XỬ LÝ VẬT CHỨNG TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
Handling physical evidence in criminal cases: Issues in improving the Vietnamese criminal procedure law from the perspective of adjudication

(TCTA) - Vật chứng trong vụ án hình sự vừa là nguồn chứng cứ, vừa có thể là tài sản có giá trị lớn gắn với quyền sở hữu, quyền bảo đảm và lợi ích hợp pháp của nhiều chủ thể. Xử lý vật chứng là một mắt xích đặc biệt của tố tụng hình sự vì cùng lúc liên quan đến hoạt động chứng minh, quyền sở hữu và quyền tài sản, hiệu quả thu hồi tài sản, chi phí bảo quản, tính khả thi của bản án và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định cơ bản về thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng, song thực tiễn cho thấy cách thức xử lý cơ bản “giữ nguyên vật chứng cho đến khi kết thúc vụ án” có thể làm phát sinh lãng phí, suy giảm giá trị tài sản và kéo dài tình trạng hạn chế quyền của chủ sở hữu, đặc biệt trong các vụ án kinh tế, tham nhũng, chức vụ và các vụ án có tài sản quy mô lớn. Nghị quyết số 164/2024/QH15 ngày 28/11/2024 của Quốc hội về thí điểm xử lý vật chứng, tài sản trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một số vụ việc, vụ án hình sự (Nghị quyết số 164/2024/QH15); Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) năm 2026 tiếp tục luật hóa các biện pháp này và bổ sung phương án xử lý đối với vật chứng giảm giá trị nhanh hoặc có chi phí bảo quản lớn. Bài viết phân tích quy định hiện hành, nhận diện những điểm đổi mới của dự thảo, đánh giá tác động đối với hoạt động xét xử và đề xuất các giải pháp nhằm xác định rõ hơn vai trò của Tòa án, Hội đồng xét xử và Thẩm phán trong việc xem xét tính hợp pháp, cần thiết, tương xứng và có thể phục hồi của việc xử lý vật chứng trước khi có bản án có hiệu lực pháp luật.

Đặt vấn đề

Vật chứng là một trong những nguồn chứng cứ đặc thù của pháp luật tố tụng hình sự. Khác với lời khai, kết luận giám định hoặc dữ liệu điện tử, vật chứng tồn tại dưới dạng vật chất và nhiều trường hợp đồng thời là một tài sản có giá trị kinh tế. Vì vậy, ngay từ thời điểm thu giữ cho đến khi vụ án được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, cơ quan tiến hành tố tụng không chỉ thực hiện chức năng bảo toàn nguồn chứng cứ mà còn trực tiếp tác động đến quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản, bao gồm cả quyền khai thác và các lợi ích tài sản khác của cá nhân, tổ chức. Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 xác định vật chứng và quy định chế độ thu thập, bảo quản, xử lý vật chứng tại Điều 89, Điều 90, Điều 105 và Điều 106 BLTTHS.

Trong nhiều vụ án, vật chứng chỉ là những đồ vật có giá trị không lớn. Tuy nhiên, ở các vụ án kinh tế, tham nhũng, buôn lậu, môi trường, ma túy hoặc các vụ án sử dụng phương tiện vận tải, vật chứng có thể là bất động sản, phương tiện sản xuất, ô tô, tàu thuyền, máy móc, thiết bị, hàng hóa, thuốc, khoáng sản, nhiên liệu, tác phẩm nghệ thuật hoặc tài sản đang được dùng để bảo đảm nghĩa vụ. Việc lưu giữ các tài sản này trong thời gian dài có thể làm giảm giá trị, phát sinh chi phí bảo quản lớn, làm gián đoạn hoạt động sản xuất, kinh doanh, thậm chí khiến giá trị kinh tế còn lại thấp hơn chi phí bảo quản. Một số nghiên cứu thực tiễn đã chỉ ra khó khăn trong bảo quản vật chứng là động vật sống, hàng tươi sống, hàng dễ cháy, thuốc có hạn sử dụng ngắn và các tài sản cần điều kiện chuyên môn[1].

Do đó, xử lý vật chứng không thể chỉ được nhìn nhận như khâu cuối cùng của tố tụng với ba lựa chọn tịch thu, trả lại hoặc tiêu hủy. Vấn đề quan trọng hơn là xác định tài sản nào thực sự là vật chứng; vật chứng cần được duy trì dưới sự kiểm soát của cơ quan tiến hành tố tụng trong bao lâu; có bắt buộc phải giữ nguyên hiện vật hay không; quyền của đồng sở hữu, người thứ ba và bên nhận bảo đảm được xử lý như thế nào; và chủ thể nào có thẩm quyền quyết định ở từng thời điểm.

Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) được công bố trong năm 2026 tiếp tục theo hướng này. Dự thảo quy định xử lý sớm vật chứng, tài sản theo Nghị quyết số 164/2024/QH15, đồng thời bổ sung quy định đối với vật chứng giảm giá trị nhanh hoặc có chi phí bảo quản lớn. Đây là thay đổi có ý nghĩa không chỉ đối với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát mà đặc biệt đối với Tòa án, bởi quyết định cuối cùng về hậu quả pháp lý của vật chứng vẫn gắn liền với quyết định của Tòa án[2].

Từ góc nhìn hoạt động xét xử, vấn đề đặt ra không chỉ là “có được xử lý sớm hay không”, mà quan trọng hơn là các yếu tố: Chủ thể nào có quyền quyết định; cơ sở pháp luật; việc kiểm soát ra sao; tài liệu nào phải được số hóa hoặc lưu giữ để thay thế cho vật; quyền khiếu nại, khởi kiện của chủ sở hữu được bảo đảm thế nào; ai chịu trách nhiệm nếu có vi phạm; Tòa án có đủ cơ sở để xét xử khách quan sau khi vật chứng vật lý đã được bán, chuyển nhượng hoặc giao lại cho người khác hay không. Bài viết tập trung trả lời các câu hỏi đó trên cơ sở so sánh pháp luật hiện hành, Nghị quyết số 164/2024/QH15 và định hướng của Dự thảo năm 2026.

1. Khung pháp lý hiện hành về vật chứng và xử lý vật chứng

1.1. Vật chứng với tư cách là nguồn chứng cứ đặc thù

BLTTHS xác định vật chứng là một trong các nguồn chứng cứ. Về bản chất, vật chứng mang thông tin chứng minh thông qua chính những thuộc tính vật chất: hình dạng, kích thước, thành phần, dấu vết, vị trí, số lượng, tình trạng, công năng, nguồn gốc hoặc mối liên hệ với hành vi phạm tội. Khác với lời khai, vật chứng thường không phản ánh lại sự việc bằng ngôn ngữ mà phản ánh sự việc thông qua dấu vết khách quan còn lưu lại trên đồ vật, tài sản hoặc vật thể.

Chính đặc điểm đó giải thích vì sao pháp luật yêu cầu vật chứng phải được thu thập kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng, niêm phong và bảo quản theo quy định. Mỗi sai sót trong chuỗi thu giữ - niêm phong - mở niêm phong - giám định - lưu kho - chuyển giao đều có thể đặt ra nghi vấn về tính toàn vẹn của chứng cứ. Đối với Tòa án, giá trị của vật chứng không chỉ nằm ở việc “Còn hiện hữu”, mà còn nằm ở việc sẽ được trích xuất ra xem xét công khai tại phiên tòa (nếu cần thiết) chính là vật đã được thu giữ từ hiện trường hoặc từ chủ thể có liên quan, không bị thay đổi ngoài những thao tác tố tụng hợp pháp.

Tuy nhiên, không phải mọi thuộc tính của vật chứng đều cần được bảo đảm bằng cách giữ nguyên. Trong nhiều trường hợp, thông tin chứng minh có thể được bảo đảm thông qua ảnh, video, biên bản mô tả, dữ liệu định danh, kết quả giám định, mẫu đại diện hoặc bản sao dữ liệu điện tử. Đây là yếu tố nhận thức quan trọng cho việc dự thảo xem xét xử lý sớm vật chứng mà không làm ảnh hưởng đến việc chứng minh, giải quyết vụ án, vụ việc.

1.2. Thẩm quyền xử lý vật chứng theo Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành

Điều 47 Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định biện pháp tư pháp đối với vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm. Theo đó, đối tượng có thể bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy bao gồm công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội; vật, tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội; vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành. Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép thì phải trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; tài sản của người khác chỉ có thể bị tịch thu khi người đó có lỗi trong việc để người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm.

