Đánh giá thực tiễn lập pháp và thực tiễn áp dụng quy định về biện pháp lao động phục vụ cộng đồng trong hình phạt cải tạo không giam giữ theo pháp luật hình sự Việt Nam

Giảm thiểu việc áp dụng hình phạt tù, mở rộng các biện pháp xử lý không giam giữ là xu hướng chung trong chính sách hình sự hiện đại. Trong bối cảnh đó, pháp luật hình sự Việt Nam đã bổ sung biện pháp lao động phục vụ cộng đồng trong hình phạt cải tạo không giam giữ tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025). Bài viết tập trung đánh giá những điểm tiến bộ trong quá trình lập pháp, đồng thời phân tích các khoảng trống pháp lý và những khó khăn trong thực tiễn áp dụng biện pháp này, qua đó kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

1. Đặt vấn đề

Lao động phục vụ cộng đồng là biện pháp lần đầu tiên được ghi nhận trong pháp luật hình sự Việt Nam như một nội dung gắn với hình phạt cải tạo không giam giữ, áp dụng chỉ khi người bị kết án không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian cải tạo không giam giữ. Điều này tránh việc trừng phạt gắn liền với lao động đối với người đang có công ăn việc làm ổn định- vốn là điều kiện ban đầu để xét áp dụng cải tạo không giam giữ theo Điều 36. Sau gần 10 năm triển khai, quy định này đã thể hiện rõ định hướng nhân đạo, hướng thiện trong chính sách hình sự, đồng thời phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về xử lý người phạm tội không tước tự do. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy vẫn còn tồn tại những khoảng trống đáng kể trong cả thiết kế lập pháp và tổ chức thi hành, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giáo dục, cải tạo và tái hòa nhập cộng đồng của người bị kết án.

2. Về mặt lập pháp

2.1. Những điểm tích cực của việc xây dựng pháp luật về lao động phục vụ cộng đồng

Trước hết, pháp luật hình sự Việt Nam đã vận dụng và khai thác tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước và các tiêu chuẩn quốc tế trong việc cải cách tư pháp theo hướng giảm hình phạt tù, mở rộng hình phạt không giam giữ. Đây là một trong số những nhiệm vụ cải cách tư pháp trọng tâm được đề cập trong Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, khẳng định tầm quan trọng của việc nâng cao việc xem xét và áp dụng hình phạt không giam giữ đối với người phạm tội mà phạm phải một số tội danh nhất định, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội chưa đến mức phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Xuất phát từ chủ trương này, bắt đầu từ Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, các nhà làm luật đã bổ sung biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ nhằm mục đích mở rộng khả năng cho người bị kết án được hưởng án phạt cộng đồng. Điều này thể hiện rất rõ chính sách nhân đạo, hướng thiện của Nhà nước đối với người phạm tội, giúp tiết kiệm được một khoản chi phí đáng kể cho Nhà nước và xã hội phải chi cho việc thi hành hình phạt[1].

Một sự đổi mới pháp lý khác của pháp luật Việt Nam, đó là sự ra đời của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 85/2025/QH15. Luật này đã nhấn mạnh vào mục đích giáo dục, cải tạo người chưa thành niên phạm tội chưa thành niên thay vì trừng trị thông qua các biện pháp xử lý chuyển hướng, bao gồm biện pháp thực hiện công việc phục vụ cộng đồng.

Hơn nữa, pháp luật hình sự Việt Nam cũng đã tuân thủ theo các tiêu chuẩn quốc tế khác. Điển hình là Quy tắc chuẩn, tối thiểu của Liên Hợp Quốc về những biện pháp không giam giữ, hay còn gọi là Quy tắc Tokyo (Tô-ky-ô), được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua bằng Nghị quyết số 45/110 ngày 14/12/1990. Đây có thể được coi là “khuôn mẫu” cho nhà làm luật Việt Nam xây dựng các khung hình phạt không giam giữ. Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam cũng đã nội luật hóa nguyên tắc khuyến khích sự tham gia rộng rãi hơn nữa của cộng đồng vào hoạt động tư pháp hình sự, đặc biệt trong việc đối xử với người phạm tội thông qua việc bổ sung biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ nếu đáp ứng các căn cứ luật định.

Có thể thấy rằng, dù không được quy định như một hình phạt riêng biệt, lao động phục vụ cộng đồng là một biện pháp tiến bộ, thể hiện rõ chủ trương của Nhà nước cải cách tư pháp theo hướng nhân đạo, hướng thiện và hội nhập với xu thế của pháp luật quốc tế và cũng là biện pháp duy nhất mà có sự giám sát và phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, cùng với đó là sự quan tâm đặc biệt đến từ phía gia đình và cộng đồng.

