mọi nghi ngờ hay tranh cãi về pháp luật và chứng cứ bắt buộc đều phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội[7], tuy nhiên, một số tội danh trong BLHS hiện hành ít nhiều chưa thể hiện rõ điều này, khi chứa các cụm từ “biết rõ”, “có cơ sở để biết” trong các Điều 323 - tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; Điều 324 - tội rửa tiền... Trong đó, đặc biệt là cụm từ “có cơ sở để biết” vẫn thể hiện sự suy đoán, không phản ánh trạng thái tâm lý thực tế của người phạm tội và như vậy, đặt ra việc đòi hỏi người bị buộc tội phải chứng minh mình “không biết”, “hay không có cơ sở để biết” và như vậy, chưa phản ánh đúng nguyên tắc suy đoán vô tội[8]. Vì vậy, nên sửa đổi, bổ sung các cụm từ trên thành “sau khi được chứng minh biết rõ là do người khác phạm tội mà có” cho chính xác.
2. Phân định rõ địa vị pháp lý “người phạm tội” và “người có tội”
Trong khoa học luật hình sự, BLHS và thực tiễn xét xử, tồn tại các khái niệm “người phạm tội”và “người có tội” (bên cạnh “người bị buộc tội” đã được BLTTHS năm 2015 định nghĩa tại điểm đ khoản 1 Điều 4) nên cần có sự phân biệt rõ tư cách tham gia tố tụng, nhằm bảo đảm quyền lợi và sinh mệnh chính trị cho họ.
Thuật ngữ “người phạm tội” dùng để chỉ một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm. Nói cách khác, hành vi do người đó thực hiện, đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm nào đó, được quy định trong Phần các tội phạm BLHS và người thực hiện hành vi đó bị coi là chủ thể của tội phạm (phạm tội là động từ). Trong khi đó, thuật ngữ “người có tội” cũng được sử dụng để xác định một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm, nhưng thu hẹp hơn với người phạm tội - đối với họ đã được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (có tội là tính từ). Hiện nay, BLHS hiện hành có hai tội danh sử dụng thuật ngữ “người có tội”, “người không có tội” tại Điều 368 - tội truy cứu TNHS người không có tội và Điều 369 - tội không truy cứu TNHS người có tội, từ đó, dẫn đến sự chưa thống nhất trong luật nội dung và luật hình thức[9]. Ở đây, hoạt động truy cứu TNHS diễn ra cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Hơn nữa, chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, nên tư cách “người bị buộc tội” chưa thể trở thành “người có tội” (khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 và thể hiện lại tại Điều 13 BLTTHS năm 2015). Vì vậy, tên hai tội danh này nên sửa thành: tội truy cứu TNHS người không phạm tội (Điều 368); tội không truy cứu TNHS người phạm tội (Điều 369) mới chính xác. Dự thảo đã sửa đổi và là điều đáng ghi nhận, tuy nhiên, cũng cần rà soát các nội dung khác cho bảo đảm tính thống nhất.
3. Về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
3.1. Hợp nhất các điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại để tránh chồng chéo
Khoản 1 Điều 75 BLHS năm 2015 đã đưa ra các điều kiện để truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại (PNTM), làm cơ sở áp dụng hình phạt với 04 điều kiện và Dự thảo đã sửa thành 03, bỏ đi điều kiện thứ tư, bao gồm: (1) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh PNTM; (2) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của PNTM; (3) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của PNTM; (4) Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS; đồng thời, đã sửa nội dung theo hướng pháp nhân là chủ thể liên đới chịu TNHS. Tuy nhiên, do đây là các điều kiện độc lập và phải có tổng đủ những điều kiện này mới truy cứu TNHS của PNTM. Song, điều kiện thứ nhất (hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh PNTM) và điều kiện thứ ba (hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của PNTM)[10] dường như chưa độc lập với nhau (vì thực tế, nếu hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh PNTM, thì không thể lại có trường hợp không có sự chỉ đạo, điều hành, chấp thuận của PNTM và ngược lại). Do đó, nên ghép hai điều kiện này vào thành một điều kiện chung thì hợp lý hơn.
3.2. Mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với một số tội danh phù hợp với điều kiện mới
Dự thảo BLHS giữ nguyên 33 tội hiện hành và bổ sung 24 tội, mở rộng phạm vi chịu TNHS của PNTM lên 57 tội danh. Theo đó, nghiên cứu, đánh giá tác động thật kỹ và mở rộng phạm vi chịu TNHS của PNTM đối với một số nhóm tội danh có khả năng được thực hiện thông qua cơ cấu tổ chức, hoạt động quản trị và lợi ích của pháp nhân, bao gồm: các tội về an toàn thực phẩm, dược phẩm, bảo vệ người tiêu dùng; các tội về an toàn lao động, xây dựng, phòng cháy, chữa cháy; một số tội về tham nhũng, hối lộ trong hoạt động kinh doanh; các tội về đấu thầu, đầu tư, đất đai, tài sản công; các tội về tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán và các tội môi trường mới phát sinh trong bối cảnh kinh tế xanh... Đặc biệt lưu ý, việc mở rộng này phải dựa trên tiêu chí theo các điều kiện chịu TNHS đối với chủ thể này: hành vi có thể được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có sự chỉ đạo, điều hành, chấp thuận của pháp nhân; đồng thời, việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân là cần thiết để phòng ngừa tội phạm, khắc phục hậu quả và bảo đảm công bằng, minh bạch trong xử lý hình sự. Chỉ lưu ý, đối với một vài tội danh, cần đánh giá kỹ khả năng PNTM trở thành chủ thể của TNHS và sự tương thích với các điều kiện quy định tại BLHS, đặc biệt, phải phát sinh từ hoạt động kinh doanh, hoặc nhằm đem lại lợi ích cho PNTM, chứ không dễ nhầm sang “nhóm tội phạm có tổ chức”.
4. Về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Hiện nay, BLHS hiện hành sử dụng thuật ngữ “Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự” và Dự thảo đã sửa đổi, bổ sung Điều 25 BLHS hiện hành và bổ sung Điều 28 - Gây thiệt hại khi thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, về khoa học, nên tiếp cận để sửa tên gọi: “Các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi” và một số trường hợp loại trừ TNHS nên được sửa đổi, bổ sung như sau:
4.1. Sự kiện bất ngờ
Để khẳng định việc thực hiện hành vi trong sự kiện bất ngờ là trường hợp không có lỗi như khoa học luật hình sự đã thừa nhận và chỉ ra, cần bổ sung cụm từ “không có lỗi” vào nội dung điều luật này. BLHS nhiều nước trên thế giới đều quy định (ví dụ: Điều 28 BLHS Liên bang Nga quy định rõ trường hợp “gây ra hậu quả, nhưng không có lỗi”, hoặc là, Điều 16 BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định “không phải do lỗi cố ý hay lỗi vô ý”...).
4.2. Phòng vệ chính đáng
Về trường hợp này, trước đây, BLHS năm 1985 sử dụng thuật ngữ “tương xứng”, còn nay được thay bằng “cần thiết”. Tuy nhiên, kể từ khi ban hành BLHS năm 1999 đến nay, cũng như khi đã áp dụng BLHS năm 2015, các nhà làm luật Việt Nam vẫn chưa có hướng dẫn chính thức về cụm từ “cần thiết”(hiện nay, mới giải thích về tình tiết giảm nhẹ TNHS “phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự) để bảo đảm áp dụng thống nhất trong thực tiễn, tránh lạm dụng quyền phòng vệ chính đáng khi thi hành công vụ, đồng thời, vẫn bảo đảm nhiệm vụ phòng và chống tội phạm, duy trì sự ổn định, trật tự xã hội.
Ngoài ra, để tăng cường sự chủ động phòng vệ của người phòng vệ, khuyến khích, động viên họ thực hiện hành vi có ích cho xã hội, nên quy định các trường hợp đương nhiên được coi là phòng vệ chính đáng (trước đây, Dự thảo Phần những quy định chung BLHS năm 2015 ngày 12/10/2014 đã từng quy định). Chúng tôi cho rằng, cần bổ sung các trường hợp đương nhiên được coi là phòng vệ chính đáng, để mỗi người phòng vệ không phải lo ngại, đắn đo trước sự phán xét của các cơ quan bảo vệ pháp luật khi thực hiện hành vi chủ động, có ích, có lợi cho xã hội, bởi lẽ: Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với quy định trong BLHS một số nước trên thế giới[11] và kinh nghiệm lập pháp mà nhiều nước đang tiến hành để phòng ngừa và chống người đột nhập vào chỗ ở của người khác thực hiện hành vi phạm tội. Cũng như kế thừa những điểm hợp lý trong lịch sử lập pháp trước đây, chẳng hạn, trong Quốc triều Hình luật (Hình luật triều Lê) năm 1428, các nhà lập pháp thời đó đã ghi nhận như sau: “Những kẻ ban đêm vô cớ vào nhà người ta, thì xử tội đồ; chủ nhân đánh chết ngay lúc ấy, thì không phải tội; nếu đã bắt được mà đánh chết, đánh bị thương, thì phải tội như tội đánh nhau chết, hay bị thương, mà giảm ba bậc. Kẻ lạ vào trong vườn người ta, thì cũng xử tội biếm; đàn bà thì được giảm một bậc”[12]. Đặc biệt, trước yêu cầu của thực tiễn - đó chính là để phòng ngừa, chống các tội phạm xâm phạm tự do, an ninh cá nhân của con người (công dân và người thi hành công vụ) như: tội giết người, tội cố ý gây thương tích, tội hiếp dâm, tội cướp tài sản, tội phạm về ma túy (thực tiễn một số vụ án ở Nghệ An, Bình Phước... là minh chứng rõ nét).
Do đó, Điều 22 BLHS năm 2015 nên sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 22. Phòng vệ chính đáng
1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
2. Đương nhiên được coi là phòng vệ chính đáng trong những trường hợp sau đây:
a) Chống trả lại người đang dùng vũ khí để chống lại việc bắt giữ hợp pháp hoặc để tiếp tục phạm tội;
b) Chống trả lại người đang thực hiện hành vi giết người, hiếp dâm, cướp tài sản, chống phá trại giam, các khu vực quan trọng về an ninh quốc gia, quốc phòng;
c) Chống trả lại người đang có hành vi dùng vũ khí tấn công tại chỗ ở của người khác vào ban đêm.
3. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại”.
