Chế định luật sư công ở Việt Nam và một số kiến nghị nhằm triển khai có hiệu quả trong thực tiễn hiện nay

Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng được đặt ra cấp thiết đối với hệ thống pháp luật và hoạt động tư pháp ở Việt Nam. Một trong những nội dung quan trọng được Đảng và Nhà nước quan tâm hiện nay là nghiên cứu hình thành chế định luật sư công để thực hiện các công việc có tính chất pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị, doanh nghiệp nhà nước.

Đặt vấn đề

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã xác định yêu cầu “nghiên cứu hình thành chế định luật sư công và cơ chế có điều kiện cho phép viên chức được hành nghề luật sư”[1], thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống bổ trợ tư pháp ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, ngày 24/4/2026, Quốc hội khóa XVI ban hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công, có hiệu lực từ ngày 01/10/2026 và thực hiện đến hết ngày 30/9/2028. Nghị quyết này quy định phạm vi thí điểm, nguyên tắc hoạt động, tiêu chuẩn, quyền, nghĩa vụ, việc sử dụng và chế độ, chính sách đối với luật sư công. Đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế pháp lý, bổ trợ tư pháp và nâng cao năng lực pháp lý của khu vực nhà nước.

Như vậy, luật sư công được xác định như một lực lượng pháp lý chuyên nghiệp trong khu vực nhà nước, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, tổ chức thuộc hệ thống chính trị và doanh nghiệp nhà nước. Theo Nghị quyết, luật sư công là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân hoặc người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để thực hiện công việc có tính chất pháp lý trong khu vực nhà nước. Quy định này làm thay đổi đáng kể cách tiếp cận trước đây khi luật sư công thường được hiểu chủ yếu là người cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho nhóm không có khả năng chi trả.

1. Khái quát về chế định luật sư công

Chế định luật sư công (public defender/public lawyer institution) là một thiết chế pháp lý được hình thành nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân thông qua việc Nhà nước tổ chức, tuyển dụng hoặc chi trả kinh phí cho đội ngũ luật sư thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý công. Đây là mô hình đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng nhằm hỗ trợ những người không có khả năng tài chính thuê luật sư, đồng thời góp phần bảo đảm tính công bằng, minh bạch của nền tư pháp. Theo cách hiểu phổ biến, luật sư công là những luật sư được Nhà nước bổ nhiệm hoặc trả lương để tham gia bào chữa, tư vấn pháp luật, đại diện tố tụng hoặc hỗ trợ pháp lý cho cá nhân, tổ chức trong các vụ việc hình sự, dân sự, hành chính và các quan hệ pháp luật khác theo quy định pháp luật[2].

Trên phương diện quốc tế, quyền được tiếp cận luật sư và được bảo vệ pháp lý đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quan trọng. Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 nhấn mạnh quyền được xét xử công bằng và quyền được bảo vệ pháp lý. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định rõ quyền có luật sư bào chữa miễn phí trong trường hợp bị cáo không có khả năng chi trả mà lợi ích công lý yêu cầu phải có luật sư tham gia. Ngoài ra, “Nguyên tắc cơ bản của Liên Hợp Quốc về vai trò của luật sư” năm 1990 cũng yêu cầu các quốc gia bảo đảm khả năng tiếp cận luật sư không phân biệt điều kiện kinh tế của công dân. Những chuẩn mực quốc tế này là cơ sở quan trọng để nhiều quốc gia xây dựng hệ thống luật sư công như một bộ phận của nền tư pháp hiện đại.

Hiện nay, trên thế giới tồn tại nhiều mô hình luật sư công khác nhau. Tại Hoa Kỳ, luật sư công là những luật sư được chính quyền địa phương hoặc liên bang tuyển dụng nhằm bảo đảm quyền bào chữa cho người nghèo trong các vụ án hình sự theo Tu chính án thứ sáu của Hiến pháp Hoa Kỳ. Ở Brazil, Hiến pháp quy định trực tiếp về văn phòng luật sư công do Nhà nước tài trợ nhằm cung cấp trợ giúp pháp lý miễn phí cho người dân khó khăn. Một số quốc gia như Singapore, Anh, Hungary hay Úc áp dụng mô hình kết hợp giữa luật sư công và luật sư tư nhân để cung cấp dịch vụ pháp lý công. Các mô hình này cho thấy sự đa dạng trong cách thức tổ chức nhưng đều hướng tới mục tiêu chung là bảo đảm quyền tiếp cận công lý và nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp[3].