2.2. Những mặt hạn chế

Mặc dù mang tính tiến bộ, quy định về lao động phục vụ cộng đồng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế đáng chú ý. Vẫn còn tồn tại nhiều “khoảng trống pháp lý” trong quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ chế lao động phục vụ cộng đồng dành cho người chịu án phạt cải tạo không giam giữ. Nghiên cứu các khoảng trống pháp lý trong quá trình lập pháp và áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng không chỉ có cái nhìn tổng quan hơn về cơ chế xây dựng chính sách pháp luật hình sự hiện nay, mà còn đưa ra những hướng đi cho nền tư pháp hình sự trong giai đoạn sắp tới. Bên cạnh những thành tựu mà pháp luật hình sự Việt Nam đạt được kể từ khi BLHS năm 2015 quy định về lao động phục vụ cộng đồng có hiệu lực thi hành, vẫn còn tồn tại những bất cập mà nhà làm luật cũng như các cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật cần phải lưu tâm.

Thứ nhất, BLHS hiện nay chưa quy định chi tiết về tình tiết liên quan đến vấn đề không có việc làm và bị mất việc làm. Do sự thiếu sót của pháp luật hình sự, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải thông qua các văn bản pháp lý khác nhau để hiểu và áp dụng tình tiết này một cách phù hợp đối với người phạm tội. Tuy nhiên, dễ nhận thấy sự khác biệt giữa các văn bản pháp lý này với khái niệm “việc làm”, khi điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định số 61/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP chỉ điều chỉnh vấn đề việc làm giới hạn trong phạm vi quan hệ lao động giữa người lao động - người sử dụng lao động bởi có liên quan đến vấn đề chi trả bảo hiểm thất nghiệp, trong khi khái niệm việc làm có nội hàm rộng rãi hơn: “là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm”[2]. Điều này có nghĩa, người phạm tội tuy có hoạt động tạo ra thu nhập nhưng bởi họ không chịu ràng buộc bởi quan hệ pháp lý nào nên sẽ không được coi là có việc làm, hay còn gọi là người lao động có việc làm phi chính thức đã được Cục Thống kê, Bộ Tài chính quy định chi tiết. Từ đó, những người lao động có việc làm phi chính thức sẽ không được coi là có việc làm do vấn đề việc làm của họ không nằm trong các trường hợp được xác định là có việc làm theo Nghị định số 61/2020/NĐ-CP và họ đáp ứng điều kiện về không có việc làm để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng, trong khi trên thực tế, họ vẫn tạo ra thu nhập từ sức lao động của mình hằng ngày. Có thể thấy rằng, các kẽ hở pháp lý xoay quanh vấn đề việc làm của BLHS năm 2015 cùng với sự không thống nhất trong khái niệm “việc làm” trong các văn bản pháp luật khác nhau đã vô tình tạo ra một nghịch lý thực tế: những người phạm tội bị kết án cải tạo không giam giữ mà có công việc phi chính thức vẫn đang miệt mài làm việc, tạo ra nguồn thu nhập lại bị coi là “không có việc làm” và đương nhiên sẽ bị liệt kê vào diện xem xét áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng.

Thứ hai, thiếu sót trong việc quy định các vấn đề chi tiết xoay quanh hoạt động lao động phục vụ cộng đồng. Khung pháp lý hiện hành thiếu các văn bản hướng dẫn về việc xây dựng hệ thống các công việc phục vụ cộng đồng cho người phạm tội hay chí ít là những tiêu chí hoặc chuẩn mực để người có thẩm quyền dựa vào đó lựa chọn công việc lao động phù hợp với từng trường hợp phạm tội, cùng với đó là các quy định về mặt thời gian, liên quan đến thời hạn chấp hành án và số giờ tối đa người phạm tội phải đáp ứng, từ đó, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng hình phạt lao động phục vụ cộng đồng. Việc áp dụng biện pháp còn phụ thuộc phần lớn vào ý kiến chủ quan của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Thực chất, hiện nay pháp luật chưa quy định khái niệm thế nào là lao động phục vụ cộng đồng, hay những công việc có tính chất như thế nào được coi là phục vụ cộng đồng và những công việc bị cấm áp dụng đối với người phạm tội.