4.3. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội
Đây là một trường hợp loại trừ TNHS mới được bổ sung trong BLHS năm 2015. Tuy nhiên, việc gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội ở đây không chỉ hàm chứa việc bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội, mà còn cả người đang trốn tránh sự truy nã của cơ quan có thẩm quyền. Điều đáng tiếc là, nội dung điều luật mới chỉ đề cập việc “bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội”, trong khi cần ngăn chặn cả việc người phạm tội đang trốn tránh truy nã. Hơn nữa, cần bổ sung thêm mục đích việc bắt giữ, là để “chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền nơi gần nhất” (đó là: Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân).
4.4. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ
Hiện nay, Cách mạng công nghiệp 4.0 là xu hướng kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể, vạn vật kết nối Internet (IoT) và các hệ thống kết nối Internet (IoS) trên phạm vi toàn cầu, ảnh hưởng đến tất cả quốc gia, trong đó có Việt Nam. Do đó, trước cuộc cách mạng này, cần xác định rõ ranh giới về trường hợp rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25 BLHS hiện hành). Bên cạnh đòi hỏi các nhà khoa học, nhà sản xuất có những phát kiến, cải tiến, ứng dụng để đưa vào thử nghiệm với mục đích có lợi cho cộng đồng, có ích cho xã hội, thì việc phòng ngừa rủi ro, nguy hiểm cho xã hội, cho con người cũng là điều cần thiết, nhưng đi kèm với các hoạt động đã nêu luôn chứa đựng những rủi ro, xác suất rủi ro gây thiệt hại cho xã hội. Ở đây, tác giả cho rằng, cần phân định rạch ròi các vấn đề như sau: Trước hết, Nhà nước và xã hội luôn ủng hộ, động viên, khuyến khích, khơi nguồn sáng tạo để các nhà khoa học, nhà sản xuất... có những phát kiến, cải tiến, ứng dụng để đưa vào thử nghiệm với mục đích có lợi cho xã hội, vì lợi ích của con người như nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, giảm bớt chi phí, thời gian, công sức, nâng cao sức khỏe, an toàn cho cộng đồng, phục vụ cho an ninh, quốc phòng, sản xuất, tiêu dùng, y học, bảo đảm phát triển bền vững. Ngoài ra, các hoạt động đó đều phải thực hiện theo quy định, quy trình, xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí cẩn thận và các biện pháp phòng ngừa rủi ro, biện pháp bảo đảm an toàn vì các nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới có một điều chắc chắn là đều chứa đựng rủi ro. Cuối cùng, bản thân các quy định, quy trình, tiêu chuẩn, tiêu chí và quy trình đăng ký đối với các phát minh, sáng chế cần nhanh chóng, rõ ràng, minh bạch và bảo vệ quyền lợi của các nhà khoa học đó. Trên cơ sở này, TNHS sẽ giải quyết ổn thỏa, công minh và đúng pháp luật (nếu có xảy ra thiệt hại cho xã hội). Còn về phương diện kỹ thuật lập pháp, để tránh lạm dụng, nội dung Điều 25 cần khẳng định rõ là, các hoạt động này phải hoàn toàn mới, đồng thời, cũng đã thực hiện theo đúng quy trình, tiêu chuẩn, yêu cầu về an toàn và áp dụng đúng các biện pháp phòng ngừa và thiệt hại xảy ra ngoài khả năng tiên liệu mới được loại trừ TNHS, còn nếu đã được ứng dụng thì cũng không được loại trừ. Mặc dù Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, đã quy định chi tiết về vấn đề đầu tư cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng do nguyên tắc về bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, các rủi ro pháp lý trong đó có cả TNHS của cá nhân, doanh nghiệp trong quản lý và điều hành quỹ vẫn tồn tại. Vì vậy, tên gọi của Điều luật này cần bảo đảm sự phù hợp bao quát các hoạt động thử nghiệm có kiểm soát, đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Do đó, Điều 25 BLHS hiện hành nên sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 25. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới hoặc thử nghiệm mô hình kinh doanh mới
Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới hoặc thử nghiệm mô hình kinh doanh mới trong phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, quy định, đề án, kế hoạch hoặc quy chế về thử nghiệm có kiểm soát đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm.
Người nào không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, quy định, đề án, kế hoạch hoặc quy chế về thử nghiệm có kiểm soát đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, hoặc không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”.
4.5. Nghiên cứu, bổ sung trường hợp sự kiện bất khả kháng
Sự cần thiết phải ghi nhận trường hợp này trong BLHS hiện hành, đồng thời, không buộc một người thực hiện hành vi trong trường hợp bất khả kháng phải chịu TNHS tương tự như trường hợp sự kiện bất ngờ, bởi vì, họ không còn khả năng xử sự nào khác, nên cũng xem họ không có lỗi. Đối với trường hợp sự kiện bất ngờ, thì khi gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội, người đó đã không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó. Đối với trường hợp sự kiện bất khả kháng, một người mặc dù có thể nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội (khác với sự kiện bất ngờ), song, do điều kiện khách quan, trình độ nhận thức, độ tuổi, các tình tiết cụ thể... mà bất kỳ ai vào trong điều kiện của họ đều không thể điều khiển hành vi của mình do hạn chế đặc biệt về tâm - sinh lý, do hoàn cảnh bức thiết, hay không còn biện pháp nào để ngăn chặn được hậu quả đó, có nghĩa không có lựa chọn nào khác mặc dù họ vẫn muốn thực hiện hành vi tích cực, có ích cho xã hội. Vì vậy, quy định bổ sung trường hợp sự kiện bất khả kháng còn góp phần giải quyết những tình huống cụ thể hay xảy ra trong lĩnh vực sử dụng máy móc, trang thiết bị, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông đường bộ, y tế... Hơn nữa, riêng trường hợp này, trong các văn bản luật chuyên ngành khác đã quy định (ví dụ: Bộ luật Dân sự; Luật Thương mại; Luật Xử lý vi phạm hành chính), cũng như BLHS các nước đều gộp chung vào trường hợp sự kiện bất ngờ (ví dụ: Điều 16 BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hay Điều 28 BLHS Liên bang Nga...). Do đó, nên bổ sung điều luật mới về trường hợp này như sau:
“Điều... Sự kiện bất khả kháng
Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do không có lỗi, có nghĩa là trong trường hợp mặc dù có thể thấy trước hậu quả của hành vi đó, nhưng do hạn chế đặc biệt về tâm, sinh lý hay hoàn cảnh bức thiết mà không điều khiển được hành vi của mình hoặc không còn biện pháp nào để ngăn chặn được hậu quả đó, thì được loại trừ trách nhiệm hình sự”.
4.6. Nghiên cứu bổ sung trường hợp người không có lỗi trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác gây thiệt hại cho xã hội
Trước đây, BLHS năm 1999 đã quy định: “Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự” (Điều 14). Như vậy, trước hết phải thừa nhận là “người trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác thường bị rối loạn tâm thần, khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi có thể bị hạn chế hoặc bị loại trừ”[13]. Tuy nhiên, trước khi say rượu hoặc dùng chất kích thích mạnh khác, người này là người bình thường, họ tự đặt mình vào trong tình trạng đó, nên họ phải chịu TNHS, vì họ vẫn là người có năng lực TNHS và có lỗi trước khi sử dụng rượu hay chất kích thích mạnh khác. Ngoài ra, nội dung của Điều 14 BLHS năm 1999 đã dùng là “người phạm tội...”. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, có những trường hợp, một người do bị người khác ép buộc[14], cưỡng bức dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác dẫn đến không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình nên đã có hành vi gây thiệt hại cho xã hội, thì rõ ràng, họ không có lỗi (trong việc sử dụng, trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác) - nên cần thiết phải loại trừ TNHS cho họ. Việc Điều 13 BLHS hiện hành lại sửa tên gọi thành “Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác” là chưa chính xác, dễ dẫn đến hiểu lầm, nên có thể tích hợp nội dung của BLHS năm 1999, đồng thời, ghép vào Điều 13. Do đó, nội dung sửa đổi trường hợp cũ và nội dung mới này như sau:
“Điều 13. Phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác (hoặc dùng đơn giản - Phạm tội trong tình trạng say hay tự say)
1. Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
2. Trường hợp một người gây thiệt hại cho xã hội trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc dùng chất kích thích mạnh khác nhưng do bị ép buộc, dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”.
5. Hoàn thiện hình phạt và hệ thống hình phạt
5.1. Mục đích của hình phạt
Hiện nay, những thách thức của toàn cầu hóa và bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra liên quan chặt chẽ, tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến quyền con người. Xu thế phát triển này khiến cho các quy định luật hình sự hiện đại đòi hỏi phải được xây dựng dựa trên định hướng tiếp cận quyền - lấy quyền con người làm tiêu chuẩn, căn cứ và mục đích lập pháp (hình sự). Hiện nay, các quy định của BLHS hiện hành đang thể hiện nỗ lực tối đa nhất trong việc trừng trị những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại quyền con người, đồng thời, hạn chế tối thiểu nhất việc làm tổn thương quyền con người trong khi tội phạm hóa và trừng phạt hành vi nguy hiểm cho xã hội, nếu có. Mặc dù vậy, nhận thức cần thiết về mục đích của hình phạt phải là để “phục hồi công lý”[15]; khôi phục tối đa có thể các quyền, giá trị đã bị tội phạm xâm hại; giáo dục, phòng ngừa nguy cơ tội phạm tiếp tục xảy ra vì có như vậy, mới bảo đảm “tính thực tiễn” của hình phạt[16].
Do đó, Điều 31 BLHS năm 2015 nên sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 31. Mục đích của hình phạt
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục, cải tạo họ, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời góp phần khôi phục công lý, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội”.
5.2. Các hình phạt đối với người phạm tội
5.2.1. Về bản chất pháp lý của hình phạt
Điều 32 BLHS năm 2015 quy định 07 hình phạt chính đối với người phạm tội và không có “án treo”, cũng như tại khoản 3 Điều này nêu: “Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung”. Tuy nhiên, bản chất pháp lý của án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện[17]. Nhưng sau đó, khoản 3 Điều 65 lại quy định: “Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng...”. Điều này tạo ra sự mâu thuẫn, vì nếu không phải là hình phạt chính, lôgic đương nhiên là Tòa án không được áp dụng hình phạt bổ sung[18]. Do vậy, nên bỏ khoản 3 Điều 65 Bộ luật này cho bảo đảm tính thống nhất, đúng với bản chất pháp lý của hình phạt chính.
5.2.2. Về hình phạt tiền
- Bản chất pháp lý của hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước (không còn chế tài pháp lý nào cao hơn), nên tên gọi cần được bổ sung để phân định giữa chế tài hình sự và chế tài hành chính, cần thêm từ “hình phạt” cho chính xác và tên gọi Điều 35 là “Hình phạt tiền” (và nhiều điều luật khác về hình phạt cũng phải bổ sung thêm cụm từ tương tự).
