Khơi dậy khát vọng phát triển, tạo khí thế mới cho cả dân tộc
(TCTA) - Quyết tâm thực hiện thắng lợi Kế hoạch 5 năm 2026-2030, ngày 02/4/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số" (Kết luận Trung ương).
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thảo luận, cho ý kiến và cơ bản tán thành nội dung các Kế hoạch 5 năm giai đoạn 2026- 2030 về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay, trả nợ công và đầu tư công trung hạn do Đảng ủy Chính phủ trình. Đây không chỉ là một bước chuẩn bị quan trọng cho việc thể chế hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, mà còn là sự xác lập rõ hơn tư duy phát triển, tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng trước yêu cầu đưa đất nước bước vào giai đoạn tăng tốc, bứt phá mạnh mẽ.
Điểm nổi bật nhất của Kết luận Trung ương là tinh thần hành động quyết liệt, khát vọng phát triển lớn và mục tiêu rất rõ ràng: phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt từ 10%/năm trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, cải thiện toàn diện đời sống Nhân dân, tạo nền tảng vững chắc để đến năm 2030 nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Nhìn lại giai đoạn 2021 - 2025: Vượt khó để tạo thế và lực mới
Kết luận của Trung ương nêu rõ, giai đoạn 2021-2025 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó lường, với nhiều yếu tố rủi ro, thách thức đan xen. Những biến động địa chính trị, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ, biến động thị trường tài chính - tiền tệ, sức ép lạm phát, đứt gãy chuỗi cung ứng, thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu đã tạo nên áp lực lớn đối với nhiều nền kinh tế, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự đồng hành, giám sát của Quốc hội, sự chỉ đạo điều hành quyết đoán, linh hoạt, kịp thời của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cùng sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân cả nước, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, khá toàn diện, có tính đột phá và để lại nhiều dấu ấn nổi bật.
Trong 5 năm qua, Việt Nam đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu, trong đó hoàn thành toàn bộ các chỉ tiêu xã hội. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm. Tăng trưởng kinh tế phục hồi mạnh mẽ, bình quân 5 năm đạt 6,2%/năm; riêng năm 2025 đạt 8,02%, cho thấy sức bật đáng kể của nền kinh tế. GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, đưa Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Lạm phát, bội chi ngân sách nhà nước và nợ công được kiểm soát trong giới hạn an toàn, qua đó góp phần củng cố an ninh, an toàn tài chính quốc gia.
Cùng với đó, việc thực hiện 3 đột phá chiến lược tiếp tục có nhiều kết quả rõ nét. Hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư theo hướng đồng bộ, hiện đại hơn; nhiều công trình giao thông lớn, các tuyến cao tốc, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, các dự án hạ tầng năng lượng được đẩy nhanh tiến độ. Công tác quản lý và sử dụng vốn đầu tư công có bước chuyển theo hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm hơn. Nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có những bước phát triển tích cực. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội được quan tâm, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân tiếp tục được nâng lên. Quốc phòng, an ninh được củng cố, đối ngoại và hội nhập quốc tế được mở rộng, vị thế đất nước tiếp tục được nâng cao.
Đặc biệt, vào cuối nhiệm kỳ, nhiều quyết sách chiến lược mang tính bước ngoặt đã được ban hành và tổ chức thực hiện, tạo thêm thế và lực mới cho phát triển. Cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy đạt nhiều kết quả đột phá; xây dựng pháp luật có nhiều đổi mới theo hướng tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế; các nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị được triển khai quyết liệt, tạo khí thế mới trong toàn hệ thống chính trị.
Tuy nhiên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (Trung ương) cũng thẳng thắn chỉ ra rằng, bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, vẫn còn không ít hạn chế, khó khăn cần sớm khắc phục. Nền tảng kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc; năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức chống chịu và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn chưa cao. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa đóng góp tương xứng cho tăng trưởng. Cơ chế, chính sách trong nhiều lĩnh vực vẫn còn bất cập, chậm được tháo gỡ. Chưa có cơ chế đủ mạnh để thu hút và phát huy hiệu quả hơn nữa nguồn lực từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài. Đầu tư công ở một số nơi còn dàn trải, công tác chuẩn bị dự án hạn chế, hiệu quả kinh tế - xã hội tổng thể chưa được lượng hóa đầy đủ. Đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn; ô nhiễm môi trường, ngập lụt ở các đô thị lớn chưa được kiểm soát hiệu quả; tổ chức thực thi ở một số nơi còn lúng túng.