Ở Việt Nam, theo Nghị quyết số 24/2026/QH16, phạm vi thí điểm chế định luật sư công được tổ chức tại 8 bộ gồm Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng; đồng thời thực hiện tại 10 địa phương gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Đồng Nai, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Khánh Hòa và Lâm Đồng. Việc lựa chọn các bộ, ngành và địa phương này phản ánh định hướng thí điểm ở những nơi có nhu cầu pháp lý lớn, thường xuyên phát sinh tranh chấp hành chính, kinh tế, đầu tư, thương mại và các vụ việc pháp lý phức tạp.

Về tiêu chuẩn, người muốn trở thành luật sư công phải là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân hoặc người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước; có tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính; có đủ tiêu chuẩn luật sư theo Luật Luật sư; đồng thời có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc thường xuyên, trực tiếp trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật, giải quyết vụ việc pháp lý phức tạp. Quy định này cho thấy luật sư công không phải là một vị trí pháp chế thông thường, mà là chức danh đòi hỏi tiêu chuẩn nghề nghiệp cao, kết hợp giữa năng lực chuyên môn luật sư và yêu cầu đạo đức, kỷ luật của khu vực công.

Một điểm mới quan trọng là Nghị quyết số 24/2026/QH16 khẳng định nguyên tắc hoạt động của luật sư công gồm: tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam; độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan; chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước cơ quan, tổ chức sử dụng luật sư công. Đặc biệt, luật sư công có quyền bảo lưu ý kiến và từ chối thực hiện chỉ đạo trái pháp luật. Đây là cơ chế quan trọng nhằm bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp của luật sư công, tránh tình trạng luật sư công chỉ trở thành cán bộ pháp chế hành chính thuần túy.

So với cách tiếp cận truyền thống, chế định luật sư công ở Việt Nam theo Nghị quyết số 24/2026/QH16 có phạm vi thiên về bảo vệ lợi ích công, lợi ích nhà nước và lợi ích của khu vực nhà nước. Điều này phù hợp với nhận định của các chuyên gia cho rằng trong bối cảnh tranh chấp đầu tư, thương mại, hành chính và các vụ việc có yếu tố nước ngoài ngày càng gia tăng, khu vực công cần một đội ngũ pháp lý chuyên nghiệp, có khả năng tư vấn, tranh tụng và xử lý vụ việc ở trình độ cao[4].

2. Một số khó khăn khi triển khai chế định luật sư công ở Việt Nam

Khó khăn đầu tiên là việc xác định ranh giới giữa luật sư công với cán bộ pháp chế, trợ giúp viên pháp lý và luật sư hành nghề tư nhân vẫn cần được tiếp tục làm rõ trong quá trình triển khai. Nghị quyết số 24/2026/QH16 đã xác định luật sư công chỉ thực hiện công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước, không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng ngoài khu vực nhà nước. Quy định này giúp tránh xung đột lợi ích nhưng cũng đặt ra câu hỏi về bản chất nghề nghiệp của luật sư công: họ là luật sư theo nghĩa đầy đủ hay là một dạng công chức pháp lý đặc thù được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư[5]. Việc xác định rõ vị trí pháp lý của luật sư công có ý nghĩa quan trọng đối với cơ chế quản lý, tuyển dụng, đào tạo, đánh giá và bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp của đội ngũ này. Nếu luật sư công được xem là chủ thể hành nghề luật sư theo đúng bản chất nghề nghiệp thì cần có các cơ chế bảo đảm tính độc lập chuyên môn, quyền từ chối thực hiện các yêu cầu trái pháp luật và nghĩa vụ tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp tương tự luật sư hành nghề tư nhân. Ngược lại, nếu luật sư công được nhìn nhận chủ yếu như một công chức pháp lý chuyên trách trong bộ máy nhà nước thì mối quan hệ phục tùng hành chính, chế độ công vụ và cơ chế quản lý cán bộ sẽ giữ vai trò chi phối. Sự giao thoa giữa hai cách tiếp cận này có thể dẫn đến những khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật, đặc biệt trong việc xác định phạm vi quyền hạn, trách nhiệm nghề nghiệp và cơ chế bảo đảm tính khách quan, độc lập của luật sư công khi thực hiện nhiệm vụ. Nếu không được làm rõ bằng các quy định hướng dẫn cụ thể, chế định luật sư công có nguy cơ rơi vào tình trạng “lai ghép” giữa mô hình công chức pháp lý và mô hình luật sư chuyên nghiệp, từ đó làm giảm hiệu quả hoạt động và ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng một đội ngũ luật sư công có đủ năng lực, tính chuyên nghiệp và tính độc lập để phục vụ lợi ích công.