- Xét thứ tự từ nhẹ đến nặng của các loại hình phạt (chính) trong hệ thống hình phạt của BLHS hiện hành, thì hình phạt tiền chỉ nặng hơn hình phạt cảnh cáo, nhưng lại nhẹ hơn hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tù có thời hạn. Như vậy, hình phạt tiền là biện pháp giữ vai trò nối tiếp giữa hình phạt ít nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt với cải tạo không giam giữ là biện pháp xử lý nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn, tạo sự liên tục theo hướng tăng dần mức độ nghiêm khắc của các hình phạt, tạo sự chỉnh thể trong cấu trúc hệ thống hình phạt. Tuy nhiên, chúng tôi tán thành quan điểm của GS. TSKH. Lê Cảm - có một vấn đề là, đối với hai hình phạt (cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn) thì BLHS hiện hành có quy định: “việc trừ thời gian tạm giam vào thời gian chấp hành hai hình phạt này mặc dù chúng nặng hơn hình phạt tiền (đoạn 2 khoản 1 Điều 36 và đoạn 3 khoản 1 Điều 38), nhưng đối với hình phạt tiền thì các nhà làm luật nước ta lại không quy định việc trừ thời gian như vậy, nhất là trong thực tiễn xét xử còn cho thấy: có người phạm tội đã bị tạm giam và rồi cuối cùng hình phạt chính duy nhất được áp dụng đối với họ chỉ là hình phạt tiền thì sao?”[19]. Do đó, “trong BLHS hiện hành các nhà làm luật nước ta cần phải quy định việc khấu trừ thời gian tạm giam (theo tỷ lệ bao nhiêu % là hợp lý tùy các nhà làm luật quyết định đối với cả hình phạt tiền nữa (nhất là khi nó được áp dụng là hình phạt chính)”[20], vì như vậy mới bảo đảm nguyên tắc công bằng trong luật hình sự nước ta và “tính thực tiễn” của hình phạt phải phù hợp với mục đích áp dụng.
- Khoản 3 Điều 35 BLHS năm 2015 quy định mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, mức khởi điểm này đối với hình phạt tiền còn nhẹ và hiện nay, mức khởi điểm của các tội phạm có hình phạt tiền cơ bản đều từ 5.000.000 đồng, do đó, đề nghị phải nâng lên bảo đảm tính khả thi và “tính thực tiễn” của hình phạt này.
- Ngoài ra, các nhà làm luật nước ta chưa quy định hình thức xử lý đối với trường hợp người bị kết án cố tình chây ỳ, dây dưa không chịu nộp phạt hoặc không có khả năng nộp tiền phạt, nên quy định này không có tính khả thi và khả năng thực hiện. Vì vậy, để khắc phục hạn chế trên, có thể tham khảo luật hình sự một số nước trên thế giới (ví dụ: Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Vương quốc Anh...[21]) đã áp dụng bằng hai cách thức để nâng cao hiệu quả, đồng thời buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt một cách nghiêm chỉnh bao gồm:
+ Chuyển sang thành lao động công ích để quy đổi trừ tiền dần hoặc;
+ Thay thế hình phạt tiền bằng các hình phạt khác nghiêm khắc hơn nếu người bị kết án không trả được tiền phạt hoặc cố tình dây dưa, kéo dài không nộp phạt (ví dụ phạt tù giam). Tuy nhiên, cách thay thế theo phương án thứ hai này có lẽ chưa phù hợp với nước ta. Vì vậy, có thể sửa đổi, bổ sung về hình phạt tiền trong BLHS năm 2015 theo phương án thứ nhất, có nghĩa là chuyển sang thành lao động công ích để quy đổi trừ tiền dần trên cơ sở ngày công lao động và việc làm của người bị kết án để giải quyết tồn tại trước mắt trong thực tiễn (tương tự như khoản 4 Điều 36 BLHS năm 2015 về hình phạt cải tạo không giam giữ đã quy định bổ sung: “Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ”).
Do đó, Điều 35 BLHS năm 2015 nên sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 35. Hình phạt tiền
1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau đây:
…
3. Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 5.000.000 đồng.
4. Trường hợp người phạm tội có trách nhiệm bồi thường dân sự, đồng thời bị xử phạt tiền, nếu toàn bộ tài sản của họ không đủ để trả hoặc bị áp dụng biện pháp tư pháp tịch thu tài sản theo quy định tại Điều 45 Bộ luật này, thì Tòa án cân nhắc ưu tiên buộc bồi thường dân sự cho người bị hại trước.
5. Trường hợp người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam, sau đó Tòa án tuyên hình phạt chính là phạt tiền, thì thời gian tạm giữ, tạm giam của người đó được trừ vào tổng số mức tiền bị phạt theo tỷ lệ cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày thu nhập thực tế để trừ dần vào tổng số mức tiền bị phạt[22].
6. Hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tại Điều 77 của Bộ luật này”(bỏ khoản này)[23].
5.2.3. Về hình phạt trục xuất
- Hình phạt trục xuất được quy định trong luật hình sự vừa phải bảo đảm tính linh hoạt, mềm dẻo, nhưng cũng phải bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật đối với người nước ngoài nếu họ xâm phạm đến lợi ích, chủ quyền quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, Điều 37 BLHS năm 2015 không quy định điều kiện áp dụng, đồng thời cũng không quy định hình phạt này trong khung hình phạt tại bất kỳ các điều luật của Phần các tội phạm BLHS. Điều đó có nghĩa, khi người nước ngoài phạm bất cứ một tội danh nào được quy định trong BLHS, đều có thể bị áp dụng loại hình phạt này (người phạm tội ở đây là người nước ngoài) nhưng như thế là chưa phù hợp, vì để bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong luật hình sự Việt Nam, thì người phạm tội không phải chịu một hình phạt nào ngoài các hình phạt đã được quy định trong BLHS, đồng thời, Tòa án cũng không được tuyên bất kỳ một hình phạt nào không có trong BLHS (nhất là hình phạt đó chưa được quy định trong điều luật tương ứng) nên cần sửa đổi cho phù hợp hơn.
- Thực tiễn đặt ra đối với trường hợp, Tòa án áp dụng một hình phạt chính nào đó và trục xuất được áp dụng là hình phạt bổ sung:
+ Nếu áp dụng hình phạt chính đối với người phạm tội là cảnh cáo, thì việc áp dụng hình phạt bổ sung là trục xuất không có vấn đề gì;
+ Nếu áp dụng hình phạt chính đối với người phạm tội là cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân, thì việc áp dụng hình phạt bổ sung là trục xuất sẽ không có ý nghĩa nữa, bởi vì, các hình phạt chính nêu trên đã nhằm giáo dục, cải tạo người bị kết án trở thành người có ích cho xã hội, nếu trục xuất họ ra khỏi Việt Nam thì mục đích của hình phạt chính có lẽ sẽ không đạt được nữa;
+ Nếu áp dụng hình phạt chính đối với người phạm tội là phạt tiền thì việc áp dụng hình phạt bổ sung là trục xuất chỉ có thể được thực hiện khi người bị kết án nộp đủ số tiền phạt. “Việc buộc người bị kết án nộp đủ tiền phạt sau đó mới trục xuất, trong nhiều trường hợp sẽ ảnh hưởng, vì khi Tòa án xét thấy cần áp dụng hình phạt trục xuất là phải tính đến khả năng không thể để người bị kết án ở lại Việt Nam lâu hơn nữa”[24].
- Việc người bị áp dụng hình phạt trục xuất có bị mang án tích hay không, là vấn đề chưa rõ. Bởi lẽ, một đặc trưng quan trọng để phân biệt hình phạt và các dạng trách nhiệm pháp lý khác, đó là, hình phạt để lại án tích. Tuy nhiên, xem xét trục xuất là hình phạt không để lại án tích cho người bị áp dụng. Tại các điều 70, 71, 72 BLHS hiện hành quy định về xóa án tích đều không có bất cứ một trường hợp nào người chấp hành hình phạt trục xuất được xóa án tích. Mặt khác, đối tượng bị áp dụng ở đây là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, khi họ bị áp dụng hình phạt này về nước, thì vấn đề án tích có lẽ không đặt ra, nó mang tính chất một hình phạt chính không mang án tích.
- Sau khi trục xuất người phạm tội về nước, liệu họ có được quay trở lại Việt Nam không? Do đó, để bảo đảm quan hệ ngoại giao và sự mềm dẻo trong chính sách hình sự, chúng ta có thể quy định cho phép quay lại nhưng trong thời gian ít nhất là 05 năm sau. Ngoài ra, nghiên cứu để quy định áp dụng hình phạt trục xuất về nước mà họ là công dân mang quốc tịch hoặc là công dân của nước đầu tiên nhập quốc tịch cho họ.
Do đó, Điều 37 BLHS năm 2015 nên sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 37. Hình phạt trục xuất
1. Trục xuất là biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Trục xuất được Tòa án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể.
3. Trục xuất là một hình phạt không để lại án tích cho người nước ngoài bị kết án. Khi Tòa án áp dụng là hình phạt chính thì người nước ngoài chỉ được quay trở lại Việt Nam ít nhất sau 05 năm kể từ khi trục xuất về nước mà họ là công dân mang quốc tịch hoặc là công dân của nước đầu tiên nhập quốc tịch cho họ”.
5.2.4. Về hình phạt tù có thời hạn
Hiện nay, cách nêu nội dung các hình phạt không thống nhất và riêng về hình phạt này trong BLHS năm 2015 lại hướng nhầm sang đặc điểm của chấp hành hình phạt tù có thời hạn[25], chứ không phải phản ánh nội hàm khái niệm của hình phạt này khi nêu: “Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định”. Nếu cần định nghĩa, cần nêu rõ hình phạt tù có thời hạn là hình phạt chính do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội, theo đó, người bị kết án bị tước bỏ quyền tự do thân thể, đi lại và cư trú trong một khoảng thời gian nhất định và phải chấp hành chế độ giam giữ theo quy định của pháp luật nhằm trừng trị, giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm. Ngoài ra, khoản 2 quy định “Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng” là một quy định mang tính hướng thiện, nhưng mang nặng tính mệnh lệnh và việc áp dụng hình phạt phải do Tòa án quyết định, căn cứ vào nhiều yếu tố, cũng như nên mở rộng không chỉ tội phạm ít nghiêm trọng do vô ý, mà nên là tội phạm ít nghiêm trọng và có nơi cư trú rõ ràng, để tăng tính thực tiễn của việc áp dụng các hình phạt không tước tự do.