Điều 106 BLTTHS phân định thẩm quyền xử lý vật chứng theo giai đoạn tố tụng. Nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định; nếu đình chỉ ở giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát quyết định; nếu đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, Chánh án Tòa án quyết định; nếu vụ án đã được đưa ra xét xử thì Hội đồng xét xử quyết định. Quy định trên cho thấy các nhà làm luật xác định “cơ quan đang nắm quyền quyết định tố tụng ở giai đoạn nào thì chịu trách nhiệm chính về hậu quả pháp lý của vật chứng ở giai đoạn đó”.

Về phương thức xử lý, vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội hoặc vật cấm có thể bị tịch thu, nộp ngân sách hoặc tiêu hủy; tiền, tài sản do phạm tội mà có bị tịch thu, nộp ngân sách; vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được bị tịch thu và tiêu hủy. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền còn có thể trả lại ngay tài sản không phải vật chứng; trả lại vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án; bán vật chứng mau hỏng hoặc khó bảo quản; áp dụng các biện pháp phù hợp đối với các loại vật chứng đặc biệt.

Quy định trên có ưu điểm là tương đối rõ về thẩm quyền và bảo đảm vật chứng gắn với từng giai đoạn tố tụng. Tuy nhiên, yếu tố “không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án” vẫn là một khái niệm rộng. Pháp luật chưa quy định đầy đủ các yếu tố cần đánh giá trước khi ra quyết định, chẳng hạn mức độ cần thiết phải giữ nguyên vật, khả năng thay thế bằng dữ liệu số, nguy cơ giảm giá trị, chi phí bảo quản, tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh, quyền của bên thứ ba ngay tình hay biện pháp bồi hoàn nếu quyết định xử lý bị xác định là không đúng.

Điều 106 BLTTHS được xây dựng chủ yếu trong trường hợp vật chứng “đơn nhất”. Trong thực tế, tài sản trong vụ án kinh tế có thể là tài sản bảo đảm, khối bất động sản, hàng hóa luân chuyển hoặc tài sản đang vận hành trong doanh nghiệp. Khi đó, việc “giữ” tài sản không chỉ là cất vào kho mà có thể đồng nghĩa với việc dừng sản xuất hoặc chặn một giao dịch đang tạo ra giá trị.

1.3. Quan hệ giữa xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp về tài sản

Về xử lý vật chứng: tịch thu vật, tiền liên quan đến tội phạm, trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại. BLTTHS quy định “Cách thức và thời điểm” xử lý trong từng giai đoạn tố tụng, trong khi BLHS quy định “Căn cứ nội dung” để tịch thu hoặc trả lại. Nếu không xác định rõ ràng, cơ quan tiến hành tố tụng dễ rơi vào tình trạng xử lý trước một vấn đề thực chất thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Vì vậy, yêu cầu quan trọng là mọi biện pháp xử lý sớm phải bảo đảm tính có thể đảm bảo về giá trị pháp lý. Khi vật chứng được bán, chuyển nhượng hoặc giao lại trước khi có bản án có hiệu lực pháp luật thì phải có một “Vật thay thế pháp lý” tương xứng, thường là khoản tiền tương ứng, bảo đảm ngân hàng, tài sản thay thế hoặc biện pháp ghi nhận quyền, để bản án có hiệu lực vẫn có thể được thi hành mà không bị ảnh hưởng bởi quyết định tố tụng trước đó.

2. Những vướng mắc, bất cập qua thực tiễn xét xử

2.1. Xác định và xử lý công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội

- Xác định công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội

BLHS và BLTTHS hiện hành đã quy định việc tịch thu công cụ, phương tiện phạm tội, nhưng chưa có tiêu chí rõ để phân biệt tài sản trực tiếp được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội với tài sản chỉ có liên quan gián tiếp đến hành vi đó. Nếu chỉ dựa vào mối liên hệ thực tế rất rộng giữa tài sản và hành vi phạm tội, gần như mọi phương tiện đi lại, điện thoại, phương tiện thanh toán hoặc tài sản được sử dụng trước hoặc sau thời điểm phạm tội đều có thể bị coi là phương tiện phạm tội. Cách hiểu như vậy dẫn tới phạm vi tịch thu quá rộng và không phản ánh đúng mục đích của biện pháp tư pháp[3].

Thực tiễn xét xử đã cho thấy sự cần thiết phải phân biệt hai trường hợp này. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 04/2019/HS-GĐT ngày 19/02/2019, 05 bị cáo sử dụng xe mô tô để đi đến địa điểm đánh bạc nhưng không sử dụng xe làm công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi đánh bạc nên việc tịch thu là không phù hợp với Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS. Trường hợp này cho thấy, việc tài sản có xuất hiện trong quá trình người phạm tội đi đến hoặc rời khỏi địa điểm phạm tội chưa đủ để xác định tài sản đó là công cụ, phương tiện phạm tội[4].

Bên cạnh việc xác định tài sản có thực sự là công cụ, phương tiện phạm tội hay không, việc xác định chủ sở hữu của tài sản cũng phải căn cứ vào bản chất của quan hệ tài sản, không chỉ dựa vào thông tin đăng ký. Án lệ số 76/2025/AL xác định mặc dù xe ô tô chưa được sang tên trên giấy đăng ký, nhưng người bán đã giao xe, nhận đủ tiền và không còn tranh chấp; người mua thực tế có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Do đó, khi người mua sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, Tòa án xác định xe thuộc sở hữu của bị cáo và tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước[5].

Tiêu chí phù hợp phải là mối liên hệ trực tiếp và có ý nghĩa thực chất giữa việc sử dụng tài sản với việc thực hiện hành vi phạm tội. Tài sản chỉ liên quan gián tiếp, ngẫu nhiên, hoặc chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt, đi lại thông thường không nên bị tịch thu. Ngược lại, tài sản là phương tiện chuyên chở đối tượng phạm tội, là nơi trực tiếp thực hiện hành vi, là công cụ tác động lên khách thể hoặc là phương tiện mà thiếu nó hành vi phạm tội theo cách thức cụ thể đã thực hiện sẽ không thể hoàn thành thì thuộc phạm vi cần xử lý.

Việc luật hóa tiêu chí này sẽ hạn chế cách áp dụng khác nhau giữa các địa phương và bảo đảm biện pháp tịch thu gắn với đúng vai trò của tài sản trong hành vi phạm tội, thay vì chỉ dựa vào sự xuất hiện của tài sản trong chuỗi hành vi.

- Xử lý công cụ, phương tiện phạm tội là tài sản chung

Khoản 3 Điều 47 BLHS đặt ra tiêu chí quan trọng: Tài sản của người khác chỉ có thể bị tịch thu nếu người đó có lỗi trong việc để người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm. Tiêu chí về lỗi cần được áp dụng cả trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung.

Nếu đồng sở hữu biết rõ nhưng vẫn đồng ý, cho phép hoặc tạo điều kiện cho người phạm tội sử dụng thì phần quyền tài sản của họ có thể bị đặt trong phạm vi tịch thu. Ngược lại, nếu đồng sở hữu không biết và không có lỗi trong việc để tài sản được sử dụng vào việc phạm tội thì quyền sở hữu của họ phải được bảo đảm.

Cách xử lý hợp lý là: Nếu tài sản có thể chia bằng hiện vật thì tịch thu phần thuộc quyền của người phạm tội và trả phần còn lại; nếu tài sản không thể chia hoặc việc chia làm mất đáng kể giá trị, công năng sử dụng thì xử lý tài sản bằng giá trị, tịch thu phần giá trị tương ứng với quyền của người phạm tội và hoàn trả phần giá trị thuộc đồng sở hữu không có lỗi. Trường hợp đồng sở hữu có lỗi thì có thể tịch thu toàn bộ, tùy tính chất sở hữu và mức độ lỗi.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 16/2024/HS-GĐT ngày 17/6/2024, chiếc xe Mitsubishi Xpander là tài sản chung vợ chồng, được bị cáo dùng để chở người nhập cảnh trái phép. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 50% giá trị chiếc xe sau khi hóa giá và trả lại cho người vợ 50% giá trị còn lại. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định chiếc xe là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng, không phân chia theo phần, nên sửa bản án phúc thẩm theo hướng tịch thu, hóa giá và nộp ngân sách nhà nước 100% giá trị chiếc xe; người vợ có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu chia tài sản chung[6].

Nhưng tại Quyết định giám đốc thẩm số 18/2022/HS-GĐT ngày 14/02/2022, chiếc xe mô tô do bị cáo sử dụng để đi thực hiện hành vi trộm cắp được xác định là tài sản chung của bị cáo và người vợ. Tòa án cấp phúc thẩm tuyên tịch thu 50% giá trị chiếc xe và trả lại 50% giá trị cho người vợ, nhưng cơ quan thi hành án xác định không thể thực hiện việc trả lại 50% giá trị vật chứng theo nội dung bản án. Hội đồng giám đốc thẩm xét thấy hành vi phạm tội mang tính bộc phát, không có sự chuẩn bị từ trước, chiếc xe có giá trị không lớn và là phương tiện phục vụ sinh hoạt, lao động hằng ngày của người vợ nên đã hủy phần quyết định của bản án phúc thẩm về xử lý chiếc xe, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về việc trả lại xe cho người vợ. Cách giải quyết này cho thấy khi xử lý công cụ, phương tiện phạm tội là tài sản chung, thực tiễn xét xử còn xem xét cả hoàn cảnh sử dụng tài sản, quyền của người đồng sở hữu và khả năng thi hành quyết định về xử lý vật chứng[7].