Khó khăn thứ hai là yêu cầu bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Luật sư công vừa chịu sự quản lý, phân công của cơ quan sử dụng, vừa phải tuân thủ quy tắc nghề nghiệp luật sư và bảo vệ sự thật khách quan. Nghị quyết số 24/2026/QH16 đã trao quyền bảo lưu ý kiến, quyền từ chối chỉ đạo trái pháp luật và quyền miễn trừ trách nhiệm trong trường hợp thực hiện đúng quy trình, không tư lợi nhưng xảy ra thiệt hại do rủi ro khách quan. Tuy nhiên, để các quyền này có hiệu lực thực tế, cần có cơ chế bảo vệ luật sư công khỏi áp lực hành chính, áp lực thành tích hoặc yêu cầu bảo vệ lợi ích cục bộ của cơ quan sử dụng. Trong thực tiễn, không phải mọi sức ép đều thể hiện dưới hình thức mệnh lệnh trái pháp luật rõ ràng; nhiều trường hợp có thể xuất hiện dưới dạng tác động gián tiếp đến quá trình đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng hoặc cơ hội thăng tiến. Nếu thiếu các cơ chế bảo đảm tính độc lập về chuyên môn và bảo vệ người đưa ra ý kiến pháp lý khách quan, luật sư công có thể rơi vào tình trạng e ngại trách nhiệm, né tránh quan điểm chuyên môn hoặc đưa ra ý kiến theo hướng “an toàn” thay vì dựa trên các căn cứ pháp lý khách quan. Điều này không chỉ làm suy giảm chất lượng hoạt động tư vấn, tham mưu pháp lý trong khu vực công mà còn ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng một đội ngũ luật sư công chuyên nghiệp, độc lập và thực sự trở thành công cụ hỗ trợ Nhà nước quản trị bằng pháp luật.

Khó khăn thứ ba là vấn đề đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hóa đội ngũ. Nghị quyết yêu cầu luật sư công tham gia bồi dưỡng về luật sư công theo quy định của Chính phủ, nhưng nội dung chương trình, chuẩn đầu ra, phương thức đánh giá và cơ chế cập nhật kiến thức vẫn cần được xây dựng cụ thể. Tài liệu “Định hướng xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng luật sư công” cũng cho thấy đào tạo luật sư công phải được thiết kế riêng, gắn với kỹ năng tư vấn pháp luật công, tranh tụng, xử lý vụ việc phức tạp và bảo vệ lợi ích nhà nước trong bối cảnh hội nhập[6]. Thách thức đặt ra là phải xây dựng được một hệ thống tiêu chuẩn nghề nghiệp thống nhất, vừa bảo đảm chất lượng chuyên môn tương đương đội ngũ luật sư chuyên nghiệp, vừa đáp ứng những yêu cầu đặc thù của hoạt động pháp lý trong khu vực nhà nước. Nếu thiếu một cơ chế đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá năng lực bài bản, nguy cơ xuất hiện sự chênh lệch về trình độ chuyên môn, kỹ năng hành nghề và chất lượng thực thi nhiệm vụ giữa các luật sư công là khó tránh khỏi, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của chế định luật sư công.

