Kiến nghị cần quy định mức chi chế độ thanh toán bồi dưỡng phiên họp, phiên tòa và hướng dẫn chi phí liên quan xem xét thẩm định tại chỗ cho Thẩm phán, Thư ký
Ngày 11/12/2024, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Chi phí tố tụng số 05/2024/UBTVQH15 quy định về một số chi phí tố tụng (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh số 05); tạm ứng chi phí tố tụng; trách nhiệm chi trả, nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng; kinh phí chi trả chi phí tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân.
Việc xác định chi phí, tạm ứng chi phí, trách nhiệm chi trả, nghĩa vụ chịu chi phí, kinh phí chi trả chi phí trong quá trình Tòa án nhân dân xem xét, quyết định đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh này[1].
Từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, ngày Pháp lệnh số 05 có hiệu lực, các mức chi thù lao có thành phần tham gia phiên tòa như Hội thẩm nhân dân, Luật sư chỉ định, người làm chứng, người phiên dịch được nâng lên so với quy định trước đây[2], như đối với Hội thẩm nhân dân từ mức chi hưởng chế độ bồi dưỡng 90.000 đồng/người/ngày thì hiện nay thành 900.000 đồng/người/ngày; đối với chi phí thù lao cho người được mời tham gia thẩm định tại chỗ đã được quy định mức chi cụ thể mức 200.000 đồng, ngoài ra có còn có khoản chi: Chi phí đi lại; Chi phí thuê phòng nghỉ; Phụ cấp lưu trú; Chi phí sử dụng dịch vụ; Chi phí khác.
Thế nhưng, đối với Thẩm phán, Thư ký tham gia phiên họp, phiên tòa thì so với quy định hiện hành và thực tiễn chi mức bồi dường phiên họp, phiên tòa thiếu cân bằng so với trước đây và tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ có cách hiểu khác nhau về việc có chi khoản chi phí gì cho Thẩm phán, Thư ký tham gia tiến hành thẩm định tại chỗ hay không? Chi phí chi cho Thẩm phán, Thư ký tham gia tiến hành thẩm định tại chỗ thuộc nguồn kinh phí Nhà nước hay do đương sự có nghĩa vụ phải chịu.
1. Về chi bồi thưỡng phiên họp, phiên tòa
Theo danh mục chi phí tố tụng ban hành kèm theo Pháp lệnh số 05 thì phụ cấp xét xử đối với Hội thẩm mức chi 900.000 đồng/người/ngày; Chi phí thù lao tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc, vụ án mức chi là 200.000 đồng/người/ngày theo Điều 69 Pháp lệnh 05 được cho là Chi phí tham gia phiên tòa, phiên họp cho người định giá tài sản, đại diện tổ chức thực hiện giám định, cá nhân thực hiện giám định, người phiên dịch, người dịch thuật, người khác tham gia phiên tòa. Theo đó, Pháp lệnh số 05 không quy định mức chi khi tiến hành phiên họp và phiên tòa đối với Thẩm phán, Thư ký cụ thể như thế nào? Do vậy, căn cứ vào Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ bồi dưỡng đối với Thẩm phán; Thư ký Tòa án; tại Điều 2 quy định. Chế độ bồi dưỡng
1. Đối tượng quy định tại Điều 1 Quyết định này hưởng chế độ bồi dưỡng tính theo ngày thực tế tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết việc dân sự như sau:
a) Mức 90.000 đồng đối với Thẩm phán chủ tọa;
b) Mức 50.000 đồng đối với Thẩm phán, Kiểm sát viên;
c) Mức 35.000 đồng đối với Thư ký Tòa án, ...;
Thực tế chi bồi dưỡng hiện nay, đối với vụ án xét xử về thủ tục thanh toán trước ngày 01/7/2025, Thư ký lập bảng kê chi bồi dưỡng cho các thành viên Hội đồng xét xử (Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân), Thư ký phiên tòa, một vụ án có thể xét xử buổi sáng, chiều tuyên án, tính một ngày, mỗi thành viên Hội đồng xét xử, mỗi người 90.000 đồng cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, vụ án xét xử đơn giản hơn có thể xét xử, nghị án và tuyên án, tính một buổi =1/2 ngày, mỗi người 45.000 đồng/người cho các thành viên Hội đồng xét xử; đối với Thư ký phiên tòa mức chế độ bồi dưỡng một ngày 35.000.000 đồng, 1/2 ngày mức chế độ bồi dưỡng là 17.500 đồng. Kể từ ngày 01/7/2025, Phụ cấp xét xử đối với Hội thẩm mức chi 900.000 đồng/người/ngày, nhưng đối với Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Thư ký phiên tòa không có quy định gì mới thì vẫn phải chi đúng theo Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 của Thủ tướng Chính, phiên tòa diễn ra thanh toán theo thời gian thực tế: 01 ngày 8 giờ làm việc, Hội thẩm nhân dân tham gia đủ 8 giờ một ngày, được thanh toán là 900.000 đồng, khi đó Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là 90.000 đồng, Thư ký phiên tòa là 35.000 đồng. Trường hợp, phiên tòa diễn ra từ khi khai mạc đến tuyên án khoảng 02 giờ thì Hội thẩm nhân dân: 112.500 đồng/1 giờ x 2 giờ = 225.000 đồng, trong khi đó: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa 22.500 đồng, Thư ký phiên tòa: 8.600 đồng, Thư ký không có động lực để làm thủ tục thanh toán.