Do đó, Điều 38 BLHS hiện hành nên sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 38. Hình phạt tù có thời hạn
1. Tù có thời hạn là hình phạt do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án nhằm tước bỏ quyền tự do thân thể trong một khoảng thời gian nhất định và buộc họ phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ.
Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là 03 tháng và mức tối đa là 20 năm.
Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù.
2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án ưu tiên áp dụng các hình phạt không tước tự do đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng và không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội”.
5.3. Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội
5.3.1. Về hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn
Khoản 1 Điều 78 BLHS năm 2015 về hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn quy định: “Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế”, nếu xem xét thì chưa phù hợp với thực tế, vì đã gây thiệt hại đến tính mạng con người, thì chắc chắn không bao giờ có khả năng khắc phục được, do đó, nên sửa lại theo hướng, chỉ có các hậu quả gây thiệt hại (trừ gây thiệt hại về tính mạng) mới có khả năng khắc phục trên thực tế...[26].
Do đó, Điều 78 BLHS năm 2015 nên sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 78. Hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn
1. Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực, ngành, nghề mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế.
2. Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm”.
5.3.2. Về hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn
Tương tự, BLHS năm 2015 vẫn tồn tại một điểm chưa hợp lý về mặt kỹ thuật lập pháp ở chỗ, tên gọi hình phạt là “đình chỉ hoạt động vĩnh viễn”, nhưng khoản 2 lại nêu “Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động”. Quy định tại khoản 2 chỉ nhằm làm rõ trường hợp PNTM được thành lập chỉ nhằm mục đích thực hiện tội phạm, thì phải bị áp dụng hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn đối với toàn bộ lĩnh vực hoạt động của pháp nhân đó. Do vậy, sửa cho thống nhất giữa tên gọi và khoản 2 Điều 79 Bộ luật này.
Điều 79 BLHS năm 2015 nên sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 79. Hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn
1...Giữ nguyên...
2. Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn đối với toàn bộ hoạt động của pháp nhân đó”.
6. Hoàn thiện cấu trúc, nguyên tắc, tính thống nhất và kỹ thuật lập pháp tổng thể
6.1. Cấu trúc của Bộ luật Hình sự hiện hành
Cấu trúc của BLHS thường bao gồm hai phần: (1) Phần những quy định chung quy định các vấn đề chung nhất về tội phạm, TNHS và hình phạt, nhiệm vụ và nguyên tắc xử lý về hình sự; và (2) Phần các tội phạm quy định những dấu hiệu pháp lý định tội, dấu hiệu định khung, quy định mức và loại hình phạt của từng loại tội phạm cụ thể. Hai phần này có mối quan hệ hữu cơ, chặt chẽ và mật thiết với nhau. Ngoài ra, hai phần này còn có mối liên hệ chặt chẽ với các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự. Trong khi đó, hiện nay, chưa được hệ thống hóa trong BLHS, nhưng các nguyên tắc cơ bản lại thể hiện những tư tưởng chỉ đạo cho toàn bộ quá trình xây dựng, áp dụng và giải thích pháp luật hình sự, truyền tải tư tưởng của chính sách hình sự đúng đắn vào trong BLHS và trong luật hình thức đã quy định tại BLTTHS. Ngoài ra, riêng nhiệm vụ của PLHS (được quy định rõ tại Điều 1 BLHS năm 2015, qua đó, phản ánh được các chức năng của ngành luật hình sự[27]). Đối chiếu với sự thể hiện trong BLHS hiện hành cho thấy:
- Phần thứ nhất - Những quy định chung[28] nên sửa thành Phần chung như cách gọi của BLHS năm 1985, BLHS năm 1999; hoặc nếu dùng tương ứng “Những quy định chung” thì Phần các tội phạm cũng là Phần thứ hai - “Những quy định về các tội phạm”;
- Phần thứ hai - Phần các tội phạm;
- Nhiệm vụ của BLHS, đã được đề cập tại Điều 1 BLHS hiện hành;
- Các nguyên tắc cơ bản chưa hệ thống hóa và ghi nhận rõ, chỉ có nguyên tắc xử lý (trong khi khoa học luật hình sự lại được nghiên cứu nhiều về các nguyên tắc cơ bản)[29]. Do vậy, nên quy định thành một Chương riêng cùng với nhiệm vụ của BLHS (ví dụ: BLHS Liên bang Nga quy định rõ tại Chương 1[30]), qua đó, thể hiện chính sách hình sự, nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh tính nhân đạo, hướng thiện, công bằng, trách nhiệm cá nhân và pháp nhân... (hoặc như BLTTHS hiện hành đã quy định tại Chương II[31]).
- Phần Điều khoản thi hành trong BLHS hiện hành có 01 điều (Điều 426). Tuy nhiên, điều khoản thi hành (thường là quy định về hiệu lực thi hành, điều khoản chuyển tiếp, bãi bỏ văn bản cũ) mang tính kỹ thuật lập pháp, không phải là quy phạm điều chỉnh hành vi, không đặt ra tội phạm mới, hay quy định hình phạt mới, nên không thuộc phạm vi nội dung cấu trúc của BLHS. Nếu ở tầm Bộ luật rất quan trọng, việc thi hành thường có Nghị quyết của Quốc hội ban hành riêng hoặc không cần tách riêng thành một phần vì không bảo đảm sự cân đối. Tương tự, BLHS nhiều quốc gia trên thế giới như Trung Quốc, Liên bang Nga, Vương quốc Thụy Điển... đều không quy định (tách riêng) về phần này.
- Dự thảo BLHS trước đó (tháng 4 và tháng 6, tháng 7) đã bổ sung thêm Điều 4a. Giải thích thuật ngữ là hoàn toàn hợp lý, khoa học nhưng Dự thảo ngày 09/10/2026 lại bỏ. Chúng tôi cho rằng, vẫn cần thiết đưa vào những thuật ngữ chung nhất, cần thiết nhất và trong thực tiễn áp dụng hay gặp nhiều vướng mắc hoặc cần thiết phục vụ cho thủ tục, trình tự áp dụng của luật hình thức (BLTTHS), ví dụ: Nhóm tổ chức tội phạm; phạm tội 02 lần trở lên; phạm nhiều tội; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; tái phạm; tái phạm nguy hiểm; tội danh nặng hơn; tội danh nhẹ hơn; tội danh bằng nhau...
6.2. Tên chương các tội phạm, tên tội danh vẫn chưa tuân thủ nguyên tắc chung và kỹ thuật lập pháp chưa bảo đảm
6.2.1. Tên chương các tội phạm chưa tuân thủ nguyên tắc - theo khách thể loại hay đối tượng tác động hoặc lại theo chủ thể của tội phạm
Phần thứ hai - Phần các tội phạm, BLHS hiện hành quy định theo khách thể chung (hoặc đối tượng tác động) bị tội phạm xâm phạm đến (tương ứng là các chế định): Chương XIII - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; Chương XIV - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; Chương XV - Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; Chương XVI - Các tội xâm phạm sở hữu... Tuy nhiên, vẫn còn một số tên gọi của các chương chưa tuân thủ cách tiếp cận này, ví dụ: Chương XIX - Các tội phạm về môi trường; Chương XX - Các tội phạm về ma túy; Chương XXIII - Các tội phạm về chức vụ... Do đó, cần sửa đổi nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, ví dụ sửa thành Chương XIX - “Các tội xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước về môi trường”; Chương XX - “Các tội xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước về chất ma túy”; Chương XXIII - “Các tội xâm phạm chức trách, quyền hạn của người có chức vụ, quyền hạn”...
6.2.2. Tên tội danh vẫn chưa chính xác
- Điều 316 BLHS hiện hành quy định về tội phá thai trái phép, nhưng nội dung xử lý người có hành vi thực hiện việc phá thai cho người khác không được cơ quan có thẩm quyền cho phép, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe của người đi phá thai nên sửa thành tội phá thai trái phép cho người khác. Hoặc Điều 374 quy định về tội bức cung, quy định người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật, ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc... Tuy nhiên, tội bức cung ám chỉ việc bức cung đối với bị can (nếu bị bức cung - hỏi cung bị can, Điều 183 BLTTHS năm 2015), trong khi nội dung điều luật còn quy định cả việc ép buộc người bị lấy lời khai qua thủ đoạn trái pháp luật (người bị lấy lời khai - nếu bị bức lời khai bao gồm bị hại, người làm chứng, đương sự...), nên để bao quát sửa thành tội bức cung, bức lời khai.
- Điều 326 BLHS năm 2015 về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, nên sửa thành tội truyền bá sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có nội dung đồi trụy (hoặc gọn hơn tội truyền bá nội dung đồi trụy) mới chính xác, vì “văn hóa phẩm” thường dễ nói cái tốt đẹp, không thể ghép với cái xấu “đồi trụy”...
6.3. Tính thống nhất, đồng bộ trong nội tại Bộ luật Hình sự
Về nguyên tắc, chất lượng của Bộ luật chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nội dung được kỹ thuật lập pháp về hình thức hay còn được gọi là kỹ thuật văn bản truyền tải, thể hiện chính xác, rõ ràng và dễ hiểu, để bảo đảm được nhận thức đúng và thống nhất, từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng Bộ luật (Hình sự)[32]. Bên cạnh kỹ thuật nội dung, hệ thống PLHS cần bảo đảm tính dự báo và kỹ thuật lập pháp, tính thống nhất trên các bình diện (thống nhất trong nội tại BLHS - Phần chung và Phần các tội phạm; thống nhất cấp độ giữa BLHS với Hiến pháp; thống nhất luật nội dung và luật hình thức - giữa BLHS và BLTTHS; thống nhất giữa BLHS với các luật chuyên ngành hay giữa BLHS và văn bản hướng dẫn thi hành áp dụng) và được thể hiện như:
Thứ nhất, Điều 1 BLHS năm 2015 về các nhiệm vụ của BLHS đã được thể hiện rõ với nhữngquan hệ xã hội được BLHS xác lập, bảo vệ được nêu, nhưng cần bảo đảm tính thống nhất với các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại hoặc đe dọa xâm hại nêu tại Điều 8. Điều 1 nêu: “...chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật...”,nhưng Điều 8 BLHS năm 2015 lại nêu: “...độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa...”. Ngoài ra, chưa bao quát các chương tội phạm, nêu thiếu khách thể “hòa bình và an ninh của nhân loại”[33] quy định tại Chương XXVI BLHS năm 2015; hoặc “an ninh mạng”.