3. Một số kiến nghị để triển khai hiệu quả chế định luật sư công ở Việt Nam

Thứ nhất, cần ban hành sớm các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16. Nghị quyết đã giao Chính phủ quy định việc tập sự hành nghề luật sư, kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư và các tiêu chuẩn của luật sư công phù hợp với từng vị trí việc làm. Vì vậy, văn bản hướng dẫn cần làm rõ quy trình lựa chọn, đề nghị cấp chứng chỉ, cấp thẻ luật sư, bồi dưỡng bắt buộc, phân công nhiệm vụ, đánh giá chất lượng và xử lý trách nhiệm đối với luật sư công. Nếu thiếu hướng dẫn cụ thể, các bộ, ngành và địa phương thí điểm có thể triển khai không thống nhất, làm giảm hiệu quả của mô hình.

Thứ hai, cần xác định rõ luật sư công là chức danh pháp lý chuyên nghiệp trong khu vực nhà nước, không đồng nhất với cán bộ pháp chế thông thường. Cán bộ pháp chế chủ yếu thực hiện tham mưu, kiểm tra, rà soát văn bản, tư vấn nội bộ; trong khi luật sư công cần có năng lực hành nghề luật sư, tham gia tố tụng, đại diện pháp lý, xử lý tranh chấp phức tạp và bảo vệ lợi ích công. Việc định danh rõ ràng sẽ giúp tránh chồng chéo chức năng, đồng thời nâng cao trách nhiệm cá nhân và chuẩn mực nghề nghiệp của luật sư công. Đồng thời, nên triển khai mô hình luật sư công theo hướng tinh gọn, tận dụng nguồn nhân lực sẵn có nhưng có chọn lọc chặt chẽ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy mô hình hiệu quả không nhất thiết phải thành lập một bộ máy mới cồng kềnh, mà có thể kết hợp lực lượng nòng cốt trong khu vực công với cơ chế thuê luật sư tư nhân giỏi theo từng vụ việc. Cách tiếp cận này vừa giúp tiết kiệm ngân sách, vừa tận dụng được chuyên môn sâu của khu vực tư trong các lĩnh vực như đầu tư quốc tế, sở hữu trí tuệ, thương mại quốc tế và tranh chấp hợp đồng phức tạp[7].

Thứ ba, cần xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng luật sư công chuyên biệt. Chương trình này không nên chỉ lặp lại đào tạo nghề luật sư thông thường mà cần bổ sung các học phần về pháp luật công, tố tụng hành chính, pháp luật đầu tư công, pháp luật quốc tế, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, kỹ năng tư vấn chính sách, kỹ năng đánh giá rủi ro pháp lý và đạo đức nghề nghiệp trong khu vực công. Luật sư công phải vừa có năng lực nghề nghiệp của luật sư, vừa hiểu cơ chế vận hành của Nhà nước và trách nhiệm bảo vệ lợi ích công[8].

Thứ tư, cần thiết lập cơ chế bảo vệ quyền bảo lưu ý kiến và từ chối chỉ đạo trái pháp luật của luật sư công. Đây là điểm tiến bộ của Nghị quyết số 24/2026/QH16, nhưng nếu không có cơ chế thực thi cụ thể thì quyền này có thể chỉ mang tính hình thức. Cần quy định rõ trình tự ghi nhận ý kiến bảo lưu, trách nhiệm của người đứng đầu khi không chấp nhận ý kiến pháp lý của luật sư công, cơ chế báo cáo lên cơ quan cấp trên và nguyên tắc không xử lý bất lợi đối với luật sư công khi họ từ chối chỉ đạo trái pháp luật.

Thứ năm, cần đánh giá định kỳ kết quả thí điểm theo các tiêu chí cụ thể. Các tiêu chí có thể gồm: số lượng luật sư công được cấp chứng chỉ; số vụ việc được tham gia; số vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố tụng được xử lý hiệu quả; mức độ tiết kiệm chi phí thuê tư vấn bên ngoài; chất lượng ý kiến pháp lý; mức độ phòng ngừa rủi ro pháp lý trong hoạt động quản lý nhà nước; và mức độ hài lòng của cơ quan sử dụng. Sau giai đoạn thí điểm từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028, cần tổng kết toàn diện để quyết định việc luật hóa chính thức chế định luật sư công.

Kết luận

Chế định luật sư công là một thiết chế quan trọng của nền tư pháp hiện đại, góp phần bảo đảm quyền tiếp cận công lý, bảo vệ quyền con người và nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu và từng bước triển khai chế định luật sư công là yêu cầu khách quan, phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới.