Vấn đề đặt ra là, mức chi phụ cấp xét xử đối với Hội thẩm thay đổi[3] mà Thẩm phán, Thư ký không thay đổi, nhưng chính sách chế độ tiền lương của Thẩm phán, Thư ký so với trước đây cũng không thay đổi? Tác giả cho rằng, chi phụ cấp chi Phụ cấp xét xử đối với Hội thẩm thay đổi mà Thẩm phán Thư ký không thay đổi là bất hợp lý, xét từ góc độ cùng là thành viên Hội đồng xét xử, có quyền ngang nhau khi tham gia biểu quyết tất cả các vấn đề vụ án, thậm chí Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là người điều khiển cả quá trình từ khi khai mạc đến khi kết thúc phiên tòa, trực tiếp soạn thảo án văn, về chế độ tiền lương đa phần các Hội thẩm nhân dân cũng là người được Hội đồng nhân dân bầu là người được trả lương từ ngân sách Nhà nước, chỉ một số ít Hội thẩm đã nghỉ hưu cũng vẫn hưởng mức lương hưu đảm bảo. Đối với Thư ký phiên tòa giúp việc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chuẩn bị trước khi khai mạc phiên tòa, ghi lại toàn bộ diễn biến phiên tòa,... nhưng mức chi đối với Thẩm phán chủ tọa phiên tòa so với Hội thẩm chênh lệch 10 lần là quá cao, phải chấp nhận hưởng mức bồi dưỡng phiên tòa được quy định từ trên 10 năm trước, mức chi bồi dưỡng Thư ký phiên tòa thấp hơn mức chi một đại biểu dự hội nghị 50.000 đồng/nửa ngày[4].
2. Về chi phí thẩm định tại chỗ
Điều 14 Pháp lệnh số 05 quy định về xác định chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ như sau:
“Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ bao gồm một hoặc một số chi phí sau đây:
1. Chi phí cho người được mời tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ bao gồm:
a) Chi phí thù lao được quy định tại Danh mục một số chi phí tố tụng ban hành kèm theo Pháp lệnh này;
b) Chi phí đi lại;
c) Chi phí thuê phòng nghỉ;
d) Phụ cấp lưu trú;
2. Chi phí sử dụng dịch vụ;
3. Chi phí khác.”.
Theo quy định trên, thực tiễn nhận thức có cách hiểu khác nhau, quan điểm thứ nhất cho rằng, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ chỉ chi trả cho người được mời tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ, đối với Thẩm phán, Thư ký khi tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thì không được chi trả chi phí gì, trường hợp này, Thẩm phán, Thư ký được xem đi công tác được thanh công tác phí từ Ngân sách Nhà nước. Quan điểm thứ hai lại cho rằng, Thẩm phán, Thư ký không được thanh toán cho phí thù lao, nhưng vẫn được thanh toán chi phí đi lại, chi phí thuê phòng nghỉ, phụ cấp lưu trú là khoản tiền chi trả cho người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, người được mời tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về nội dung chi và mức chi về chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị đối với cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Chi phí khác là chi phí liên quan và phục vụ trực tiếp cho hoạt động tố tụng, phù hợp với tính chất, nội dung của vụ việc, vụ án, được xác định theo thực tế phát sinh trên cơ sở hợp đồng (nếu có), hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật[5].
Tác giả đồng tình quan điểm thứ hai, bởi theo quy định tạo Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự thẩm định tại chỗ là việc của Thẩm phán được phân công giải quyết án, Thư ký đi cùng ghi biên bản kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường[6] và chi phí này do người yêu cầu, nguyên đơn, người có nghĩa vụ phải chịu theo quy định tại các Điều 156, Điều 157 và Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên không thể lấy kinh phí từ Ngân sách Nhà nước để chi cho hoạt động xem xét thẩm định tại chỗ cho Thẩm phán, Thư ký.