Những hạn chế đó, theo Trung ương, xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó, nguyên nhân chủ quan đáng chú ý là ở một số nơi, một số thời điểm vẫn còn tình trạng thiếu chủ động, thiếu quyết liệt, năng lực dự báo và phản ứng chính sách còn hạn chế; một bộ phận cán bộ chưa thực sự dám nghĩ, dám làm, còn đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các địa phương chưa thật chặt chẽ và hiệu quả.
Giai đoạn 2026 - 2030: Mở ra chặng đường phát triển tăng tốc
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn giai đoạn 2021-2025 và dự báo bối cảnh những năm tới, Ban Chấp hành Trung ương khẳng định giai đoạn 2026-2030 sẽ tiếp tục chứng kiến những biến động nhanh, mạnh và khó lường của tình hình thế giới. Những thách thức từ cạnh tranh chiến lược, chuyển dịch chuỗi cung ứng, biến động thị trường tài chính, xu hướng bảo hộ thương mại, già hóa dân số, biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống và cuộc cạnh tranh về khoa học - công nghệ sẽ đặt ra yêu cầu mới đối với tư duy phát triển và năng lực quản trị quốc gia.
Trong bối cảnh đó, Kết luận của Trung ương thể hiện rõ tinh thần không thụ động, không cầu an, càng không bằng lòng với tốc độ phát triển trung bình. Trung ương thống nhất quan điểm phải phát triển nhanh nhưng bền vững; phải kiên định mục tiêu tăng trưởng cao gắn với ổn định kinh tế vĩ mô; phải xây dựng đồng bộ thể chế phát triển hiện đại; phải khơi thông, huy động, giải phóng mạnh mẽ mọi nguồn lực; phải phát triển lực lượng sản xuất mới; phải đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nâng cao năng lực thực thi, tăng cường giám sát, kiểm tra và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Mục tiêu lớn nhất được xác lập là phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong cả giai đoạn 2026 - 2030. Đây là mục tiêu rất cao, thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ, đồng thời cũng phản ánh yêu cầu khách quan của sự phát triển trong giai đoạn mới. Nếu không tăng trưởng nhanh hơn, hiệu quả hơn, chất lượng hơn thì sẽ khó tạo ra bước chuyển thực sự trong năng lực cạnh tranh quốc gia, trong quy mô nền kinh tế, trong khả năng nâng cao thu nhập và đời sống Nhân dân, cũng như trong việc hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Thống nhất tư duy, đổi mới quản trị thực thi
Một trong những điểm nhấn rất đáng chú ý của Kết luận Trung ương là yêu cầu phải thống nhất mạnh mẽ về tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động trong toàn hệ thống chính trị đối với mục tiêu tăng trưởng “2 con số”. Đây không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế, mà trước hết là một mệnh lệnh phát triển, một yêu cầu chính trị và một thước đo năng lực tổ chức thực hiện.
Trung ương nhấn mạnh, các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ, đảng viên phải nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và tính cấp bách của nhiệm vụ này; phải cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hằng năm, thành sản phẩm, kết quả cụ thể của từng ngành, từng cơ quan, từng địa phương; gắn chặt với trách nhiệm người đứng đầu; lấy hiệu quả thực hiện làm căn cứ kiểm tra, giám sát, đánh giá.
Tinh thần chỉ đạo ấy cho thấy trọng tâm của giai đoạn tới không chỉ nằm ở việc ban hành đúng chủ trương, mà còn ở việc tổ chức thực hiện sao cho thực chất, quyết liệt, hiệu quả. Nói cách khác, phát triển nhanh không thể chỉ dựa vào mong muốn, mà phải được bảo đảm bằng một nền quản trị quốc gia hiện đại hơn, kỷ luật hơn, rõ trách nhiệm hơn và hướng mạnh vào kết quả.
Đột phá từ thể chế: Pháp luật chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi vào cuộc sống
Nếu coi tăng trưởng là mục tiêu, thì thể chế chính là một trong những chìa khóa quan trọng nhất để mở đường cho tăng trưởng. Kết luận của Trung ương tiếp tục xác định yêu cầu phải tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh để tạo đột phá.