Nghị quyết số 24/2026/QH16 đã tạo bước ngoặt quan trọng trong quá trình hình thành chế định luật sư công ở Việt Nam. Từ một định hướng chính sách, luật sư công đã trở thành mô hình thí điểm có căn cứ pháp lý, phạm vi, tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ cụ thể. Tuy nhiên, để chế định này vận hành hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện văn bản hướng dẫn, phân định rõ chức năng với pháp chế và trợ giúp pháp lý, bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp, chuẩn hóa đào tạo và xây dựng cơ chế đánh giá thí điểm. Nếu được triển khai thận trọng, tinh gọn và chuyên nghiệp, luật sư công sẽ góp phần nâng cao năng lực pháp lý của khu vực nhà nước, phòng ngừa rủi ro pháp lý, bảo vệ lợi ích công và thúc đẩy xây dựng nền tư pháp công bằng, minh bạch.

 

ThS. NGUYỄN KIM THI (Luật sư Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh)

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Minh Hằng (2026), “Định hướng xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng luật sư công”, Tạp chí Nghề Luật, số 01.

2. Đặng Kim Hoa (2026), “Kỳ 2: Xây dựng mô hình luật sư công hướng tới sự tinh gọn”, https://thanhtra.com.vn/dien-dan-thanh-tra-1580D087E/ky-2-xay-dung-mo-hinh-luat-su-cong-huong-toi-su-tinh-gon-5a7178977.html.

3. Đinh Văn Minh (2026), “Thí điểm chế định luật sư công ở Việt Nam: Kỳ vọng và những vấn đề đặt ra”, https://thanhtra.com.vn/dien-dan-thanh-tra-1580D087E/thi-diem-che-dinh-luat-su-cong-o-viet-nam-ky-vong-va-nhung-van-de-dat-ra-5a7177ba0.html.

4. Nguyễn Mạnh Tuân (2025), “Luật sư công trong bảo vệ quyền con người: Định hướng phát triển ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Trường Đại học Hải Dương, số 4.

5. Nguyễn Đức Tưởng (2025), “Luật sư công và định hướng thiết lập chế định luật sư công ở Việt Nam”, https://danchuphapluat.vn/luat-su-cong-va-dinh-huong-thiet-lap-che-dinh-luat-su-cong-o-viet-nam-6219.html.


[1] Mục III.2 Nghị quyết số 66-NQ/TW.

[2] Nguyễn Mạnh Tuân (2025), “Luật sư công trong bảo vệ quyền con người: Định hướng phát triển ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Trường Đại học Hải Dương, số 4, tr.114.

[3] Nguyễn Mạnh Tuân (2025), tlđd, tr.115.

[4] Đinh Văn Minh (2026), “Thí điểm chế định luật sư công ở Việt Nam: Kỳ vọng và những vấn đề đặt ra”, https://thanhtra.com.vn/dien-dan-thanh-tra-1580D087E/thi-diem-che-dinh-luat-su-cong-o-viet-nam-ky-vong-va-nhung-van-de-dat-ra-5a7177ba0.html, truy cập ngày 15/5/2026.

[5] Đinh Văn Minh (2026), “Thí điểm chế định luật sư công ở Việt Nam: Kỳ vọng và những vấn đề đặt ra”, https://thanhtra.com.vn/dien-dan-thanh-tra-1580D087E/thi-diem-che-dinh-luat-su-cong-o-viet-nam-ky-vong-va-nhung-van-de-dat-ra-5a7177ba0.html, truy cập ngày 15/5/2026.

[6] Nguyễn Minh Hằng (2026), “Định hướng xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng luật sư công”, Tạp chí Nghề Luật, số 01, tr.83.

[7] Đặng Kim Hoa (2026), “Kỳ 2: Xây dựng mô hình luật sư công hướng tới sự tinh gọn”, https://thanhtra.com.vn/dien-dan-thanh-tra-1580D087E/ky-2-xay-dung-mo-hinh-luat-su-cong-huong-toi-su-tinh-gon-5a7178977.html, truy cập ngày 10/5/2026.

[8] Nguyễn Minh Hằng (2026), tlđd, tr.83.

Các luật sư tại một phiên toà hình sự - Ảnh: Trần Linh.