Thứ hai, đoạn 2 Điều 1 BLHS năm 1999 quy định “Để thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ luật quy định tội phạm và hình phạt” mới đúng, nhưng BLHS năm 2015 lại bỏ đi cụm từ “để thực hiện nhiệm vụ đó”, có bổ sung thêm “trách nhiệm hình sự” nhưng làm cho cụt nội dung và không gắn tới tên gọi điều luật là “Nhiệm vụ của BLHS”. Do đó, cần sửa đoạn này thành: “Để thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ luật này quy định về tội phạm, trách nhiệm hình sự và hình phạt, cũng như việc xác định tội phạm và trách nhiệm hình sự” cho đầy đủ, toàn diện.
Thứ ba, Điều 3 BLHS năm 2015 về nguyên tắc xử lý đi từ nghiêm trị đến khoan hồng đối với cả hai đối tượng là cá nhân và PNTM phạm tội (Dự thảo BLHS (sửa đổi) là PNTM phải chịu TNHS), nhưng khi đề cập các phần sau, lại đi từ tình tiết giảm nhẹ TNHS (Điều 54) đến tăng nặng TNHS (Điều 55) và đối với PNTM (Điều 86 và Điều 87).
Thứ tư, Điều 13 BLHS năm 2015 sửa tên gọi thành “Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác” so với BLHS năm 1999 dễ hiểu lầm (phạm tội đó cho là do rượu, bia... - nguyên nhân) và đã kiến nghị ở trên.
Thứ năm, Điều 15 BLHS năm 2015 chưa nêu phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành, phân biệt với phạm tội chưa đạt đã hoàn thành.
Thứ sáu, Điều 16 BLHS năm 2015 nêu thiếu trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội với các loại người đồng phạm khác (ngoài người thực hành).
Thứ bảy, trong cấu thành của nhiều tội danh trong Chương XXI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng và trật tự công cộng đang gặp phải vướng mắc, khi các nhà làm luật chưa kết hợp trường hợp đồng thời gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản và “vênh” mức độ gây thiệt hại thì xử lý thế nào[34]. Chẳng hạn, Điều 260 - tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây...: a) Làm chết người; b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng...” (Dự thảo đã tăng lên mức 200.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng, nhưng chưa khắc phục được vấn đề này). [Le Tuan7] Do đó, ví dụ một người lái xe ô tô vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng, bị xử lý hình sự về tội danh này (điểm d khoản 1), nhưng trường hợp tương tự, một người khác lái xe ô tô vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại về tài sản là 99.000.000 đồng, đồng thời, chủ thể còn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể là 60% - lại không cấu thành tội phạm, trong khi trường hợp sau gây ra thiệt hại nặng hơn (tài sản và thể chất) trường hợp trước (chỉ tài sản). Luật hình sự đã quy định, hậu quả thể hiện dưới các dạng thiệt hại về thể chất, tinh thần, vật chất và các biến đổi khác. Vì vậy, cần bổ sung thêm điểm d khoản 1: “Gây thiệt hại về tài sản dưới 100.000.000 đồng và gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 30% đến 60%” để bảo đảm công bằng trong xử lý tội phạm, người phạm tội và phù hợp thực tiễn, có trường hợp vừa gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe và tài sản...[35].
6.4. Tính thống nhất giữa luật nội dung và luật hình thức
Thứ nhất, tên gọi “pháp nhân”, “pháp nhân thương mại” và các nội dung liên quan giữa hai quy định BLHS và BLTHS. Như đã đề cập, BLHS năm 2015 quy định chủ thể của tội phạm ngoài cá nhân còn có PNTM và ghi rõ trong khái niệm về tội phạm (Điều 8) và hiện nay, Dự thảo đã sửa thành “pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự”, điều này có nghĩa, đã có sự thay đổi quan trọng từ “chủ thể của tội phạm” sang thành “chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự/hay liên đới chịu trách nhiệm hình sự”, do đó, toàn bộ nội dung trong BLHS phải thể hiện rõ điều này, cũng như BLTTHS sửa đổi cũng phải có những sửa đổi theo cho đồng bộ, thống nhất.
Thứ hai, lỗi và vấn đề chứng minh hình thức lỗi.
Điều 85 BLTTHS năm 2015 về “Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự” quy định:
“Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh:
1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
2. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội...”.
Tuy nhiên, trong BLHS năm 2015 còn một số tội danh “không thể hiện rõ tính chất của loại tội được phản ánh là tội cố ý hay tội vô ý”[36], gây khó khăn cho thực tiễn định tội danh, quyết định hình phạt, hay vấn đề chứng minh trong vụ án hình sự. Chúng tôi xin nêu các trường hợp khó khăn xác định “lỗi” cần hoàn thiện, để bảo đảm cho thực tiễn tố tụng giải quyết vụ án hình sự được chính xác, có căn cứ và đúng pháp luật:
| LIÊN QUAN ĐẾN LỖI | CÁC TỘI PHẠM MINH HỌA |
| Lỗi cố ý | Tội giết người (Điều 123); tội hiếp dâm (Điều 141); tội cướp tài sản (Điều 168)... |
| Lỗi vô ý | Tội vô ý làm chết người (Điều 128); tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138); tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179)... |
| Có thể thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, | Tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 284); tội vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 345)... |
| Hỗn hợp lỗi | Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác - trường hợp dẫn đến chết người (điểm a khoản 4 Điều 134). |
| Lỗi trong cấu thành | Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a; b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời (ở đây chưa ở mức độ là lỗi hình sự - khoản 4 Điều 260)... |
| Không xác định rõ | Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127); tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137); tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều 240)... |
| Tên tội và nội dung trong cấu thành tội phạm tồn tại hai cấu thành tội phạm | Tội đua xe trái phép (Điều 266). |
| Căn cứ vào độ tuổi | Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145); tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329)... |
Do đó, điều này đòi hỏi các nhà làm luật cần rà soát toàn bộ các tội danh để bảo đảm tên tội danh, hình thức lỗi rõ ràng (cố ý là cố ý, vô ý là vô ý) trong BLHS năm 2015. Bởi lẽ, “lỗi cho phép người ta hiểu rằng, tội phạm không chỉ là kết quả của một việc làm sai trái, mà còn là hệ quả của một thái độ, một sự nhận thức”[37].
7. Ứng phó kịp thời với những thách thức mới và vấn đề toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế
7.1. Ứng phó kịp thời trước các hành vi nguy hiểm cho xã hội mới, có tính chất phi truyền thống và quá trình toàn cầu hóa
Thứ nhất, hệ thống quy phạm pháp luật trong nội tại của BLHS năm 2015 phải bảo đảm tính dự báo, ứng phó kịp thời với các hiện tượng, hành vi nguy hiểm cho xã hội mới, có tính chất phi truyền thống, dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0[38] và quá trình toàn cầu hóa như: tội phạm AI[39], thực hiện tội phạm trên “không gian mạng”[40], cũng như “mũi nhọn” của các quốc gia xử lý tội phạm phi truyền thống (khủng bố, rửa tiền, tội phạm về môi trường...)[41], đến vấn đề mới như “thị trường tội phạm”[42] được phát triển từ “phạm tội có tổ chức”, “tổ chức tội phạm”[43]..., nhất là trong việc sửa đổi “Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm” (theo Quyết định số 623/QĐ-TTg ngày 14/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016-2025 và định hướng đến năm 2030, sửa đổi năm 2021) và sửa đổi BLHS hiện hành thích ứng với bối cảnh toàn cầu hóa, bổ sung vấn đề phòng, chống “thị trường tội phạm” trong Chiến lược này.
Thứ hai, toàn bộ các quy phạm pháp luật của BLHS, đặc biệt là Phần các tội phạm, nhất là đối với tội phạm có tính phi truyền thống (hành vi nguy hiểm cho xã hội có phương thức mang tính xuyên quốc gia, sử dụng tiến bộ của khoa học - công nghệ), vẫn thiếu vắng nhiều “tính công nghệ” hay “sử dụng AI để phạm tội”[44], trong khi hiện nay đã có Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025...
Thứ ba, vấn đề ảnh hưởng của luật quốc tế đến luật hình sự ngày càng rõ nét, khi tính quốc tế của tội phạm ngày càng hiện hữu, đòi hỏi có sự hợp tác quốc tế để đấu tranh, phòng ngừa và chống tội phạm quốc tế, từ đó, đặt ra các đòi hỏi trên các bình diện về vấn đề nội luật hóa các công ước và điều ước quốc tế (mà BLHS năm 2015 chúng ta đã từng làm)... Ví dụ: BLHS năm 2015 chưa quy định khách thể cần bảo vệ là “an ninh mạng”[45], trong khi cơ sở thực hiện điều này là hàng loạt các văn bản của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và bộ, ngành[46], mặc dù mục 2 Chương XX Dự thảo đã đổi tên là “Các tội phạm xâm phạm an ninh mạng”.
7.2 Hiệu lực, thẩm quyền tài phán quốc gia của luật hình sự hay nguyên tắc áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế
Thứ nhất, hiện nay, BLHS hiện hành chưa nêu hành vi “được coi là thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” bao gồm các trường hợp nào, làm cơ sở pháp lý trong xử lý tội phạm và chủ thể phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam[47].
Thứ hai, cùng với đó, BLHS năm 2015 đã bổ sung đoạn 2 khoản 1 Điều 5 (hiệu lực đối với hành vi xảy ra trên lãnh thổ): “Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam” nhưng chưa đề cập một số trường hợp xảy ra, như trường hợp có đồng phạm, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt... để giải quyết bài toán hành vi phạm tội gây hậu quả cho xã hội ở một hoặc nhiều nơi khác, nhưng những hoạt động đã nêu lại không xử lý được khi bị phát hiện vì xảy ra ở nơi khác... nhưng về nguyên tắc, vẫn phải hiểu là thuộc hành vi phạm tội và đây là hành vi “phái sinh”. Tuy nhiên, về mặt lập pháp vẫn cần ghi nhận chính thức. BLHS nhiều nước trên thế giới (Cộng hòa Liên bang Đức, Phần Lan...) đã quy định rõ ràng vấn đề này và coi các trường hợp trên đều là nơi thực hiện tội phạm. Hoặc trong quan niệm truyền thống, nơi thực hiện, nơi xảy ra hậu quả của tội phạm, phải là một địa điểm cụ thể nào đó, nhưng ở tội phạm phi truyền thống, có thể diễn ra ở một “không gian mạng”[48]. Vì vậy, nên nghiên cứu để điều chỉnh vấn đề này trong BLHS hiện hành, để xử lý kịp thời các tội phạm sử dụng công nghệ cao[49] như sau:
“Điều 5. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1. Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hành vi được coi là thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam[50]:
a) Hành vi phạm tội đã bắt đầu và kết thúc trên lãnh thổ Việt Nam;
b) Hành vi phạm tội đã bắt đầu ở nước khác nhưng kết thúc trên lãnh thổ Việt Nam;
c) Hành vi phạm tội đã bắt đầu ở lãnh thổ Việt Nam nhưng kết thúc ở nước ngoài;
d) Hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm xảy ra toàn bộ hoặc một phần trên lãnh thổ Việt Nam;
đ) Trường hợp đồng phạm có ít nhất một người đồng phạm được thực hiện toàn bộ hoặc một phần trên lãnh thổ Việt Nam;
e) Trường hợp hành vi chuẩn bị phạm tội được thực hiện toàn bộ hoặc một phần trên lãnh thổ Việt Nam, nếu thuộc trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội theo quy định của Bộ luật này; trong trường hợp phạm tội chưa đạt, hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm tuy chưa xảy ra nhưng theo ý định của người phạm tội sẽ xảy ra toàn bộ hoặc một phần trên lãnh thổ Việt Nam”.
Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, cũng như đối với hành vi chuẩn bị phạm tội thuộc trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội chưa đạt và hành vi của người đồng phạm.
“2. Hành vi phạm tội được thực hiện trên không gian mạng được coi là thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Toàn bộ hoặc một phần hành vi phạm tội được thực hiện ở lãnh thổ Việt Nam;
b) Hệ thống thông tin bị tác động trực tiếp được đặt ở lãnh thổ Việt Nam hoặc dữ liệu bị tác động trực tiếp được lưu trữ, xử lý ở lãnh thổ Việt Nam;
c) Hậu quả trực tiếp của tội phạm xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam.
...Giữ nguyên…
.”.
7.3. Bảo đảm nguyên tắc “không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm”
Hiện nay, Điều 6 BLHS năm 2015 quy định vấn đề “Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[51], đồng thời, nêu rõ BLHS Việt Nam có thể được áp dụng đối với hành vi phạm tội thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam, chưa thể hiện rõ nội dung trường hợp hành vi phạm tội đó đã bị xét xử, bị kết án ở nước ngoài, điều này chưa thống nhất với quy định của Hiến pháp năm 2013 “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” (khoản 3 Điều 31) và “điều đó dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho người bị kết án, làm cho họ có thể bị kết án và phải chịu hình phạt hai lần vì một tội phạm, tạo ra tình trạng không công bằng giữa những người thực hiện hành vi phạm tội ở trong nước và ở nước ngoài”[52]. Do đó, Điều 6 BLHS hiện hành nên bổ sung trường hợp nếu hành vi phạm tội được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và người phạm tội đã bị xét xử, bị kết án ở Tòa án nước ngoài thì sẽ không bị xét xử và bị kết án lần thứ hai ở Tòa án Việt Nam về cùng hành vi phạm tội đó. Vì có như vậy, mới bảo đảm tính thống nhất của BLHS với Hiến pháp và thực thi nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong Hiến pháp năm 2013[53]và Điều 6 BLHS năm 2015 nên sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 6. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1. Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này.
Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.
Trường hợp hành vi phạm tội được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và người phạm tội đã bị xét xử, bị kết án và có bản án có hiệu lực ở Tòa án nước ngoài thì sẽ không bị xét xử và bị kết án lần thứ hai ở Tòa án Việt Nam về cùng hành vi phạm tội đó.
...”.
8. Một số vấn đề khác kiến nghị đối với Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
8.1. Dự thảo bổ sung thêm Điều 31 quy định về tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự
Các quy định mới đã thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm trong tình hình mới. Tuy nhiên, “tạm hoãn truy cứu TNHS” chưa thực sự bảo đảm tính chính xác về kỹ thuật lập pháp, bởi đây là một quá trình gồm nhiều giai đoạn tố tụng và liên quan đến các chủ thể khác nhau. Nếu nhằm thiết lập một cơ chế xử lý chuyển hướng, cho phép người phạm tội thực hiện các nghĩa vụ khắc phục hậu quả trong một thời hạn nhất định trước khi quyết định truy tố, nên sử dụng thuật ngữ “hoãn truy tố có điều kiện” và thuộc địa hạt của luật tố tụng hình sự, vì thực tế, nội dung này chưa làm “mất đi” tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, hủy bỏ TNHS.... Trường hợp nếu cần thiết, bảo đảm tính đồng bộ, có thể ghi nhận hậu quả pháp lý nội dung của cơ chế này, như là căn cứ - điều kiện miễn TNHS sau khi đã khắc phục hậu quả, hoặc không tính thời gian tạm hoãn vào thời hiệu truy cứu TNHS, vì cơ chế “tạm hoãn truy cứu TNHS” gắn với việc khởi động, tạm dừng, tiếp tục hoặc chấm dứt hoạt động tố tụng.
8.2. Dự thảo bổ sung thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Phạm tội nhằm chống chính quyền nhân dân” tại điểm d khoản 1 Điều 55
Việc bổ sung cần cân nhắc kỹ, vì “nhằm chống chính quyền nhân dân” hiện đã là dấu hiệu về mục đích của nhiều tội thuộc Chương XIII BLHS năm 2015 - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Ngoài ra, khoản 2 Điều này quy định tình tiết đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được tiếp tục coi là tình tiết tăng nặng. Vì vậy, vấn đề quan trọng là, tình tiết mới sẽ áp dụng cho những trường hợp nào, mà mục đích này chưa được phản ánh trong dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt. Do đó, các nhà làm luật cần chỉ rõ khoảng trống cần bổ sung, đồng thời, làm rõ ranh giới giữa áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS chung với chuyển sang tội danh tương ứng thuộc Chương XIII (Các tội xâm phạm an ninh quốc gia), tránh đánh giá hai lần cùng một mục đích phạm tội. Ngoài ra, có thể có phương án khác quy định trực tiếp vào tình tiết tăng nặng định khung của riêng tội khủng bố, sau khi đã nhập hai tội tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân và tội khủng bố..
8.3. Dự thảo quy định về áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự đối với pháp nhân thương mại và cá nhân phạm tội với danh nghĩa pháp nhân thương mại tại điểm a khoản 2 Điều 77
Điểm a khoản 2 Điều 77 Dự thảo quy định: “2. Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân. Cá nhân thực hiện một trong các tội phạm quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, với danh nghĩa của pháp nhân thương mại thì phải chịu trách nhiệm hình sự như sau: a) Đối với người tổ chức thực hiện hành vi phạm tội, nếu hình phạt được áp dụng trong trường hợp cá nhân phạm tội độc lập là tù chung thân hoặc tử hình thì mức phạt tù được áp dụng không quá 20 năm; nếu phạt tiền là hình phạt chính hoặc phạt tù có thời hạn thì mức phạt tiền hoặc phạt tù được áp dụng không quá một phần hai mức hình phạt áp dụng đối với cá nhân phạm tội độc lập về cùng tội phạm…”. Việc mở rộng TNHS của PNTM phản ánh đúng thực tế nhiều hành vi phạm tội được tổ chức qua doanh nghiệp. Tuy nhiên, giảm hình phạt cá nhân chỉ vì hành vi được thực hiện “với danh nghĩa pháp nhân” có thể thực sự chưa đúng, khi chính sách xử lý đối với người tổ chức, đặc biệt là người có quyền quyết định cao trong pháp nhân, tổ chức, doanh nghiệp lại mặc nhiên có mức hình phạt thấp hơn người phạm tội độc lập (trong khi đây là người tổ chức). Cập nhật theo Dự thảo mới nhất ngày 09/10/2026, Dự thảo đã tiếp thu ý kiến và xóa bỏ hoàn toàn quy định theo khoản 2 Điều 77 của Dự thảo ngày 22/9. Thay vào đó, việc xem xét hình phạt cho cá nhân nay được chuyển sang khoản 2 Điều 84 Dự thảo ngày 09/10/2026 với nguyên tắc mềm dẻo hơn: Tòa án chỉ có thể phạt dưới mức thấp nhất của khung đối với cá nhân không thu lợi riêng, không giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu.
Kết luận
Tóm lại, những vấn đề được phân tích, làm rõ trong bài viết cho thấy, yêu cầu sửa đổi, bổ sung BLHS hiện hành có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất cần thiết. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thi hành, nhận diện đầy đủ những bất cập, vướng mắc và đề xuất sửa đổi, chính là góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình xây dựng BLHS và Dự thảo BLHS (sửa đổi) theo hướng đồng bộ, thống nhất, khả thi và hiệu quả hơn. Ngoài ra, đây cũng là yêu cầu cần thiết, nhằm tiếp tục thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo đảm giữa yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm với yêu cầu bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
[1] Xem: Bộ Công an, Hồ sơ chính sách Dự án BLHS (sửa đổi), Hà Nội, tháng 4/2026 và Dự thảo BLHS (sửa đổi) ngày 22/9/2026.
[2] Tiếp cận triết lý hình sự hóa dựa trên sự gia tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm được lặp lại sau khi chủ thể đã được Nhà nước cảnh báo, xử lý.
[3] Chúng tôi tán thành quan điểm của GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, việc quy định như vậy là trái với nguyên tắc hành vi. Trong luật hình sự, đặc điểm nhân thân xấu không có ý nghĩa quyết định hành vi trở thành hành vi phạm tội, mà chỉ có ý nghĩa làm tăng mức hình phạt cho người thực hiện hành vi phạm tội để bảo đảm cho hình phạt đạt được mục đích. Vì vậy, nghiên cứu loại bỏ dấu hiệu nhân thân xấu là dấu hiệu định tội danh trong BLHS. Xem: Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), Sửa đổi BLHS: Những nhận thức cần thay đổi, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2015, tr.152-154.
[4] Tác giả nêu quan điểm chuyên gia Nga Kuznhesova N.Ph. cho rằng, giống như câu ngạn ngữ của Nga: “một trăm con mèo không thể mặc nhiên trở thành con hổ”. Do đó, đồng nhất tính nguy hiểm cho xã hội của nhiều hành vi vi phạm hành chính qua một phép cộng là trái với bản chất của tội phạm. Xem: Nguyễn Cảnh Hợp, Định kiến hành chính trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 16, 2021, tr.7-15.
[5] Nếu so sánh, tách riêng trong từng trường hợp (không có quy định thêm dấu hiệu khác) trong trường hợp ví dụ này đều chưa làm phát sinh quan hệ PLHS và chưa thỏa mãn cơ sở của TNHS.