3. Kiến nghị
Thứ nhất, đối với chi bồi dưỡng phiên họp, phiên tòa, theo Kết luận số 83-KL/TW ngày 21/6/2024 của Bộ Chính trị thì việc thực hiện cải cách tiền lương khu vực công đang tiếp tục được thực hiện theo lộ trình, từng bước, hợp lý, thận trọng. Trong khi chờ đợi cải cách tiền lương, kiến nghị Chính phủ trên cơ sở ý kiến thống nhất của Ủy ban Tài chính và Ngân sách, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan có liên quan, Ủy ban Tư pháp Quốc hội đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành quy định nâng mức bồi dưỡng phiên tòa, phiên họp cho Thẩm phán, Thư ký cho hợp lý sớm thay thế Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ bồi dưỡng đối với Thẩm phán; Thư ký Tòa án, cụ thể đối với Thẩm phán chủ tòa phiên tòa, thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử nâng lên ở mức bằng Phụ cấp xét xử đối với Hội thẩm, trường hợp không thể bằng thì cũng không nên có sự chênh lệch gấp 10 lần như hiện nay. Đối với Thư ký phiên tòa nâng lên 01 ngày 100.000 đồng. Việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội quan tâm kịp thời là nguồn động viên vật chất, tinh thần to lớn cho đội ngủ Thẩm phán, Thư ký, cán bộ Tòa án nói chung tạo động lực hăng hái thi đua trong hành trình bảo vệ công lý và pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao, Chính phủ sớm có hướng dẫn thống nhất cách hiểu về việc Thẩm phán, Thư ký có được hưởng chi phí liên quan đến hoạt động thẩm định tại chỗ, theo nhận thức tác giả là Thẩm phán, Thư ký khi tiến hành thẩm định tại chỗ được chi trả chi phí đi lại, chi phí thuê phòng nghỉ, phụ cấp lưu trú là khoản tiền chi trả và chi phí khác là chi phí liên quan và phục vụ trực tiếp cho hoạt động tố tụng, phù hợp với tính chất, nội dung của vụ việc, vụ án, được xác định theo thực tế phát sinh trên cơ sở hợp đồng (nếu có), hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật và đương sự có nghĩa vụ phải khoản cho phí này.
Bài viết của tác giả xuất phát từ nhận thức và áp dụng quy định pháp luật nhận thấy có bất cập, rất mong nhận được ý kiến góp ý từ thực hiện địa phương bạn đọc công tác trong hệ thống Tòa án về nhận thức và thực tiễn chi chế độ thanh toán bồi dưỡng phiên họp, phiên tòa và hướng dẫn chi phí liên quan xem xét thẩm định tại chỗ cho Thẩm phán, Thư ký để thống nhất nhận thức.
[1] Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh Chi phí tố tụng số: 05/2024/UBTVQH15 quy định về một số chi phí tố tụng.
[2] Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ bồi dưỡng đối với Thẩm phán; Hội thẩm; Kiểm sát viên; Thư ký Tòa án; cán bộ, chiến sỹ công an, cảnh vệ bảo vệ phiên tòa, công an dẫn giải bị can, bị cáo và dẫn giải người làm chứng; người giám định, người phiên dịch được Tòa án mời; người làm chứng được Tòa án triệu tập khi tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết việc dân sự.
[3] Thực hiện Kết luận của UBTVQH, Thường trực UBTP đã phối hợp với TANDTC và các cơ quan hữu quan rà soát, nghiên cứu kỹ lưỡng về Danh mục chi phí tố tụng. Riêng về phụ cấp xét xử của Hội thẩm, theo Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng đối với người tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết việc dân sự thì từ năm 2012 đến nay, Hội thẩm được hưởng chế độ bồi dưỡng là 90.000 đồng/ngày. Trong khi đó, theo Thông tư liên tịch số 191/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 12/12/2014 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp thì mức thù lao chi trả cho 01 ngày làm việc của luật sư chỉ định là 0,4 lần mức lương cơ sở; theo đó, mức chi phí thù lao cho Luật sư chỉ định từ 01/7/2024 là 936.000 đồng/ngày (0.4 x 2.340.000 đồng), cao hơn 10 lần mức chi cho Hội thẩm.
"Trên cơ sở rà soát quy định của pháp luật, đánh giá đầy đủ ý nghĩa, trách nhiệm và công sức của Hội thẩm khi tham gia xét xử, bảo đảm phù hợp với thực tiễn và tương quan với một số chủ thể khác khi tham gia hoạt động tố tụng, Thường trực UBTP nhận thấy mức chi 900.000 đồng/ngày cho Hội thẩm như đề nghị của TANDTC là phù hợp" - Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga nêu quan điểm, https://tapchitoaan.vn/thong-qua-phap-lenh-chi-phi-to-tung-tang-phu-cap-cho-hoi-tham-len-900.000-dongngay12601.html.
[4] Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28 tháng 4 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị (sau đây gọi tắt là Thông tư số 40/2017/TT-BTC) như sau:
...
7. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 ... Điều 12 như sau:
“3. Chi giải khát giữa giờ: 50.000 đồng/một buổi (nửa ngày)/đại biểu.
[5] Điều 2 Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 ngày 11/12/2024.
[6] 1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, đặc khu hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó.
2. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản. Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, đặc khu hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định. Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, đặc khu hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận.
3. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ.
4. Thẩm phán có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an xã, đặc khu nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định tại chỗ hỗ trợ trong trường hợp có hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ.
Hội đồng xét xử tại Tòa án nhân dân Quận 11, TP HCM - Ảnh: Đỗ Hoàng Hảo.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Đồng chí Nguyễn Hải Trâm giữ chức Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao
-
Đắk Lắk: Thông báo các điểm lắp đặt camera xử phạt vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh
-
Tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Chủ tịch nước trao quyết định bổ nhiệm Phó Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao
-
Tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” được xác định rõ tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Bình luận