Do tính thiếu chặt chẽ về mặt lập pháp, các công việc lao động phục vụ cộng đồng hầu hết là do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tự ấn định dựa theo những hiểu biết xã hội chung nhất về lao động phục vụ cộng đồng. Điều này rất dễ xảy ra khả năng đối xử không công bằng với những trường hợp người phạm tội cùng phạm một tội danh với những tình tiết giống nhau và đều được yêu cầu thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng, tuy nhiên do cư trú tại các địa phương khác nhau nên nội dung công việc cần làm và thời hạn chấp hành lao động phục vụ cộng đồng có sự khác nhau rõ rệt; và cũng có thể là những trường hợp cơ quan có thẩm quyền lợi dụng quyền hạn của mình để giao những công việc nặng nhọc, độc hại và không phù hợp cho người phạm tội.

Người chấp hành biện pháp lao động phục vụ cộng đồng, suy cho cùng cũng là thông qua hoạt động lao động của mình tác động một hoặc nhiều lợi ích lên cộng đồng dân cư trên địa bàn của họ. Mặc dù khoản 3 Điều 220 Bộ luật Lao động 2019 ghi nhận sự áp dụng pháp luật lao động đối với nhóm đối tượng làm việc không có quan hệ lao động; song, việc người bị kết án thực hiện công việc lao động phục vụ cồng đồng được hưởng những quyền và lợi ích hay không và mức độ thụ hưởng các quyền lợi này tới đâu vẫn chưa được làm rõ. Để đảm bảo quyền con người, danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án, nhà làm luật phải dự liệu và xây dựng hành lang pháp lý thật vững chắc để họ thực hiện công việc vì lợi ích của xã hội.

Hơn nữa, pháp luật hình sự hiện nay thiếu đi các tiêu chí giúp cơ quan có thẩm quyền đánh giá kết quả lao động của người phạm tội sau quá trình thi hành án một cách khách quan và phù hợp với thực tiễn. Các tiêu chí phải bao gồm quá trình thay đổi trong hành vi, nhận thức và thái độ của người phạm tội kể từ thời điểm áp dụng biện pháp; mức độ ảnh hưởng của công việc lao động phục vụ cộng đồng được phân công cho người phạm tội đối với đời sống xã hội; hay thậm chí đánh giá công cuộc theo dõi người chấp hành án của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và gia đình, cộng đồng, v.v. Việc bổ sung các quy định này còn nhằm tránh các trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đánh giá kết quả lao động theo cảm tính riêng, thiếu đi tính công bằng và khách quan.

Thứ ba, việc thiếu chặt chẽ trong quy định của pháp luật còn dẫn đến những vấn đề liên quan đến cách hiểu trong việc áp dụng của biện pháp lao động phục vụ cộng đồng. Người đọc sẽ hiểu việc áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng như một nghĩa vụ thay thế cho nghĩa vụ khấu trừ thu nhập hàng tháng dựa trên hiểu biết thông thường, tuy nhiên, BLHS hay các văn bản hướng dẫn liên quan không đưa ra những giải thích cụ thể cho vấn đề này. Do vậy, nhóm tác giả đưa ra những hướng hiểu biết về áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng trong thực tiễn như sau dựa trên pháp luật hiện hành:

Cách hiểu đầu tiên, lao động phục vụ cộng đồng được hiểu theo nghĩa là một biện pháp thay thế cho nghĩa vụ khấu trừ thu nhập, dành cho người phạm tội được Hội đồng xét xử tuyên thực hiện nghĩa vụ khấu trừ thu nhập hằng tháng nhưng không còn khả năng bảo đảm. Đây là cách hiểu thông thường và phổ biến nhất khi nhắc đến biện pháp lao động phục vụ cộng đồng trong phạm vi hình phạt cải tạo không giam giữ. Người phạm tội để thực hiện công việc lao động phải được quy định thuộc diện chịu khấu trừ thu nhập. Khi này, việc có thực hiện lao động phục vụ hay không sẽ phụ thuộc vào khả năng khấu trừ thu nhập của người bị kết án. Do vậy, có thể hiểu rằng, yêu cầu tiên quyết để người phạm tội được xem xét áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng là phải thuộc diện chịu khấu trừ thu nhập hằng tháng theo như bản án hoặc quyết định của Hội đồng xét xử đã tuyên, và đến một thời điểm nhất định trong thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, họ không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ này, dẫn đến hiệu quả thực hiện bản án hoặc quyết định của Toà án không được bảo đảm.