Đối chiếu Quyết định số 18/2022/HS-GĐT và Quyết định số 16/2024/HS-GĐT cho thấy, pháp luật hiện hành chưa tạo ra một cách xử lý thật sự thống nhất đối với công cụ, phương tiện phạm tội là tài sản chung, nhất là khi người đồng sở hữu không tham gia và không có lỗi đối với hành vi phạm tội. Vì vậy, cần quy định rõ theo hướng: Đối với công cụ, phương tiện phạm tội thuộc sở hữu chung, cần phân biệt sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất. Trường hợp sở hữu chung theo phần, việc tịch thu được thực hiện đối với phần quyền tài sản của người phạm tội và của đồng sở hữu có lỗi trong việc để tài sản được sử dụng vào việc phạm tội. Trường hợp sở hữu chung hợp nhất, cần xác định phần quyền tài sản của từng đồng sở hữu và lỗi của họ trước khi quyết định xử lý; phần quyền tài sản của người đồng sở hữu không có lỗi phải được bảo đảm. Nếu tài sản không thể phân chia bằng hiện vật thì có thể xử lý tài sản và phân chia giá trị tương ứng.

- Xử lý công cụ, phương tiện phạm tội là tài sản đang cầm cố, thế chấp

Vật chứng có thể thuộc sở hữu của người không liên quan đến tội phạm, được cho thuê, thế chấp, góp vốn, đồng sở hữu hoặc đang là tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ dân sự. Việc thu giữ, tạm giữ, kê biên hoặc phong tỏa vì thế có thể tác động đến nhiều chủ thể, ngoài bị can, bị cáo. Điều 106 BLTTHS cho phép trả lại tài sản khi không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án, nhưng chưa có quy định riêng để chủ sở hữu đề nghị xem xét việc tiếp tục giữ tài sản.

Từ góc độ quyền con người, việc hạn chế quyền sở hữu trước khi có bản án phải đáp ứng ít nhất bốn yêu cầu: có căn cứ pháp luật; cần thiết cho yêu cầu tố tụng; tương xứng với yêu cầu đó; được xem xét lại trong một thời hạn hợp lý. Quy định hiện hành đã xác định rõ yêu cầu thứ nhất, nhưng ba yêu cầu còn lại chưa được quy định rõ ràng.

Đối với tài sản thuộc sở hữu của người khác, Điều 47 BLHS quy định dựa trên lỗi của chủ sở hữu. Nếu tài sản bị người phạm tội chiếm đoạt, sử dụng trái phép hoặc chủ sở hữu giao tài sản nhưng không biết và không có lỗi đối với việc sử dụng vào tội phạm thì tài sản không thuộc phạm vi tịch thu; phải trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Ngược lại, nếu chủ sở hữu biết rõ mục đích phạm tội nhưng vẫn giao, cho mượn, cho thuê, đồng ý hoặc tạo điều kiện thì tài sản có thể bị tịch thu.

Yếu tố lỗi phải được chứng minh bằng tài liệu, chứng cứ của vụ án chứ không thể suy đoán từ việc chủ sở hữu đã giao tài sản cho người phạm tội sử dụng. Có thể xác định người có lỗi khi biết rõ và đồng ý; hoặc biết rõ nguy cơ tài sản được sử dụng để phạm tội nhưng vẫn chấp nhận, bỏ mặc. Trường hợp không biết và không có căn cứ hợp lý để biết thì phải được xem là không có lỗi. Trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, bởi tịch thu là sự can thiệp trực tiếp vào quyền sở hữu và không thể đặt gánh nặng chứng minh “không có lỗi” lên người thứ ba.

Quy định cụ thể về lỗi còn có ý nghĩa bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự. Khi Điều 47 BLHS đã lấy lỗi làm điều kiện tịch thu tài sản của người khác thì Điều 106 BLTTHS và các quy định thủ tục tương ứng phải chỉ rõ thẩm quyền, cách xác định lỗi, quyền tham gia tố tụng của chủ sở hữu và phương thức trả lại tài sản khi không đủ căn cứ tịch thu.

Việc xử lý công cụ, phương tiện phạm tội đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đặt ra đồng thời hai vấn đề: Xử lý tài sản theo pháp luật hình sự và bảo đảm quyền của bên nhận cầm cố, thế chấp theo pháp luật dân sự. Theo điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS,công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội thuộc trường hợp bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự ghi nhận quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm, cụ thể: khoản 9 Điều 21 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã quy định trường hợp tài sản bảo đảm bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được xác định là không còn tài sản bảo đảm, trừ các trường hợp quy định tại các khoản 4, 5, 7 và 8 Điều này. Khoản 3 Điều 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP cũng quy định trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan quy định tài sản đang dùng để đảm bảo phải xử lý để bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác thì tài sản được xử lý theo quy định đó.

Các quy định trên cho thấy việc tài sản đang được cầm cố, thế chấp không đương nhiên loại trừ khả năng tịch thu nếu tài sản đó được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định rõ cách giải quyết quyền của bên nhận bảo đảm trong trường hợp giao dịch bảo đảm đã được xác lập hợp pháp trước khi tài sản được sử dụng vào việc phạm tội. Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tế lớn, bởi việc tịch thu toàn bộ tài sản có thể làm chấm dứt tài sản bảo đảm và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hồi nợ của bên nhận bảo đảm không có lỗi.

Thực tiễn công tác giám đốc thẩm cho thấy, đã có những cách xử lý khác nhau đối với vấn đề này. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 16/2024/HS-GĐT ngày 17/6/2024, mặc dù chiếc xe ô tô Mitsubishi Xpander đã được thế chấp tại ngân hàng và khoản vay chưa tất toán, Hội đồng giám đốc thẩm vẫn quyết định tịch thu, hóa giá và nộp ngân sách nhà nước toàn bộ giá trị chiếc xe; trường hợp bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự. Cách xử lý này xác định việc thế chấp không làm mất căn cứ tịch thu đối với tài sản đã được sử dụng làm phương tiện phạm tội[8].

Tuy nhiên, theo Quyết định giám đốc thẩm số 80/2024/HS-GĐT ngày 27/9/2024, chiếc xe ô tô được sử dụng để vận chuyển 77 con heo từ Campuchia về Việt Nam nhằm bán kiếm lời đã được thế chấp cho ngân hàng để bảo đảm khoản vay 628 triệu đồng trước đó, Hội đồng giám đốc thẩm xác định hướng xử lý tài sản thế chấp, bán đấu giá xe để thanh toán nợ gốc, lãi cho ngân hàng, phần tiền còn lại, nếu có, mới bị tịch thu sung ngân sách nhà nước[9].

Như vậy, vấn đề không chỉ nằm ở việc xác định tài sản có phải là công cụ, phương tiện phạm tội hay không. Khi tài sản đã được sử dụng trực tiếp để thực hiện hành vi phạm tội thì căn cứ xác định là công cụ, phương tiện phạm tội không thay đổi chỉ vì tài sản đang được thế chấp. Vấn đề cần được làm rõ là quyền của bên nhận bảo đảm đã được xác lập hợp pháp trước khi hành vi phạm tội xảy ra sẽ được giải quyết như thế nào khi tài sản đồng thời thuộc trường hợp phải xử lý trong vụ án hình sự. Không nên mặc nhiên coi việc cầm cố, thế chấp là căn cứ loại trừ tịch thu, nhưng cũng không thể bỏ qua quyền bảo đảm hợp pháp của bên nhận bảo đảm không có lỗi[10].

Quyền tố tụng của bên nhận bảo đảm cũng phải được bảo đảm trước khi Tòa án quyết định đối với tài sản. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 13/2021/HS-PT ngày 27/01/2021, Tòa án cấp phúc thẩm hủy phần xử lý vật chứng vì cấp sơ thẩm chưa xác minh đầy đủ tình trạng thế chấp và không đưa ngân hàng, người đồng sở hữu tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thiếu sót[11].