Điểm đáng chú ý là Trung ương không chỉ đặt ra yêu cầu sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn nhấn mạnh việc nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật và đổi mới tư duy đánh giá pháp luật. Theo đó, phải xây dựng tiêu chí đánh giá văn bản pháp luật sau khi ban hành, bảo đảm chuyển tư duy từ “tốt trong văn bản” sang “tốt trong cuộc sống”. Đây là cách tiếp cận rất thực tiễn, rất sát với yêu cầu phát triển, bởi pháp luật chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi vào cuộc sống, tháo gỡ được khó khăn cho sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy các nguồn lực vận động hiệu quả.
Các lĩnh vực được yêu cầu rà soát, sửa đổi, hoàn thiện tập trung vào những khu vực còn nhiều điểm nghẽn như đất đai, quy hoạch, thương mại, khoáng sản, xây dựng, đầu tư, kinh tế số. Đồng thời, Trung ương đặt mục tiêu rất rõ về môi trường đầu tư: phấn đấu đến năm 2028, môi trường đầu tư của Việt Nam nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới. Đây vừa là mục tiêu, vừa là áp lực cải cách, đòi hỏi tinh thần hành động nhanh hơn, quyết liệt hơn và thực chất hơn ở tất cả các cấp.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển lực lượng sản xuất mới
Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống dần bộc lộ giới hạn, Trung ương xác định phải chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Đây là bước đi có ý nghĩa chiến lược, bởi tăng trưởng cao trong dài hạn không thể chỉ dựa vào mở rộng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên hay lao động giá rẻ, mà phải dựa trên năng suất, công nghệ, tri thức và khả năng sáng tạo.
Kết luận nêu rõ yêu cầu tiếp tục cơ cấu lại các ngành kinh tế, thúc đẩy mạnh mẽ các ngành công nghiệp nền tảng như năng lượng, cơ khí chế tạo, luyện kim, đường sắt, đóng tàu, vật liệu mới, hóa chất, công nghệ số, công nghệ sinh học, công nghiệp phụ trợ. Nông nghiệp được định hướng phát triển theo hướng hiệu quả, bền vững, giá trị gia tăng cao, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Dịch vụ được định hướng hiện đại hóa hệ sinh thái, phát triển các ngành, sản phẩm có hàm lượng tri thức, công nghệ và giá trị gia tăng cao.
Đáng chú ý, Trung ương dành dung lượng lớn để nói về phát triển các mô hình kinh tế mới, kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu, cũng như yêu cầu đổi mới mạnh mẽ chính sách đối với các thành phần kinh tế. Kinh tế nhà nước tiếp tục được cơ cấu lại, tập trung nâng cao quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế, phát huy vai trò dẫn dắt ở một số lĩnh vực then chốt. Kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng cần được tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ, minh bạch, bình đẳng và an toàn hơn. Chính sách thu hút FDI cũng được yêu cầu đổi mới theo hướng có chọn lọc, chuyển trọng tâm từ ưu đãi thuế sang ưu đãi theo kết quả, chú trọng chuyển giao công nghệ và liên kết với khu vực trong nước.
Giữ vững ổn định vĩ mô, mở rộng các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế
Tăng trưởng cao nhưng không đánh đổi ổn định là quan điểm xuyên suốt trong Kết luận. Trung ương nhấn mạnh phải phối hợp chặt chẽ, linh hoạt, hiệu quả giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác để vừa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng “2 con số”, vừa kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiên quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống.
Một nội dung rất quan trọng là định hướng phát triển thị trường vốn trong nước thành kênh huy động vốn dài hạn, giảm phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Trung ương yêu cầu triển khai các giải pháp nâng hạng thị trường chứng khoán, phát huy hiệu quả của trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, phát triển các nhà đầu tư tổ chức, thị trường tín chỉ carbon và các sản phẩm tài chính hiện đại theo thông lệ quốc tế.
Cùng với đó là yêu cầu hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, đẩy mạnh xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, sở hữu chéo, nâng cao chất lượng tín dụng và tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, kinh tế tập thể. Đây là những điều kiện quan trọng để tạo dòng chảy vốn lành mạnh, hiệu quả cho nền kinh tế trong chặng đường tăng tốc sắp tới.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự là đột phá
Kết luận của Trung ương dành sự nhấn mạnh đặc biệt cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Không dừng lại ở những định hướng chung, Trung ương yêu cầu phải khẩn trương tháo gỡ dứt điểm các nút thắt về thể chế, tài chính, đầu tư và cơ chế quản lý trong lĩnh vực này; phải gắn hoạt động khoa học, công nghệ với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro có kiểm soát; phải ưu tiên làm chủ công nghệ nền tảng, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ số.