Nhóm tác giả nhận định rằng, để làm rõ hơn về quy định này, cần cụ thể hoá định nghĩa của “thu nhập” để xác định người phạm tội ở tình thế nào sẽ được coi là không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ khấu trừ thu nhập. BLHS năm 2015 không hướng dẫn trực tiếp về tình trạng này, mà thông qua khoản 4 Điều 36 có thể hiểu được rằng, người bị phạt cải tạo không giam giữ không thể thực hiện nghĩa vụ khấu trừ thu nhập là người phạm tội không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong quá trình chấp hành án phạt. Tuy nhiên, đây là một cách hiểu chưa đầy đủ và bao quát hết những trường hợp có thể xảy ra trên thực tế, bởi nhìn chung, thu nhập được định nghĩa là “nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động nào đó”[3]. Thu nhập không chỉ giới hạn ở tiền lương đến từ việc làm, mà còn đến từ: tiền công, lợi nhuận kinh doanh, tài sản được thừa kế, tặng cho, khoản tiền đến từ việc cho thuê tài sản, đầu tư, v.v. Đặt trường hợp tuy người phạm tội được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác minh thuộc diện không có việc làm hoặc bị mất việc làm theo khoản 4 Điều 36 BLHS năm 2015, nhưng họ vẫn có thu nhập đến từ các nguồn nêu trên và có nhu cầu sử dụng tài sản đó vào hoạt động khấu trừ thu nhập, thì liệu rằng bản án, quyết định của Toà có được thực hiện một cách hợp lý khi thực tế họ vẫn có tài sản và thu nhập để tiếp tục hoàn thành nghĩa vụ khấu trừ thu nhập. Khi này, việc có hay không có việc làm không gây ảnh hưởng đến việc thi hành bản án, quyết định của Toà án. Phải chăng rằng, BLHS hiện hành đang gián tiếp “áp đặt” nguồn thu nhập ở đây bắt buộc phải đến từ việc làm?

Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy rằng, cách hiểu này tuy có độ phổ biến cao và phù hợp với thực tiễn, đảm bảo hiệu quả thực hiện bản án, quyết định khi đưa ra biện pháp thay thế dành cho người phạm tội không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ khấu trừ thu nhập hằng tháng, nhưng thực tế, các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam còn mang tính khái quát cao, cần có sự định hướng cụ thể và kĩ lưỡng hơn khi áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng như một biện pháp thay thế cho nghĩa vụ khấu trừ thu nhập hằng tháng đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ.

Cách hiểu thứ hai, biện pháp lao động phục vụ cộng đồng được áp dụng đối với toàn bộ người phạm tội bị kết án cải tạo không giam giữ mà không có việc làm hoặc bị mất việc làm, bất kể người đó có phải thực hiện nghĩa vụ khấu trừ thu nhập hằng tháng hay không. Không giống với cách hiểu thứ nhất, đối tượng mà cách hiểu này hướng đến bao gồm cả những người phạm tội được Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng nghĩa vụ khấu trừ thu nhập hằng tháng. Thực hiện lao động phục vụ cộng đồng trong trường hợp này sẽ không phụ thuộc vào khả năng khấu trừ thu nhập hằng tháng của người phạm tội, mà căn cứ chính để áp dụng biện pháp này đó là tình trạng không có hoặc bị mất việc làm của người phạm tội trong thời gian chấp hành án.

Điều này có thể mang đến rủi ro một người có thể phải chịu hai nghĩa vụ cùng một lúc. Như đã chứng minh tại phần trên, vấn đề không có việc làm hoặc bị mất việc làm không đồng nghĩa với việc người phạm tội không còn thu nhập để bị khấu trừ. Tuy nhiên, đối chiếu với quy định của pháp luật, chỉ tính riêng việc người phạm tội mất đi hoặc không có việc làm hoàn toàn đủ căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xem xét áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng. Đương nhiên, người phạm tội sẽ không có quyền lựa chọn bản thân mình áp dụng nghĩa vụ nào mà phải thực hiện cả hai và pháp luật cũng không có quy định về việc cơ quan có thẩm quyền đưa ra văn bản quyết định việc miễn thực hiện nghĩa vụ nào trong cả hai nghĩa vụ.

Cách hiểu này chỉ phù hợp đối với: (i) nhóm đối tượng chỉ có nguồn thu nhập từ việc làm và việc mất đi hoặc không có việc làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện nghĩa vụ khấu trừ thu nhập hằng tháng; (ii) nhóm đối tượng được Hội đồng xét xử tuyên không bị áp dụng nghĩa vụ khấu trừ thu nhập hằng tháng được ghi trong bản án, quyết định, bởi lao động phục vụ cộng đồng là nghĩa vụ duy nhất mà họ cần thực hiện nhằm đảm bảo hiệu quả thi hành bản án, quyết định. Nó sẽ không phù hợp với đối tượng có các nguồn thu nhập khác nhau, trong đó, thu nhập từ việc làm chỉ chiếm một phần trong tổng số nguồn thu của người phạm tội, do nhóm đối tượng này hoàn toàn đủ khả năng tiếp tục thực thi nghĩa vụ khấu trừ thu nhập hằng tháng và vẫn đảm bảo kết quả thi hành án, khi này, việc áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng như đang gánh lên vai họ một nghĩa vụ thứ hai và yêu cầu họ phải hoàn thành trong thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.