Từ thực tiễn trên, trước khi quyết định xử lý công cụ, phương tiện phạm tội đang được cầm cố, thế chấp, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác minh đầy đủ nguồn gốc tài sản, thời điểm và tính hợp pháp của giao dịch bảo đảm, tình trạng thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm và lỗi của bên nhận bảo đảm đối với việc tài sản được sử dụng vào việc phạm tội; đồng thời phải xác định tư cách tham gia tố tụng, quyền trình bày ý kiến, cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh và khiếu nại. BLTTHS cần quy định rõ cách xử lý đối với trường hợp này, nhất là mối quan hệ giữa việc tịch thu công cụ, phương tiện phạm tội với quyền của bên nhận bảo đảm đã được xác lập hợp pháp trước khi hành vi phạm tội xảy ra, để bảo đảm áp dụng thống nhất trong thực tiễn xét xử.

2.2. Xử lý một số loại vật chứng có tính chất đặc thù

- Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản

Điểm c khoản 3 Điều 106 BLTTHS cho phép bán vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản; trường hợp không bán được thì tiêu hủy. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có tiêu chí đầy đủ để nhận diện thế nào là “mau hỏng”, “khó bảo quản”, chưa xác định rõ chủ thể có thẩm quyền kết luận và hình thức bán trong từng trường hợp. Thực tiễn có nơi cơ quan tiến hành tố tụng tự đánh giá, có nơi yêu cầu cơ quan chuyên ngành tham gia, dẫn đến cách áp dụng không thống nhất.

Đối với hàng hóa mà tính chất mau hỏng, khó bảo quản có thể nhận biết bằng đặc điểm thông thường như thực phẩm tươi sống, hàng có hạn sử dụng rất ngắn, hàng dễ cháy nổ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể quyết định trên cơ sở tài liệu xác nhận tình trạng hàng hóa. Đối với thuốc, hóa chất, vật tư y tế, hàng hóa chuyên ngành hoặc tài sản cần kiến thức kỹ thuật để đánh giá, phải có ý kiến của cơ quan, tổ chức chuyên môn trước khi quyết định bán hoặc tiêu hủy[12].

Trước khi xử lý phải hoàn thành các hoạt động cần thiết như lập biên bản mô tả, chụp ảnh, lấy mẫu, giám định, định giá. Tiền thu được từ việc bán phải thay thế hiện vật trong quan hệ tố tụng và được quản lý để chờ quyết định cuối cùng. Cách xử lý này vừa duy trì giá trị chứng minh, vừa ngăn ngừa nghịch lý tài sản còn giá trị khi bị thu giữ nhưng đến thời điểm xét xử đã hư hỏng hoặc mất phần lớn giá trị.

- Vật chứng là hàng giả, hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Đối với hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, một quy tắc xử lý duy nhất theo hướng “đã vi phạm thì tiêu hủy” là quá rộng; nhưng ngược lại, việc ưu tiên thu hồi giá trị bằng bán đấu giá cũng có thể làm cho hàng hóa vi phạm tiếp tục lưu thông và xâm phạm quyền của chủ thể quyền. Vì vậy, xử lý phải dựa trên bản chất vi phạm và khả năng sử dụng hợp pháp của hàng hóa.

Hàng giả về chất lượng, công dụng, hàng gây nguy hiểm cho sức khỏe, môi trường hoặc không thể sử dụng hợp pháp phải bị tịch thu, tiêu hủy. Đối với hàng hóa giả mạo hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhưng bản thân sản phẩm vẫn còn giá trị sử dụng, chỉ được xem xét phương thức tận dụng giá trị khi pháp luật chuyên ngành cho phép, yếu tố xâm phạm đã được loại bỏ, không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền và không tạo ra nguy cơ hàng hóa vi phạm quay trở lại thị trường.

Cơ chế tố tụng cần có quy định dẫn chiếu rõ đến pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật chuyên ngành, đồng thời cho phép lấy ý kiến cơ quan quản lý chuyên môn. Đây là nhóm vật chứng cho thấy xử lý vật chứng không thuần túy là vấn đề tố tụng mà quyết định của Tòa án phải tương thích với quy chế pháp lý của hàng hóa sau khi xử lý.

- Vật chứng không còn giá trị sử dụng, vật chứng có giá trị đặc biệt hoặc cần chuyên môn bảo quản

Điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS quy định vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy, nhưng chưa có tiêu chí đủ cụ thể để phân biệt giữa “không còn giá trị sử dụng” với “không còn công năng ban đầu nhưng vẫn có giá trị kinh tế”. Hàng hóa, máy móc quá hạn hoặc hư hỏng có thể vẫn có giá trị phế liệu; nếu tiêu hủy toàn bộ mà không đánh giá giá trị quy đổi có thể gây lãng phí.

Cần phân biệt: vật không còn giá trị sử dụng, không có khả năng chuyển đổi công năng và không có giá trị quy đổi thì tiêu hủy; vật hết công năng ban đầu nhưng còn giá trị phế liệu thì xử lý để thu hồi giá trị; tài sản đặc biệt như tác phẩm nghệ thuật, tài sản có giá trị lớn hoặc tài sản đòi hỏi điều kiện bảo quản chuyên môn thì giao cho cơ quan, tổ chức chuyên môn quản lý sau khi hoàn thành các hoạt động chứng minh cần thiết[13].

Đối với động vật hoang dã, thực vật ngoại lai, pháp luật hiện hành đã thể hiện rõ mô hình giao cơ quan chuyên ngành xử lý sau khi có kết luận giám định. Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05/11/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 234 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và Điều 244 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của Bộ luật Hình sự cũng là một căn cứ quan trọng đối với vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm. Từ mô hình này có thể phát triển nguyên tắc chung: Đối với tài sản thuộc diện quản lý chuyên ngành, cơ quan tiến hành tố tụng quyết định hình thức xử lý; cơ quan chuyên ngành thực hiện việc tiếp nhận và xử lý tài sản theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Thực tiễn xét xử cũng cho thấy việc phối hợp với cơ quan chuyên ngành là cần thiết đối với những vật chứng có chế độ quản lý riêng. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 58/2025/HS-PT ngày 29/7/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh T về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, Tòa án cấp phúc thẩm phân loại và áp dụng các cách xử lý khác nhau đối với từng nhóm vật chứng: 1.125 khúc gỗ tự nhiên được tịch thu, hóa giá sung ngân sách nhà nước; mẫu gỗ đã dùng để giám định bị tịch thu, tiêu hủy; còn 130 gốc cây và 05 khúc gỗ tự nhiên tại hiện trường được giao cho Hạt Kiểm lâm xử lý theo quy định của pháp luật. Cách xử lý này cho thấy đối với vật chứng thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành, quyết định của Tòa án cần đồng thời xác định rõ hình thức xử lý và cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận, thực hiện việc xử lý theo pháp luật chuyên ngành[14].

2.3. Thời gian tố tụng kéo dài ảnh hưởng đến giá trị và bảo quản vật chứng

Trong các vụ án đơn giản, thời gian từ khi thu giữ vật chứng đến khi xét xử có thể không dài. Nhưng với vụ án kinh tế, tham nhũng, chức vụ, vụ án có nhiều bị cáo hoặc cần tương trợ tư pháp, thời gian điều tra, truy tố, xét xử có thể kéo dài nhiều năm. Tài sản bị kê biên hoặc phong tỏa trong khoảng thời gian đó có thể bị ảnh hưởng đến giá trị (giảm). Xe cơ giới, máy móc, thiết bị điện tử, hàng thời trang, nguyên vật liệu, có thể vòng đời giá trị ngắn hơn thời gian tố tụng.

Hậu quả là Nhà nước có thể thu giữ được một tài sản trị giá cao ở thời điểm khởi tố nhưng chỉ còn một phần giá trị ở thời điểm thi hành án. Nếu mục tiêu của việc thu giữ, kê biên hoặc phong tỏa còn nhằm bảo đảm thu hồi tài sản và bồi thường thiệt hại thì để tài sản tự mất giá trong thời gian tố tụng có thể làm giảm hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước và bị hại.

Đối với chi phí bảo quản: kho bãi, bảo vệ, duy tu, chống cháy nổ, chống xuống cấp, bảo hiểm hoặc vận hành tối thiểu đối với tài sản đặc thù đều phát sinh chi phí. Với một số loại tài sản, chi phí bảo quản có thể tăng theo thời gian đến mức không còn hợp lý so với giá trị còn lại. Pháp luật hiện hành có nhắc đến vật chứng “Khó bảo quản”, nhưng chưa có quy định cụ thể xác định khi nào chi phí bảo quản trở nên không tương xứng; vấn đề này có thể ảnh hưởng đến yếu tố trách nhiệm, vì người có thẩm quyền có thể lựa chọn phương án an toàn về thủ tục là tiếp tục giữ tài sản, dù phương án đó không đảm bảo tối đa về giá trị.