[6] Thuật ngữ “presumption of innocence” (suy đoán vô tội) thường được sử dụng trong nhiều sách báo khoa học hoặc cụm từ “the right to be presumed innocent” thể hiện trong các văn kiện quốc tế về quyền con người và được quan niệm là suy đoán vô tội. Thuật ngữ “suy đoán vô tội” chưa được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam sử dụng và ghi nhận chính thức trước khi ban hành Hiến pháp năm 2013 (mặc dù đã có các nội dung thể hiện) và trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 (sửa đổi năm 2021, 2024, 2025). Tuy nhiên, trên cơ sở những tư tưởng tiến bộ trong Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc (đã nêu), thì nội dung của nguyên tắc này đã được đề cập trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) (Điều 72), BLTTHS năm 1988 (các điều 10, 11) và BLTTHS năm 2003 (các điều 9, 10) và sau này là Hiến pháp năm 2013 (Điều 31) và BLTTHS năm 2015 (Điều 13). Trong BLHS, một khía cạnh phản ánh nội dung của nguyên tắc này thể hiện là tội phạm phải thể hiện rõ hình thức lỗi, cũng như trách nhiệm chứng minh ý thức chủ quan của người phạm tội thuộc về các cơ quan, người tiến hành tố tụng.
[7] Điều 15 về “Xác định sự thật của vụ án” trong BLTTHS năm 2015 quy định:
“Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội”.
[8] Ví dụ: Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật...”. Xem thêm: Pooja Amaravathi and Ananya Mishra, The Presumption of Innocence and its Role in the Criminal Process, International Journal of Law Management and Humanities, Volume 4, Issue 3, p.1135-1149, truy cập ngày 25/9/2026.
[9] Thực tiễn có vụ án hình sự, ở giai đoạn điều tra, bị can được đình chỉ điều tra không đúng, nên người ra quyết định đình chỉ điều tra, dẫn đến bỏ lọt tội phạm, bị truy cứu TNHS về tội không truy cứu TNHS người có tội, nhưng khi ra xét xử, bị cáo lại tranh luận với hội đồng xét xử: Tôi đã đưa người đình chỉ điều tra ra xét xử đâu, chưa đưa họ ra làm sao biết người đó có tội, chưa xác định được họ có tội hay không, làm sao tôi phải chịu TNHS về tội danh này, vì người bị buộc tội được coi là không có tội, cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
[10] Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với các tội phạm về môi trường, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Tư pháp hình sự Trung Quốc và Việt Nam về tội phạm môi trường và kinh tế”, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2017, tr.103.
[11] Xem thêm: Đinh Bích Hà (dịch và giới thiệu), BLHS của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2007, tr.44-45; Trường Đại học Luật Hà Nội (dịch): BLHS Liên bang Nga, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.50-52.
[12] Xem: Viện Sử học (dịch), Quốc triều Hình luật (Hình luật triều Lê), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2013, tr.199.
[13] Xem: Phạm Văn Đoàn, Nguyễn Văn Siêm (dịch), Tâm thần học, Nxb. “MIR” Mátxcơva và Nxb. Y học, Hà Nội, 1980, tr.181-200.
[14] Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 đã góp phần hoàn thiện thể chế về phòng, chống tác hại của rượu, bia đối với sức khỏe con người, đối với đời sống, xã hội kinh tế. Đáng chú ý, tại Điều 5, quy định 13 hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống tác hại của rượu, bia, trong đó có một số hành vi như: Nghiêm cấm xúi giục, kích động, lôi kéo, ép buộc người khác uống rượu, bia; nghiêm cấm cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, tổ chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ, người làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân, học sinh, sinh viên uống rượu, bia ngay trước, trong giờ làm việc, học tập và nghỉ ngơi giữa giờ làm việc, học tập; điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn...
[15] Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội (dịch), sđd (11), tr.53; Russian Federation Criminal Code and Criminal Procedure Code amended to counter propaganda of drugs, http://www.en.special.kremlin.ru/acts/news/74780, truy cập ngày 25/9/2026. Ví dụ: BLHS Liên bang Nga quy định mục đích hình phạt là nhằm mục đích “lập lại công bằng xã hội, cải tạo người phạm tội và ngăn ngừa họ phạm tội mới” (khoản 2 Điều 43).
[16] Xem: Trịnh Tiến Việt, “Tính thực tiễn” - đặc điểm nội tại, cấu thành giá trị của hình phạt, Tạp chí Khoa học, Luật học, số 2/2026, tr.55-72.
[17] Ví dụ: Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 hướng dẫn sửa đổi Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP (đã nêu).
[18] Xem: Trịnh Tiến Việt, Hành vi nguy hiểm cho xã hội - khởi điểm “gốc” của vấn đề tội phạm, trách nhiệm hình sự và hình phạt, Tạp chí Khoa học, Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 3, 2024, tr.23.
[19] Xem: Lê Cảm, Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự (Tập III), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.101.
[20] Xem: Lê Cảm, tlđd (19), tr.102.
[21] Xem: Trịnh Quốc Toản, Về hình phạt tiền trong luật hình sự một số nước, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7/2002, tr.63.
[22] Xem: Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr.951.
[23] Đề nghị nên bỏ khoản 6 Điều luật này, vì đây là hình phạt tiền đối với người phạm tội và Điều 35 này đang đề cập đến các hình phạt đối với đối tượng này; còn hình phạt tiền đối với PNTM phạm tội đã được đề cập ở Điều 77 và nội dung liên quan tại Chương XI - Những quy định đối với PNTM phạm tội (TG).
[24] Xem: Đinh Văn Quế, Tìm hiểu về hình phạt và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.78-79.
[25] Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, BLHS Việt Nam - dưới góc độ kỹ thuật văn bản, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2025, tr.108.
[26] Bên cạnh đó, cũng có phương án khác của tác giả đề xuất như cần chỉnh sửa lại, thay cụm từ “hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế” bằng cụm từ “nguyên nhân gây ra hậu quả đó có khả năng khắc phục trên thực tế. Xem: Nguyễn Thị Phương Hoa, Hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội trong BLHS năm 2015, Tạp chí Luật học, Số chuyên đề về BLHS năm 2015, số 6/2016, tr.33-34. Còn chúng tôi thì cho rằng, có thể sửa theo hướng chỉ có các hậu quả gây thiệt hại (trừ gây thiệt hại về tính mạng) có khả năng khắc phục trên thực tế (TG).
[27] Ngoài các chức năng đã thể hiện thống nhất với các nhiệm vụ của luật hình sự như chức năng phòng ngừa, chống tội phạm; chức năng bảo vệ và chức năng giáo dục, thì trong luật hình sự còn thể hiện một số chức năng (tạm gọi là phụ) như: chức năng chỉ dẫn, chức năng thông tin, chức năng nhận thức...
[28] Ngoài ra, cần có một điều khoản giải thích thuật ngữ như nhiều đạo luật khác (Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, BLTTHS...), tránh việc Bộ luật không phải Từ điển luật học để nêu khái niệm tội phạm, khái niệm hình phạt... và Dự thảo BLHS (sửa đổi) đã bổ sung tại Điều 4a tại Dự thảo BLHS tháng 4, tháng 6 và tháng 7/2026, tuy nhiên, đến Dự thảo BLHS ngày 09/10/2026 lại không quy định (TG).
[29] Xem: Đào Trí Úc, Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1 - Những vấn đề chung, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr.216-291; Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự - Phần chung (Giáo trình Sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019, tr.214-225; Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2022, tr.22-31.
[30] Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội (dịch), sđd (11), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr18.
[31] Tên Chương II - “Những nguyên tắc cơ bản” (trong BLTTHS hiện hành).
[32] Xem: Nguyễn Ngọc Hòa (chủ nhiệm), Báo cáo tổng hợp đề tài: Kỹ thuật lập pháp ở Việt Nam hiện nay - lý luận, thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2023, tr.3.
[33] Xem: Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo Sau Đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr.159.
[34] Xem: Đặng Đình Thái, Vướng mắc, bất cập trong quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, https://tapchitoaan.vn/vuong-mac-bat-cap-trong-toi-vi-pham-quy-dinh-ve-tham-gia-giao-thong-duong-bo10261.html, truy cập ngày 25/9/2026.
[35] Nhiều điều luật trong Chương này cũng bị vướng mắc như vậy, như các điều 262, 263, 264, 267, 268 BLHS năm 2015.
[36] Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, Tội danh và việc chuẩn hóa các tội danh trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 6, 2004, tr.51.
[37] Xem: Đào Trí Úc, sđd (29), tr.262.
[38] Cách mạng công nghiệp 4.0 đã kéo theo nhiều tác động tích cực và tiêu cực, trong đó có việc sử dụng trí tuệ nhân tạo để phạm tội, vì vậy, hệ thống pháp luật hình sự có sự sửa đổi, bổ sung để thích ứng. Sự phát triển của Dữ liệu lớn (Big-Data) cũng xuất hiện mối lo ngại về quản lý, bảo mật thông tin, hệ thống nhận diện khuôn mặt có thể bị lạm dụng vi phạm quyền riêng tư, xâm phạm an ninh mạng, an ninh quốc gia, khủng bố... Nền kinh tế chia sẻ (Sharing economy) đặt ra thách thức kiểm soát việc minh bạch về thông tin; quản lý giao dịch điện tử, thanh toán quốc tế; nhưng nó cũng là nguyên nhân phát sinh tội phạm trật tự quản lý kinh tế, rửa tiền...
[39] Xem: Maxim DOBRINOIU, The influence of Artificial Intelligence on Criminal Liability, Lex ET Scientia International Journal, No. 1/2019, p.25; Thomas C. King, Nikita Aggarwal Mariarosaria Taddeo, Luciano Floridi, Artificial Intelligence Crime, An Interdisciplinary Analysis of Foreseeable Threats and Solutions, Science and Engineering Ethics, 2020, p.91.
[40] Điều 318 BLHS năm 2015 về tội gây rối trật tự công cộng đã bổ sung trường hợp vi phạm các quy tắc ứng xử trên không gian mạng. Bổ sung vào khách thể bị tội phạm xâm hại là “an ninh mạng” tại Điều 8, cũng như bổ sung thêm trường hợp làm nhục, vu khống người khác... được thực hiện trên không gian mạng. Ngày 25-26/10/2025, tại Hà Nội đã diễn ra Lễ mở ký Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng với chủ đề “Chống tội phạm mạng - Chia sẻ trách nhiệm - Hướng tới tương lai”.
[41] Ví dụ: Nghị quyết số 147/NQ-CP ngày 22/5/2025 của Chính phủ ban hành Chiến lược tổng thể quốc gia phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa an ninh phi truyền thống đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chiến lược đề ra 08 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cần thực hiện, trong đó có giải pháp thứ hai rất quan trọng: Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa an ninh phi truyền thống.