Điểm mới rất đáng chú ý là định hướng quản lý, thúc đẩy phát triển tài sản số, tiền kỹ thuật số một cách lành mạnh và hiệu quả; đồng thời phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo trong toàn xã hội. Điều đó cho thấy tư duy chính sách đang được mở rộng theo hướng bắt nhịp nhanh hơn với xu thế phát triển của kinh tế số và công nghệ toàn cầu.
Phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và bảo đảm công bằng xã hội
Điểm nổi bật trong tư duy phát triển mà Trung ương xác lập là không tuyệt đối hóa tăng trưởng kinh tế theo nghĩa hẹp. Tăng trưởng phải đi liền với nâng cao chất lượng sống, phát triển con người, tiến bộ và công bằng xã hội. Vì vậy, bên cạnh các nhiệm vụ về kinh tế, Kết luận cũng dành nội dung quan trọng cho văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội.
Về văn hóa, Trung ương yêu cầu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát triển công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa, kinh tế sáng tạo, kinh tế thể thao, kinh tế di sản; thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền, tầng lớp Nhân dân.
Về giáo dục, trọng tâm là hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực cho các ngành kỹ thuật, công nghệ, các dự án trọng điểm quốc gia. Việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, đưa kỹ năng số và trí tuệ nhân tạo vào hệ thống giáo dục quốc dân từ sớm là định hướng thể hiện tầm nhìn dài hạn trong chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai.
Về xã hội và y tế, Trung ương nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống an sinh đa tầng, hiện đại, thích ứng linh hoạt; chăm lo tốt hơn cho người có công, người yếu thế; phát triển nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá rẻ; tổ chức lại hệ thống y tế cơ sở, y tế dự phòng, xây dựng một số cơ sở khám chữa bệnh ngang tầm khu vực và quốc tế. Những định hướng đó cho thấy mục tiêu tăng trưởng “2 con số” cuối cùng phải quy tụ ở việc nâng cao đời sống Nhân dân một cách toàn diện, thực chất và bền vững.
Hạ tầng đồng bộ, hiện đại là nền móng vật chất cho tăng trưởng dài hạn
Muốn tăng trưởng cao và bền vững, không thể thiếu hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Kết luận Trung ương xác định rõ các trụ cột hạ tầng then chốt trong giai đoạn tới gồm giao thông, năng lượng, hạ tầng số, hạ tầng đô thị, hạ tầng văn hóa - xã hội và hạ tầng liên kết vùng.
Mục tiêu đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc là một chỉ dấu quan trọng cho thấy quyết tâm phát triển mạng lưới giao thông hiện đại. Bên cạnh đó là các dự án cảng biển, cảng hàng không lớn, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị, hệ thống thủy lợi đa mục tiêu, hạ tầng phòng chống thiên tai, trung tâm dữ liệu lớn, nền tảng số quốc gia…
Đặc biệt, Trung ương yêu cầu hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đặc khu kinh tế thế hệ mới, đẩy mạnh liên kết vùng và tổ chức lại không gian phát triển phù hợp với hệ thống hành chính mới. Điều này cho thấy hạ tầng không chỉ được nhìn như công trình vật chất, mà còn là công cụ tái cấu trúc không gian kinh tế và tạo động lực phát triển dài hạn.
Tài chính quốc gia, nợ công và đầu tư công: Kỷ luật chặt chẽ, phân bổ hiệu quả
Trong lĩnh vực tài chính quốc gia, Kết luận đặt ra yêu cầu quản lý, điều hành ngân sách nhà nước hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, nâng cao chất lượng nguồn thu, mở rộng cơ sở thu và tăng tính bền vững của nền tài chính quốc gia. Trung ương nhấn mạnh phải triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, đặc biệt là chi hội nghị, hội thảo, đi công tác; tận dụng tối đa công năng của trụ sở hiện có, hạn chế tối đa việc xây dựng trụ sở, trung tâm hành chính mới, tránh lãng phí nguồn lực.
Đối với nợ công, yêu cầu xuyên suốt là quản lý chặt chẽ, chủ động, an toàn, bền vững; nâng cao minh bạch trong huy động, sử dụng và báo cáo nợ công; điều hành linh hoạt công cụ, kỳ hạn và thời điểm vay để giảm chi phí, giảm áp lực cho ngân sách, bảo đảm an toàn thị trường trái phiếu Chính phủ.