Một trong những nguyên nhân làm tăng chi phí và rủi ro tài sản trong tố tụng hình sự là việc tiếp tục lưu giữ hiện vật dù mục đích chứng minh đã đạt được. Thực tiễn bảo quản cho thấy hàng tươi sống, hàng dễ cháy, thuốc, động vật sống, máy móc, thiết bị hoặc phương tiện có thể nhanh chóng hư hỏng, giảm giá trị, trong khi kho vật chứng và điều kiện bảo quản chuyên môn có giới hạn.

Việc một tài sản được xác định là vật chứng không đồng nghĩa với việc bắt buộc phải giữ nguyên hiện vật đến khi vụ án kết thúc. Sau khi đặc điểm chứng minh đã được ghi nhận đầy đủ, giám định và định giá cần thiết đã hoàn thành, việc xử lý không ảnh hưởng đến giải quyết vụ án và không làm mất khả năng thi hành án, pháp luật cần cho phép chuyển sang phương thức ít hạn chế quyền tài sản hơn.

Các biện pháp có thể bao gồm trả lại tài sản; giao chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp quản lý, khai thác, sử dụng; thay thế việc giữ tài sản bằng tiền bảo đảm; gửi tiền vào ngân hàng; bán hoặc chuyển nhượng tài sản đủ điều kiện; hoặc lưu giữ mẫu, hình ảnh, dữ liệu, kết quả giám định thay cho việc tiếp tục giữ toàn bộ hiện vật. Điểm cốt lõi là mọi biện pháp thay thế phải bảo đảm khả năng kiểm tra lại khi cần thiết và không làm suy giảm chất lượng chứng cứ.

Để tránh tùy nghi, BLTTHS cần xác lập một chuẩn chung về “sự cần thiết tiếp tục lưu giữ”. Quyết định tiếp tục giữ phải gắn với một mục đích tố tụng cụ thể; khi mục đích đó chấm dứt hoặc có thể đạt được bằng biện pháp ít hạn chế hơn thì cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét thay đổi cách quản lý tài sản.

Hiện nay, các quy định của luật tố tụng hình sự chưa khai thác đầy đủ khả năng số hóa và chứng cứ thay thế: Một nguyên nhân khiến cơ quan tố tụng khó xử lý sớm là có thể mất khả năng xem xét trực tiếp vật chứng tại phiên tòa. Việc này thường xảy ra đối với vật chứng mang dấu vết đồng nhất (có dấu vết giúp xác định, nhận dạng hoặc đồng nhất nó với một người, vật, công cụ hoặc nguồn tạo ra dấu vết đó; ví dụ con dao thu giữ có dấu vân tay của bị cáo, dấu vết lốp xe tại hiện trường phù hợp với lốp củaxe bị thu giữ…). Tuy nhiên, với hàng hóa có số seri, phương tiện đã được giám định, tài sản có hồ sơ pháp lý đầy đủ hoặc vật chứng mà thuộc tính cần chứng minh có thể được ghi nhận chính xác bằng công nghệ, việc tiếp tục giữ nguyên vật có thể an toàn chứ không tăng thêm giá trị chứng minh. Vì vậy, cần phải quy định rõ “Hồ sơ thay thế vật chứng” như: Ảnh đa góc, video, dữ liệu nhận dạng, biên bản mô tả chi tiết, kết luận giám định, chữ ký số… để Tòa án vẫn có thể xem xét khi xét xử mà không nhất thiết phải yêu cầu có vật chứng vật lý.

Ngoài ra, vật chứng có thể được xử lý ở nhiều giai đoạn tố tụng bởi các chủ thể khác nhau. Khi một quyết định xử lý được ban hành từ giai đoạn điều tra nhưng hậu quả chỉ xác định tại phiên tòa, việc xác định trách nhiệm có thể khó khăn. Tòa án là cơ quan phải đánh giá cuối cùng tính hợp pháp của chứng cứ và quyết định về tài sản trong bản án, nhưng không phải lúc nào cũng có thể xem xét từ sớm quyết định làm thay đổi trạng thái của vật chứng. Do đó, cần phải có quy định xử lý sớm và xem xét yếu tố kiểm soát tương xứng. Biện pháp kiểm soát không xác định Tòa án thành cơ quan quản lý vật chứng từ giai đoạn điều tra; nhưng ít nhất đối với các quyết định có nguy cơ làm mất vật, thay đổi quyền sở hữu hoặc gây hậu quả kinh tế lớn, thì cần phải có quy định kiểm soát tương xứng (như phê chuẩn, xem xét khiếu nại nhanh chóng).

3. Điểm mới trong xử lý vật chứng theo Nghị quyết số 164/2024/QH15 của Quốc hội và dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)

3.1. Nghị quyết số 164/2024/QH15: Từ bảo quản vật sang bảo đảm về giá trị

- Cho phép xử lý tài sản trước khi kết thúc vụ án

Nghị quyết số 164/2024/QH15 cho phép thí điểm một số biện pháp xử lý vật chứng, tài sản ngay trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với các vụ việc, vụ án thuộc phạm vi áp dụng của Nghị quyết. Các biện pháp được hướng dẫn chi tiết gồm trả lại tiền cho bị hại; gửi tiền vào ngân hàng để chờ xử lý; nộp tiền bảo đảm để hủy bỏ việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, phong tỏa; mua bán, chuyển nhượng vật chứng, tài sản; giao vật chứng, tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp để quản lý, khai thác, sử dụng; tạm ngừng giao dịch hoặc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.

Điểm đáng chú ý của cơ chế này không chỉ là bổ sung thêm các thủ tục xử lý, mà còn thể hiện sự thay đổi trong cách tiếp cận đối với vật chứng, tài sản. Tài sản không nhất thiết phải được giữ nguyên dưới hình thức vật chất cho đến khi bản án có hiệu lực nếu giá trị chứng minh, khả năng thu hồi và quyền của các chủ thể liên quan đã được bảo đảm bằng những điều kiện và biện pháp thay thế phù hợp. Tiền có thể được gửi ngân hàng; tài sản có thể được chuyển nhượng và thay bằng giá trị tiền; chủ sở hữu có thể tiếp tục quản lý, khai thác tài sản trong khi quyền định đoạt bị hạn chế bằng các biện pháp bảo đảm cần thiết.

Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp đối với tài sản có giá trị lớn, tài sản phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc tài sản có nguy cơ giảm giá nhanh. Trong tố tụng hình sự, việc áp dụng biện pháp đối với tài sản cần được giới hạn trong phạm vi cần thiết để bảo đảm sự hài hòa giữa giá trị chứng minh, thu hồi tài sản và thi hành án, đồng thời hạn chế thấp nhất ảnh hưởng không cần thiết đến giá trị và khả năng khai thác, sử dụng tài sản.

- Bảo đảm đồng thời giá trị chứng minh và giá trị kinh tế của vật chứng, tài sản

Từ cơ chế thí điểm tại Nghị quyết số 164/2024/QH15 có thể rút ra một nguyên tắc: Giá trị chứng minh của vật chứng không đồng nhất với việc phải lưu giữ nguyên hiện vật trong toàn bộ thời gian tố tụng. Đối với nhiều tài sản, sau khi đã mô tả, chụp ảnh, quay phim, lấy mẫu, giám định, định giá, sao lưu dữ liệu hoặc thực hiện các biện pháp xác nhận đặc tính cần thiết, việc tiếp tục giữ toàn bộ hiện vật có thể không còn là điều kiện duy nhất để bảo đảm chứng cứ.

Điểm mới nổi bật là sự tách bạch giữa “Vật mang thông tin chứng minh” và “Giá trị cần được bảo đảm”. Một tài sản có thể không cần nguyên trạng nếu thông tin chứng minh đã được bảo đảm bằng phương thức khác, trong khi giá trị kinh tế của vật được chuyển hóa thành tiền hoặc bảo đảm tương đương. Vì vậy, vật chứng không còn như một vật thể bất động trong kho chứng cứ mà như một yếu tố quyền và giá trị có thể được chuyển đổi theo quy định pháp luật.

Mặc dù vậy, không thể áp dụng tư duy này một cách cơ học cho mọi vật chứng. Đối với vật mang dấu vết tội phạm cần kiểm tra trực tiếp, vật có nguy cơ tranh chấp về đặc tính, vật mà hình thái nguyên gốc là yếu tố quyết định của việc chứng minh hoặc tài sản cần bảo đảm thi hành án, việc lưu giữ hiện vật vẫn có thể là cần thiết. Tuy nhiên, pháp luật cần chuyển từ giả định “đã là vật chứng thì phải thu giữ, bảo quản” sang yêu cầu “chỉ tiếp tục thu giữ khi còn cần thiết”. Sự thay đổi này giúp cân bằng tốt hơn giữa hiệu quả tố tụng và bảo toàn nguồn lực xã hội[15].