[42] Xem: Ngô Huy Cương, Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, thị trường tội phạm và trách nhiệm hình sự của pháp nhân: ba vấn đề lớn phải quan tâm khi xây dựng BLHS, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10(5)/2017, tr.35; Lindsay Farmer, The ‘Market’ in Criminal Law Theory, Modern Law Review, 2021, doi: 10.1111/1468-2230.12687, truy cập ngày 25/9/2026, p.438.
[43] Xem thêm: UNODC, Results of a Pilot Survey of Forty Selected Organized Criminal Groups in Sixteen Countries, September 2002, p.115-119; Trần Quang Tiệp: Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về tổ chức tội phạm, tội phạm có tổ chức và phạm tội có tổ chức, Tạp chí Kiểm sát, số tháng 7/2003, tr.16-17.
[44] Xem: Matilda Claussén-Karlsson, Artificial Intelligence and the External Element of the Crime: An Analysis of the Liability Problem, JU101A, Final Thesis for the Law Program, Second Cycle, 2017, p.45.
[45] Hiện nay, song song với việc các hacker tài năng, đơn độc đang tồn tại, rủi ro về không gian mạng ngày càng phổ biến và đáng quan tâm được tạo ra bởi các cá nhân tài năng trong các tổ chức tội phạm. Chúng có cả ngân sách hoạt động và nghiên cứu, nhân sự, vượt trội hơn hẳn khả năng phòng vệ của các mục tiêu mà chúng hướng tới... Klaus Schwab, Định hình cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Nguyễn Văn, Thành Thép dịch), Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2018, tr.246.
[46] Ví dụ: Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược An ninh mạng quốc gia; Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư...
[47] Xem: Trần Thị Quỳnh, Trịnh Tiến Việt, Hiệu lực của Bộ luật Hình sự Việt Nam: Một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn và giải pháp, Tạp chí Luật học, số 9/2024, tr.34.
[48] Các nhà làm luật cần bổ sung khách thể bảo vệ “an ninh mạng” trong Điều 1, Điều 8 BLHS năm 2015, ví dụ: Điều 318 BLHS hiện hành về tội gây rối trật tự công cộng đã bổ sung trường hợp vi phạm các quy tắc ứng xử trên không gian mạng.
[49] Xem: John E. Eck, Crime and place: Crime prevention studies, papers.ssrn.com, truy cập ngày 18/9/2026.
[50] Xem thêm: Đào Trí Úc, sđd (29), tr.395. Ngoài ra, trường hợp chủ thể đã phạm một tội trên lãnh thổ Việt Nam, đồng thời phạm một tội khác ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, thì cũng bị xét xử theo pháp luật Việt Nam tại lãnh thổ Việt Nam, căn cứ vào cơ sở pháp lý cho việc xác định hành vi phạm tội nào được thực hiện và chịu hiệu lực tác động của BLHS Việt Nam không phụ thuộc vào việc người phạm tội có thực hiện thêm tội phạm khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của BLHS Việt Nam hay không (các trường hợp trên).
[51] Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 6 BLHS hiện hành về hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam còn thiếu một trường hợp, đó là BLHS nước ta vẫn có hiệu lực đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi đó xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam nhưng tàu bay, tàu biển đang ở ngoài lãnh thổ Việt Nam (TG).
[52] Xem: Nguyễn Thị Phương Hoa, Vũ Thị Thúy, Triển khai quy định “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” của Hiến pháp năm 2013 trong BLHS và BLTTHS, Đặc san Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2014, tr.70.
[53] Ví dụ, BLHS Liên bang Nga cũng có quy định điều này, tại khoản 1 Điều 12 nêu: “Công dân Liên bang Nga và những người không có quốc tịch mà thường trú ở Liên bang Nga thực hiện hành vi phạm tội bên ngoài lãnh thổ Liên bang Nga, xâm hại đến các lợi ích mà Bộ luật này bảo vệ thì chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này, nếu Tòa án nước ngoài chưa ra quyết định xử lý (còn có tài liệu dịch là chưa bị kết án) đối với hành vi phạm tội của những người này”, xem: Trường Đại học Luật Hà Nội (dịch), sđd (11), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.24.
Tài liệu tham khảo
1. Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) ngày 22/9/2026 và ngày 09/10/2026.
2. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
3. Lê Cảm, Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự (Tập III), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2000.
4. Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung) – Sách chuyên khảo Sau đại học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2005.
5. Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự - Phần chung (Giáo trình Sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2019.
6. Ngô Huy Cương, Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, thị trường tội phạm và trách nhiệm hình sự của pháp nhân: Ba vấn đề lớn phải quan tâm khi xây dựng BLHS, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10(5), 2017.
7. Phạm Văn Đoàn, Nguyễn Văn Siêm dịch, Tâm thần học, Nxb. “MIR” Mátxcơva và Nxb. Y học, Hà Nội, 1980.
8. Đinh Bích Hà dịch và giới thiệu, BLHS của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2007.
9. Nguyễn Thị Phương Hoa, Hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội trong BLHS năm 2015, Tạp chí Luật học (Số chuyên đề về BLHS năm 2015), số 6, 2016.
10. Nguyễn Thị Phương Hoa, Vũ Thị Thúy, Triển khai quy định “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” của Hiến pháp năm 2013 trong BLHS và BLTTHS, Đặc san Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2, 2014.
11. Nguyễn Ngọc Hòa, Tội danh và việc chuẩn hóa các tội danh trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 6.
12. Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), Sửa đổi BLHS: những nhận thức cần thay đổi, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2015.
13. Nguyễn Ngọc Hòa, Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với các tội phạm về môi trường, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Tư pháp hình sự Trung Quốc và Việt Nam về tội phạm môi trường và kinh tế”, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2017.
14. Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2022.
15. Nguyễn Ngọc Hòa, Kỹ thuật lập pháp ở Việt Nam hiện nay - lý luận, thực trạng và giải pháp,Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2023.
16. Nguyễn Ngọc Hòa, Bộ luật Hình sự Việt Nam - dưới góc độ kỹ thuật văn bản, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2025.
17. Nguyễn Cảnh Hợp, Định kiến hành chính trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 16, 2021.
18. Đinh Văn Quế, Tìm hiểu về hình phạt và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam,Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
19. Trần Thị Quỳnh, Trịnh Tiến Việt, Hiệu lực của Bộ luật Hình sự Việt Nam: một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn và giải pháp, Tạp chí Luật học, số 9, 2024.
20. Klaus Schwab, Định hình cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Nguyễn Văn, Thành Thép dịch), Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2018.
21. Viện Sử học dịch, Quốc triều Hình luật (Hình luật triều Lê), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2013.
22. Đặng Đình Thái, Vướng mắc, bất cập trong quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, https://tapchitoaan.vn/vuong-mac-bat-cap-trong-toi-vi-pham-quy-dinh-ve-tham-gia-giao-thong-duong-bo10261.html, truy cập ngày 25/9/2026.
23. Trần Quang Tiệp, Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về tổ chức tội phạm, tội phạm có tổ chức và phạm tội có tổ chức, Tạp chí Kiểm sát, số tháng 7/2003.
24. Trịnh Quốc Toản, Về hình phạt tiền trong luật hình sự một số nước, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7, 2002.
25. Trường Đại học Luật Hà Nội (dịch), BLHS Liên bang Nga, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011.
26. Đào Trí Úc, Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1 - những vấn đề chung, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000.
27. Trịnh Tiến Việt, Hành vi nguy hiểm cho xã hội - khởi điểm “gốc” của vấn đề tội phạm, trách nhiệm hình sự và hình phạt, Tạp chí Khoa học, Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 3, 2024.
28. Trịnh Tiến Việt, “Tính thực tiễn” - đặc điểm nội tại, cấu thành giá trị của hình phạt, Tạp chí Khoa học, Luật học, số 2, 2026.
29. Pooja Amaravathi, Ananya Mishra, The Presumption of Innocence and its Role in the Criminal Process, International Journal of Law Management and Humanities, Volume 4, Issue 3, truy cập ngày 25/9/2026.
30. Matilda Claussén-Karlsson, Artificial Intelligence and the External Element of the Crime: An Analysis of the Liability Problem, Master Thesis/Final Thesis for the Law Program (JU101A), Second Cycle.
31. Maxim Dobrinoiu, The influence of Artificial Intelligence on Criminal Liability, Lex ET Scientia International Journal, No. 1, 2019.
32. John E. Eck, Crime and place: Crime prevention studies, https://papers.ssrn.com, truy cập ngày 18/9/2026.
33. Lindsay Farmer, The ‘Market’ in Criminal Law Theory, Modern Law Review, doi: 10.1111/1468-2230.12687, truy cập ngày 25/9/2026.
34. Thomas C. King, Nikita Aggarwal, Mariarosaria Taddeo, Luciano Floridi, Artificial Intelligence Crime: An Interdisciplinary Analysis of Foreseeable Threats and Solutions, Science and Engineering Ethics, 2020.
35. Russian Federation, Criminal Code and Criminal Procedure Code amended to counter propaganda of drugs, http://www.en.special.kremlin.ru/acts/news/74780, truy cập ngày 25/9/2026.
36. UNODC, Results of a Pilot Survey of Forty Selected Organized Criminal Groups in Sixteen Countries, Vienna, 2002.
Bài liên quan
-
VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TẠI DỰ THẢO BỘ LUẬT HÌNH SỰ (SỬA ĐỔI) THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT SỐ 66-NQ/TW NGÀY 30/4/2025 CỦA ĐẢNG
Circumstances excluding criminal responsibility in the Draft Penal Code (amended) in accordance with Resolution No. 66-NQ/TW dated 30 April 2025 of the Party -
Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
-
Ngày 20/10/2026, Quốc hội thảo luận về dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)
-
Cụ thể hóa quan điểm “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất” vào Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2024
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TỐ TỤNG ĐIỆN TỬ TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Improving the legal framework for eletronic procedures in criminal adjudication -
Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú không bắt buộc phải mở phiên họp việc dân sự
-
VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TẠI DỰ THẢO BỘ LUẬT HÌNH SỰ (SỬA ĐỔI) THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT SỐ 66-NQ/TW NGÀY 30/4/2025 CỦA ĐẢNG
Circumstances excluding criminal responsibility in the Draft Penal Code (amended) in accordance with Resolution No. 66-NQ/TW dated 30 April 2025 of the Party -
PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ VÀ THẨM QUYỀN KHÁC CỦA TÒA ÁN TRONG HỆ THỐNG TÒA ÁN 03 CẤP
Determining the jurisdiction and other competeneces of Courts the three-tier Court system -
TANDTC đánh giá kết quả rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027-2031
Bình luận