3. Về mặt thực tiễn

Trên phương diện lập pháp, biện pháp lao động phục vụ cộng đồng xét trong phạm vi hình phạt cải tạo không giam giữ là một bước tiến quan trọng và đem lại những kết quả tích cực nhất định. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một khoảng cách đáng kể giữa quy định trên giấy tờ và việc thực thi trong đời sống khi biện pháp này chưa được áp dụng một cách triệt để. Dễ dàng để nhận thấy rằng, nguyên nhân chủ yếu và quan trọng nhất chứng minh cho sự thiếu sót về yếu tố thực tiễn của việc áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ phần lớn bắt nguồn từ những lỗ hổng pháp lý khi các nhà làm luật chưa dự liệu và bao quát hết các trường hợp có thể phát sinh trong quá trình triển khai áp dụng pháp luật. Về vấn đề khung pháp lý hiện hành không tạo ra căn cứ vững chắc để người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với người phạm tội đã được phân tích chi tiết tại các mục nêu trên. Hơn nữa, lao động phục vụ cộng đồng là một quy định hoàn toàn mới mẻ đối với pháp luật hình sự Việt Nam, có “tuổi đời” chỉ vỏn vẹn 10 năm kể từ ngày BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành, vì vậy, nước ta chưa từng có tiền lệ áp dụng biện pháp này trước đó. Điều này vô tình tạo ra tâm lý ái ngại và lúng túng đối với người có thẩm quyền áp dụng, bởi lẽ, còn quá nhiều trở ngại trong các quy định của pháp luật hiện hành, việc áp dụng mà thiếu các căn cứ pháp lý gây ra nhiều hậu quả khôn lường, ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị kết án và cả trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Trên thực tế, rất khó để tìm được các văn bản quyết định buộc người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thực hiện biện pháp lao động phục vụ cộng đồng, hoặc những số liệu, thống kê liên quan đến việc áp dụng biện pháp này. Từ đó, các mục tiêu về giáo dục, cải tạo và tái hoà nhập cộng đồng được nhà làm luật gửi gắm vào trong điều luật khó có thể được truyền tải đến với xã hội nói chung và các đối tượng cần thiết nói riêng.

4. Kết luận

Biện pháp lao động phục vụ cộng đồng trong hình phạt cải tạo không giam giữ là một bước tiến quan trọng trong chính sách hình sự Việt Nam trong tiến trình cải cách tư pháp theo hướng giảm hình phạt tù và mở rộng các hình phạt không giam giữ, xu hướng nhân đạo hóa và hội nhập với pháp luật quốc tế. Hướng đi này mang đến những khía cạnh tích cực cho nền tư pháp hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế , chủ yếu các vấn đề đều xoay quanh sự thiếu sót trong các quy định của pháp luật về lao động phục vụ cộng đồng dẫn đến khó khăn trong việc vận dụng vào thực tiễn, đòi hỏi cần phải sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật để lao động phục vụ cộng đồng trở thành công cụ hữu hiệu trong hệ thống các hình phạt không giam giữ.

 

KHỔNG PHƯƠNG LINH - ĐỖ THẾ ANH (Trường Đại học Luật Hà Nội)

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 86/2025/QH15.

2. Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 85/2025/QH15.

3. Bộ luật Lao động năm 2019.

4. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

5. Nghị định số 61/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp.

6. Các quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về những biện pháp không giam giữ (Các Quy tắc Tokyo), 1990 (được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua bằng Nghị quyết 45/110 ngày 14/12/1990).

7. Hồ Ngọc Thảo, Bàn về việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, Tạp chí dân chủ và pháp luật số 08 năm 2010.

8. Ths Đinh Công Thành, Về việc áp dụng biện pháp buộc lao động phục vụ cộng đồng đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ, https://tapchitoaan.vn/ve-viec-ap-dung-bien-phap-buoc-lao-dong-phuc-vu-cong-dong-doi-voi-nguoi-bi-ket-an-cai-tao-khong-giam-giu.

9. Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, 2003.


[1] Hồ Ngọc Thảo, Bàn về việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 08 năm 2010, tr.41-43.

[2] Khoản 1 Điều 9 Bộ luật Lao động năm 2019.

[3] Hoàng Phê, Từ điển tiếng việt, Nxb. Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, 2003, tr.958.

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.