- Phạm vi và giới hạn của cơ chế thí điểm

Nghị quyết số 164/2024/QH15 có phạm vi áp dụng đặc thù và không phải quy tắc chung cho mọi vụ án hình sự. Vì vậy, các biện pháp nêu trên chưa thể được áp dụng rộng rãi ngoài trường hợp thuộc phạm vi Nghị quyết. Tuy nhiên, chính tính chất thí điểm cho phép kiểm nghiệm các cơ chế mới trong thực tiễn, từ đó lựa chọn những giải pháp có hiệu quả để luật hóa trong BLTTHS.

Những cơ chế có tính khái quát như chuyển tài sản thành tiền, nộp tiền bảo đảm, giao tài sản cho chủ sở hữu quản lý hoặc xử lý sớm tài sản có nguy cơ mất giá không chỉ có ý nghĩa đối với án tham nhũng, kinh tế mà còn có thể áp dụng cho nhiều loại vụ án khác. Vấn đề cần giải quyết ở “cấp luật định” là xây dựng điều kiện áp dụng thống nhất, cơ chế kiểm soát và trách nhiệm của người ra quyết định, thay vì duy trì tình trạng một cơ chế hợp lý chỉ được sử dụng trong phạm vi thí điểm.

3.2. Quy định của dự thảo BLTTHS (sửa đổi)

Dự thảo BLTTHS (ngày 15/10/2026) đã tiếp thu và luật hóa tương đối đầy đủ cơ chế xử lý sớm vật chứng, tài sản được thí điểm theo Nghị quyết số 164/2024/QH15. Điểm mới của dự thảo được thể hiện trên hai phương diện.

Thứ nhất, tại Điều 111 dự thảo, phạm vi vật chứng có thể được xử lý trong quá trình tố tụng được mở rộng từ vật chứng mau hỏng, khó bảo quản sang cả vật chứng giảm giá trị nhanh hoặc có chi phí bảo quản lớn.

Thứ hai, từ Điều 112 đến Điều 116 dự thảo, đây là cơ chế riêng về xử lý sớm vật chứng, tài sản, bao gồm trả lại tiền cho bị hại hoặc gửi tiền vào ngân hàng, nộp tiền đảm bảo, mua bán hoặc chuyển nhượng tài sản và giao tài sản để quản lý, khai thác, sử dụng. Bên cạnh đó, Điều 117 Dự thảo quy định biện pháp tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.

Như vậy, dự thảo đã cụ thể hóa tương đối đầy đủ phạm vi, biện pháp, thẩm quyền và trình tự áp dụng cơ chế xử lý sớm.

3.3. Bảng so sánh khái quát

Tiêu chí

BLTTHS

hiện hành

Nghị quyết 164/2024/QH15

Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) (dự thảo ngày 15/10/2026)

Phạm vi

Toàn bộ vụ án; biện pháp xử lý sớm còn hẹp

Thí điểm với một số vụ việc, vụ án thuộc diện theo dõi, chỉ đạo

Đã luật hóa tại Điều 112 - 116 dự thảo

Hướng xử lý chính

Bảo quản hiện vật, xử lý khi kết thúc hoặc trong trường hợp hạn chế

Bảo đảm chứng minh đồng thời bảo đảm giá trị kinh tế

Thể chế hóa xử lý sớm có kiểm soát

Loại tài sản cần xử lý sớm

Mau hỏng, khó bảo quản

Đa dạng: tiền, tài sản, quyền tài sản, tài sản có thể chuyển nhượng hoặc giao quản lý

Bổ sung rõ vật chứng giảm giá trị nhanh, chi phí bảo quản lớn

Công cụ xử lý

Trả lại, bán, tiêu hủy trong các trường hợp luật định

Tiền bảo đảm; bán/chuyển nhượng; giao quản lý khai thác; tạm dừng giao dịch...

Tiếp thu, luật hóa các biện pháp đã thí điểm

Kiểm soát quyền lực

Phân theo giai đoạn tố tụng

Nhấn mạnh kiểm sát, giám sát, khiếu nại và trách nhiệm

Cần cụ thể hóa sâu hơn biện pháp kiểm soát tư pháp

 

4. Tác động đối với Tòa án, Hội đồng xét xử và Thẩm phán

4.1. Tòa án phải xét xử trên các tài liệu pháp lý của vật chứng đã được xử lý sớm

Khi vật chứng đã được bán hoặc chuyển nhượng trước khi mở phiên tòa, Hội đồng xét xử không còn khả năng trực tiếp xem xét vật chứng tại phiên tòa. Vì vậy, hồ sơ về quá trình xử lý sớm trở thành tài liệu tố tụng quan trọng mà Tòa án phải kiểm tra, đánh giá khi giải quyết vụ án. Tòa án phải kiểm tra không chỉ nguồn gốc vật chứng mà còn toàn bộ thủ tục định giá, quyết định xử lý, phương thức bán, chủ thể nhận tài sản, dòng tiền thu được và tình trạng thông tin chứng minh. Vấn đề này làm tăng yêu cầu đối với kỹ năng xét xử, Thẩm phán không chỉ làm rõ “Vật chứng là gì” mà còn phải làm rõ “Vật chứng đã biến đổi thành gì”, “Giá trị thay thế hiện ở đâu” và “Có thể phục hồi hậu quả pháp lý nếu bản án quyết định theo hướng khác hay không”. Về bản chất, đây là thay đổi từ xem xét một vật hiện hữu sang xem xét các quyết định và giao dịch tố tụng.

4.2. Nguy cơ ảnh hưởng nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền sở hữu

Xử lý sớm tài sản trước khi có bản án có hiệu lực có thể nguy cơ xảy ra việc xác định hậu quả pháp lý của tài sản đã được định đoạt trước khi bị cáo được xét xử. Vì vậy, cần phải quy định rõ việc xử lý sớm là biện pháp để đảm bảo giá trị tài sản, không phải đơn thuần là quyết định trước về tịch thu. Bên cạnh đó cũng cần phân biệt rõ giữa các hình thức xử lý vật chứng với việc tước quyền sở hữu.

4.3. Tăng vai trò của Tòa án nhưng không đồng nghĩa việc Tòa án vượt quá thẩm quyền

Quy định mới cần phù hợp pháp luật để tránh việc cơ quan tố tụng tự quyết định mọi trường hợp xử lý sớm tài sản có giá trị lớn mà không có kiểm soát. Chính vì vậy có thể quy định về việc phải có sự giám sát bắt buộc đối với các quyết định làm thay đổi không thể phục hồi vật, thay đổi chủ thể sở hữu hoặc có giá trị kinh tế lớn; còn các quyết định khác vẫn thuộc trách nhiệm của cơ quan đang tiến hành tố tụng. Tòa án có thể thực hiện việc này thông qua việc xem xét tài liệu trong hồ sơ, không ảnh hưởng đến việc xét xử mà chỉ đánh giá tính hợp pháp của biện pháp.

Cùng với việc trao quyền, BLTTHS cần quy định trách nhiệm chủ động rà soát. Sau khi được phân công giải quyết vụ án, Thẩm phán phải xem xét tình trạng pháp lý, tình trạng thực tế và sự cần thiết của việc tiếp tục thu giữ, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, bảo quản vật chứng, tài sản. Khi mục đích tố tụng không còn hoặc có thể đạt bằng biện pháp ít hạn chế hơn, Thẩm phán phải quyết định hoặc đề xuất xử lý kịp thời theo thẩm quyền.

Cần phân định rõ thẩm quyền của Chánh án và Thẩm phán về xử lý vật chứng. Chánh án thực hiện thẩm quyền tổ chức, quản lý và những quyết định tố tụng luật giao riêng; Thẩm phán chịu trách nhiệm đối với quyết định về vật chứng trong vụ án mình trực tiếp giải quyết khi quyết định đó gắn với đánh giá chứng cứ và sự cần thiết tiếp tục hạn chế quyền tài sản. Cách phân định này vừa tăng trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán, vừa phù hợp với yêu cầu độc lập khi thực hiện nhiệm vụ xét xử.

4.4. Yêu cầu về tính hợp pháp đối với quyết định của Thẩm phán và Hội đồng xét xử về xử lý vật chứng

Trong thực tiễn, quyết định về phần vật chứng trong bản án chưa được thực sự chú trọng, dễ dẫn đến sai sót về thông tin đối với vật chứng; có thể làm phát sinh phải đính chính thông tin cho đúng đặc điểm của vật chứng, khó khăn thi hành án hoặc bị kháng nghị giám đốc thẩm. Vì vậy, đối với tài sản đã được xử lý sớm, phần nhận định và quyết định càng phải chính xác hơn.