Về đầu tư công trung hạn, định hướng lớn là tập trung, không dàn trải, ưu tiên cho các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia, các dự án liên vùng, liên tỉnh, liên xã, có tác động lan tỏa lớn. Trung ương yêu cầu giảm tối thiểu 30% số lượng dự án so với giai đoạn 2021 - 2025, dành dự phòng chung 10%, hoàn thiện hướng dẫn hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội làm cơ sở phân bổ vốn, qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư công.
Biến quyết tâm chính trị thành kết quả cụ thể
Một kết luận dù đúng, trúng, sâu sắc đến đâu cũng chỉ thật sự có giá trị khi được tổ chức thực hiện hiệu quả. Chính vì vậy, phần cuối của Kết luận Trung ương đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm tổ chức thực hiện. Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội được giao hoàn chỉnh các báo cáo, dự thảo kế hoạch để trình Quốc hội xem xét, quyết định. Các ban đảng Trung ương, bí thư tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy bộ, ngành, địa phương phải trực tiếp chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương có nhiệm vụ tham mưu quán triệt, tuyên truyền sâu rộng; Đảng ủy Chính phủ phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, đôn đốc, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Yêu cầu này cho thấy Trung ương không chỉ đặt ra mục tiêu lớn, mà còn xác lập rõ cơ chế tổ chức, giám sát và trách nhiệm chính trị trong triển khai. Đây là một tín hiệu rất rõ về tinh thần hành động trong nhiệm kỳ mới: nói đi đôi với làm, giao nhiệm vụ đi đôi với kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả.
Khơi dậy khát vọng phát triển, tạo khí thế mới cho cả dân tộc
Có thể thấy, Kết luận Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay, trả nợ công và đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 không chỉ là văn kiện định hướng phát triển, mà còn là một thông điệp chính trị mạnh mẽ về khát vọng vươn lên của đất nước trong chặng đường mới.
Tinh thần xuyên suốt của Kết luận là nhìn thẳng vào thực tiễn, đánh giá đúng thời cơ và thách thức, không né tránh những hạn chế, yếu kém, đồng thời khẳng định ý chí quyết tâm rất cao của toàn Đảng trong việc đưa đất nước tăng tốc phát triển. Mục tiêu tăng trưởng “2 con số” không phải là khẩu hiệu đơn thuần, mà là yêu cầu chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực, hiện đại hóa hạ tầng, phát triển khoa học - công nghệ, chăm lo đời sống Nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia.
Bước vào giai đoạn 2026-2030, trước mắt đất nước sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức, song với nền tảng đã được bồi đắp trong nhiệm kỳ vừa qua, với những quyết sách chiến lược đã được xác lập, với niềm tin, ý chí và khát vọng phát triển mạnh mẽ, có cơ sở để tin tưởng rằng Việt Nam sẽ tạo ra được những bước chuyển mới, thực chất hơn, mạnh mẽ hơn, bền vững hơn.
Điều quan trọng nhất lúc này là phải biến tinh thần của Kết luận thành hành động cụ thể trong từng cấp, từng ngành, từng địa phương; biến quyết tâm chính trị thành hiệu quả thực tiễn; biến khát vọng phát triển thành thành quả phát triển. Khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cùng đồng lòng, khi thể chế được khơi thông, nguồn lực được giải phóng, bộ máy được vận hành hiệu quả, chắc chắn mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và tăng trưởng ở mức cao sẽ không chỉ là kỳ vọng, mà sẽ trở thành hiện thực trên con đường đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh:TTXVN
Bài liên quan
-
Tòa án nhân dân tối cao tổ chức Hội nghị thông báo nhanh kết quả Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
-
Hải Phòng củng cố khối đoàn kết, tạo nền tảng thực hiện mục tiêu tăng trưởng 13%
-
Thủ tướng Phạm Minh Chính: Thanh Hóa có đủ điều kiện trở thành cực tăng trưởng mới
-
Super Sinh Lời Premier – động lực tăng trưởng mới của VPBank
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
12 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Tạo đột phá cho giai đoạn phát triển 2026-2030
-
Hệ thống Tòa án của Canada
-
Tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Bình luận Án lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty
-
Việc giảm thuế giá trị gia tăng chỉ là một trong nhiều biện pháp và chỉ có tác dụng trong ngắn hạn
Bình luận