Do đó, khi xét xử cần phải xác định rõ các yếu tố về vật chứng như: vật chứng ban đầu; quyết định xử lý sớm đã áp dụng; tài sản hoặc khoản tiền thay thế; quyền của từng chủ thể; căn cứ tịch thu, trả lại hoặc tiếp tục bảo đảm thi hành án... Đây là yêu cầu cần thiết và quan trọng để bảo đảm khả năng thi hành án đối với bản án một cách toàn diện.

5. Kiến nghị hoàn thiện dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự

5.1. Xác lập rõ các nguyên tắc ảnh hưởng đến việc xử lý sớm vật chứng

Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) đã quy định một số nguyên tắc chung đối với xử lý sớm vật chứng, tài sản, gồm bảo đảm không ảnh hưởng đến việc chứng minh, giải quyết vụ án; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đồng thời thiết lập cơ chế kiểm soát và hủy bỏ biện pháp khi không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp khác. Tuy nhiên, dự thảo cần tiếp tục bổ sung các nguyên tắc chung áp dụng cho mọi biện pháp xử lý sớm, như: chỉ áp dụng khi cần thiết và tương xứng; ưu tiên biện pháp ít xâm phạm hơn; mọi chuyển đổi vật chứng phải có tài sản hoặc dữ liệu thay thế; bảo đảm khả năng xem xét lại và bồi thường khi quyết định trái pháp luật.

5.2. Quy định cụ thể đối với các trường hợp “Giảm giá trị nhanh” và “Chi phí bảo quản lớn” 

Để thi hành điểm c khoản 3 Điều 111 dự thảo, văn bản của Chính phủ nên cụ thể hóa các tiêu chí như: tỷ lệ giảm giá trị dự kiến trong thời gian tố tụng; chi phí bảo quản so với giá trị tài sản; nguy cơ lỗi thời công nghệ; thời hạn sử dụng; chi phí duy trì điều kiện đặc biệt; tác động của việc ngừng khai thác; khả năng thay thế hiện vật bằng dữ liệu chứng minh. Đối với tài sản có giá trị lớn, cần đảm bảo chất lượng, tính khách quan của việc định giá trước khi quyết định xử lý.

5.3. Quy định về trình tự, thủ tục xử lý sớm phải bảo đảm quyền lợi của người liên quan  

Để quyết định có thêm cơ sở, giảm nguy cơ tranh chấp, ngoài các trường hợp dự thảo đã yêu cầu văn bản đề nghị hoặc sự đồng ý của chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp, cần tiếp tục bảo đảm quyền được biết, trình bày ý kiến của các chủ thế có quyền lợi bị ảnh hưởng. Các chủ thể này có quyền trình bày ý kiến trong thời hạn nhất định; trường hợp pháp luật cho phép xử lý khẩn cấp thì phải kịp thời thông báo và họ vẫn có quyền khiếu nại.

5.4. Bổ sung quy định kiểm soát đối với quyết định có tác động lớn

Mặc dù dự thảo đã thiết lập cơ chế kiểm soát thông qua việc phân định thẩm quyền và sự thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đối với quyết định xử lý sớm làm mất vật gốc, chuyển quyền sở hữu hoặc liên quan tài sản có giá trị lớn, vẫn có thể tiếp tục nghiên cứu cơ chế kiểm soát tư pháp phù hợp. Việc xem xét trong trường hợp này chỉ nên tập trung vào bốn tiêu chí: có căn cứ pháp luật; có nhu cầu thực tế; biện pháp được chọn là tương xứng; đã có biện pháp bảo đảm chứng cứ, giá trị cũng như quyền của người liên quan.

5.5. Quy định về các tài liệu lưu giữ sau khi vật chứng đã được xử lý sớm

Đối với vật chứng được bán, tiêu hủy, chuyển nhượng hoặc trả lại trước khi xét xử, phải lập hồ sơ số đủ để xác định vật chứng. Hồ sơ nên bao gồm các yếu tố như ảnh độ phân giải cao, video, mô tả kỹ thuật, số seri, tài liệu giám định, dữ liệu cân đo, biên bản niêm phong và mở niêm phong, chữ ký số... bên cạnh đó cũng cần có quy định về chủ thể chịu trách nhiệm lưu trữ và thời hạn lưu trữ.

Đối với hàng mau hỏng, khó bảo quản, văn bản hướng dẫn cần cụ thể hóa tiêu chí nhận diện, thẩm quyền xác định và phương thức bán; đối với hàng hóa chuyên ngành phải có cơ chế tham vấn hoặc chuyển giao cho cơ quan chuyên môn. Đối với vật chứng không còn giá trị sử dụng cần phân biệt giữa không còn công năng và không còn giá trị kinh tế, tránh tiêu hủy tài sản vẫn có khả năng thu hồi giá trị.

Đối với hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, phương thức xử lý phải căn cứ bản chất vi phạm và pháp luật chuyên ngành. Hàng gây hại hoặc không thể sử dụng hợp pháp phải tiêu hủy; hàng còn giá trị sử dụng chỉ được tận dụng khi yếu tố xâm phạm đã được loại bỏ và không ảnh hưởng đến quyền của chủ thể quyền. Đối với động vật hoang dã, dự thảo đã quy định cơ chế giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành hoặc cơ sở cứu hộ xử lý; đối với tài sản nghệ thuật hoặc tài sản cần điều kiện bảo quản chuyên môn khác, vẫn cần xác lập cơ chế quản lý chuyên ngành phù hợp sau khi bảo đảm yêu cầu chứng minh.

Một điều khoản mang tính nguyên tắc về mối quan hệ giữa BLTTHS và pháp luật chuyên ngành sẽ giúp Tòa án có căn cứ xử lý linh hoạt hơn mà không làm phát sinh xung đột pháp luật.

5.6. Hoàn thiện quy định về định giá, bán và quản lý tiền thu được

Giá bán có thể tác động trực tiếp đến quyền tài sản của người liên quan và hiệu quả thu hồi. Do đó, dự thảo BLTTHS (sửa đổi) đã quy định về định giá, đấu giá công khai và quản lý tiền thu được. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ việc xử lý chi phí bán, chênh lệch giá, lãi và lợi tức phát sinh trong thời gian tố tụng.

5.7. Quy định rõ việc xử lý quyền của bên thứ ba và tài sản bảo đảm

Mặc dù dự thảo BLTTHS (sửa đổi) đã bước đầu bảo vệ quyền của chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp, đối với vật chứng đồng thời là tài sản thế chấp, tài sản thuê, tài sản góp vốn hoặc tài sản đồng sở hữu, vẫn cần có quy định để xác định quyền ưu tiên và phạm vi hạn chế. Việc xử lý sớm không được làm mất quyền của chủ thể ngay tình nếu quyền đó không phải là đối tượng bị tịch thu theo luật hình sự. Trong trường hợp có tranh chấp phức tạp, có thể nghiên cứu cơ chế chuyển từ việc giữ vật sang giữ giá trị tranh chấp và không xem xét phần giá trị không liên quan.

Đối với tài sản chung, cần quy định trực tiếp nguyên tắc xử lý dựa trên lỗi của đồng sở hữu: đồng sở hữu có lỗi trong việc để tài sản được sử dụng vào phạm tội thì phần quyền tài sản của họ có thể bị tịch thu; đồng sở hữu không có lỗi thì không tịch thu phần tài sản thuộc quyền của họ. Khi tài sản chia được, xử lý bằng hiện vật; khi không chia được hoặc chia làm giảm đáng kể giá trị, xử lý bằng giá trị tương ứng. Trường hợp có tranh chấp thực sự phức tạp về quyền sở hữu mới tách ra giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đối với tài sản của người thứ ba bị sử dụng vào việc phạm tội, luật cần quy định rõ tiêu chí lỗi và trách nhiệm chứng minh. Người thứ ba có quyền được thông báo, tham gia tố tụng, trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ và khiếu nại quyết định xử lý tài sản. Quyền tài sản của người không phạm tội không thể chỉ được bảo vệ bằng quyền khởi kiện sau khi tài sản đã bị tịch thu.

Việc trao quyền phải đi cùng trách nhiệm tương xứng. Nếu tài sản bị bán không đúng căn cứ, bị định giá thấp do lỗi, bị giao cho người không có quyền hoặc dữ liệu thay thế thiếu căn cứ, làm ảnh hưởng đến việc chứng minh, giải quyết vụ việc, vụ án, thì trên cơ sở các quy định chung về trách nhiệm và bồi thường, cần cụ thể hóa trách nhiệm của cơ quan và cá nhân liên quan. Quy định rõ trách nhiệm không nhằm làm người có thẩm quyền hạn chế việc quyết định, mà tạo ra hành lang pháp lý để có thể ra quyết định khách quan, toàn diện.

5.8. Phân loại vật chứng theo khả năng xử lý sớm

Có thể xây dựng ba nhóm. Nhóm A là vật chứng phải ưu tiên giữ nguyên vì chứa dấu vết độc nhất hoặc cần trực tiếp kiểm tra tại phiên tòa. Nhóm B là vật chứng có thể xử lý sau khi đã giám định, số hóa và lưu mẫu đại diện. Nhóm C là tài sản chủ yếu có ý nghĩa về giá trị, quyền sở hữu hoặc bảo đảm thi hành án, có thể chuyển đổi sớm sang tiền hoặc tài sản thay thế.

5.9. Tổ chức hướng dẫn nghiệp vụ

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên tổ chức tập huấn nghiệp vụ (sau khi Quốc hội thông qua BLTTHS (sửa đổi) và có hướng dẫn liên ngành theo quy định tại khoản 5 Điều 112 Dự thảo) về cách kiểm tra tính hợp pháp của quyết định xử lý vật chứng có trước khi xét xử, cách đánh giá hồ sơ số thay thế, cách tuyên đối với khoản tiền hoặc tài sản thay thế, cách giải quyết chênh lệch giá trị và cách bảo vệ quyền của người thứ ba. Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ tham mưu cho Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số mẫu quyết định, mẫu phần nhận định trong bản án; giải đáp các vướng mắc trong thực tiễn xét xử.

Kết luận

Xử lý vật chứng là yếu tố trung tâm giữa chứng cứ, quyền tài sản và hậu quả pháp lý. BLTTHS hiện hành đã có quy định cần thiết nhưng chưa hoàn toàn phù hợp với những vụ án có tài sản lớn, thời gian tố tụng kéo dài và nhiều người liên quan. Nghị quyết số 164/2024/QH15 và dự thảo BLTTHS (sửa đổi) cho thấy một thay đổi đáng kể: từ bảo quản vật theo nghĩa vật lý sang quản lý vật chứng, tài sản theo hướng bảo đảm đồng thời khả năng chứng minh và giá trị.

Hướng sửa đổi này là phù hợp, nhưng càng trao quyền xử lý sớm thì càng phải tăng các yếu tố kiểm soát. Một quyết định bán, chuyển nhượng hay giao khai thác tài sản trước khi xét xử không thể chỉ dựa vào đánh giá thuận tiện về quản lý, mà phải xem xét các yếu tố về tính hợp pháp, cần thiết, tương xứng, có khả năng phục hồi và bảo đảm quyền khiếu nại. Đặc biệt, đối với quyết định làm thay đổi không thể phục hồi vật hoặc liên quan tài sản giá trị lớn.

Từ góc nhìn của Tòa án, cải cách xử lý vật chứng không làm giảm vai trò của hoạt động xét xử mà ngược lại đặt ra yêu cầu cao hơn đối với Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Tòa án phải có khả năng đánh giá không chỉ vật chứng mà cả quá trình dẫn đến hậu quả pháp lý của vật chứng sau khi được chuyển đổi; bảo đảm mọi giá trị thay thế phải xem xét được khi xét xử. Nếu được sửa đổi theo hướng này, thì việc xử lý sớm vật chứng có thể đồng thời phục vụ ba mục tiêu: nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm; bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền sở hữu; tránh thất thoát, lãng phí nguồn lực xã hội.

TS. ĐẶNG THỊ THƠM - Thẩm phán bậc 3, Phó Giám đốc Học viện Tòa án

[1] Nguyễn Ngọc Anh - Nguyễn Thị Thu Hương, Bảo quản, xử lý vật chứng trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án hình sự, https://kiemsat.vn/bao-quan-xu-ly-vat-chung-trong-qua-trinh-dieu-tra-giai-quyet-vu-an-hinh-su-69265.html, truy cập ngày 12/9/2026.

[2] Nhóm PV, Bài 6: Luật hóa những nội dung đã được thực tiễn kiểm nghiệm và khắc phục bất cập trong tố tụng hình sự, https://baovephapluat.vn/vien-truong-vksndtc-nguyen-huy-tien/bai-6-luat-hoa-nhung-noi-dung-da-duoc-thuc-tien-kiem-nghiem-va-khac-phuc-bat-cap-trong-to-tung-hinh-su-205554.html, truy cập ngày 12/9/2026.

[3] Lê Huỳnh Tấn Duy - Ngô Văn Lượng, Một số vấn đề về xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, https://lsvn.vn/mot-so-van-de-ve-xu-ly-vat-chung-do-vat-tai-san-trong-vu-an-hinh-su-1713542565-a142945.html, truy cập ngày 13/9/2026.

[4] Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố H, Quyết định giám đốc thẩm số 04/2019/HS-GĐT ngày 19/02/2019.

[5] Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Án lệ số 76/2025/AL về tịch thu sung ngân sách nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

[6] Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Quyết định giám đốc thẩm số 16/2024/HS-GĐT ngày 17/6/2024.

[7] Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố H, Quyết định giám đốc thẩm số 18/2022/HS-GĐT ngày 14/02/2022.

[8] Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Quyết định giám đốc thẩm số 16/2024/HS-GĐT ngày 17/6/2024.

[9] Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố H, Quyết định giám đốc thẩm số 80/2024/HS-GĐT ngày 27/9/2024.

[10] Ngô Văn Lượng, Xử lý vật chứng là tài sản thế chấp trong tố tụng hình sự: Quan điểm pháp lý và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 11/2025, tr.38-43.

[11] Tòa án nhân dân thành phố H, Bản án hình sự phúc thẩm số 13/2021/HS-PT ngày 27/01/2021.

[12] Nguyễn Ngọc Lĩnh, Hoàn thiện biện pháp xử lý vật chứng tại Điều 106 BLTTHS năm 2015, https://tapchitoaan.vn/hoan-thien-bien-phap-xu-ly-vat-chung-tai-dieu-106-bltths-nam-2015, truy cập ngày 13/9/2026.

[13] Nguyễn Ngọc Lĩnh, Tlđd(12).

[14] Tòa án nhân dân tỉnh T, Bản án hình sự phúc thẩm số 58/2025/HS-PT ngày 29/7/2025.

[15] Nguyễn Ngọc Anh - Nguyễn Thị Thu Hương, Tlđd(1).

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Ngọc Anh - Nguyễn Thị Thu Hương, Bảo quản, xử lý vật chứng trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án hình sự, https://kiemsat.vn/bao-quan-xu-ly-vat-chung-trong-qua-trinh-dieu-tra-giai-quyet-vu-an-hinh-su-69265.html, truy cập ngày 12/9/2026.

2. Nhóm PV, Bài 6: Luật hóa những nội dung đã được thực tiễn kiểm nghiệm và khắc phục bất cập trong tố tụng hình sự, https://baovephapluat.vn/vien-truong-vksndtc-nguyen-huy-tien/bai-6-luat-hoa-nhung-noi-dung-da-duoc-thuc-tien-kiem-nghiem-va-khac-phuc-bat-cap-trong-to-tung-hinh-su-205554.html, truy cập ngày 12/9/2026.

3.  Lê Huỳnh Tấn Duy - Ngô Văn Lượng, Một số vấn đề về xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, https://lsvn.vn/mot-so-van-de-ve-xu-ly-vat-chung-do-vat-tai-san-trong-vu-an-hinh-su-1713542565-a142945.html, truy cập ngày 13/9/2026.

 4. Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố H, Quyết định giám đốc thẩm số 04/2019/HS-GĐT ngày 19/02/2019.

5. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Án lệ số 76/2025/AL về tịch thu sung ngân sách nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

6. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Quyết định giám đốc thẩm số 16/2024/HS-GĐT ngày 17/6/2024.

7. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố H, Quyết định giám đốc thẩm số 18/2022/HS-GĐT ngày 14/02/2022.

8. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố H, Quyết định giám đốc thẩm số 80/2024/HS-GĐT ngày 27/9/2024.

9. Ngô Văn Lượng, Xử lý vật chứng là tài sản thế chấp trong tố tụng hình sự: Quan điểm pháp lý và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 11/2025, tr.38-43.

10. Tòa án nhân dân thành phố H, Bản án hình sự phúc thẩm số 13/2021/HS-PT ngày 27/01/2021.

11. Nguyễn Ngọc Lĩnh, Hoàn thiện biện pháp xử lý vật chứng tại Điều 106 BLTTHS năm 2015, https://tapchitoaan.vn/hoan-thien-bien-phap-xu-ly-vat-chung-tai-dieu-106-bltths-nam-2015, truy cập ngày 13/9/2026.

12. Tòa án nhân dân tỉnh T, Bản án hình sự phúc thẩm số 58/2025/HS-PT ngày 29/7/2025.