Một số vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật khi áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, bài viết phân tích một số bất cập trong quy định của pháp luật để chỉ ra khoảng trống pháp lý trong áp dụng quy định về án treo đối với người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam. Từ đó, nhóm tác giả đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất và khả thi về vấn đề này trong thời gian tiếp theo.

Pháp luật hình sự Việt Nam không loại trừ việc áp dụng án treo đối với người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, áp dụng và thi hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn khi áp dụng các điều kiện cho hưởng án treo như: việc xác định nơi cư trú rõ ràng, cơ chế giám sát trong thời gian thử thách và bảo đảm thi hành án. Điều này dẫn đến một số trường hợp, Tòa án lựa chọn hình phạt tù thay vì án treo, mặc dù người phạm tội có thể đáp ứng tương đối các điều kiện theo quy định của pháp luật để được hưởng án treo.

1. Quy định của pháp luật về án treo

Theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa  đổi, bổ sung năm 2017) (BLHS), khi xử phạt tù không quá 03 năm, nếu xét thấy không cần thiết phải buộc người phạm tội chấp hành hình phạt tù thì Tòa án có thể cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Việc áp dụng án treo được hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP và việc quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo được thực hiện theo Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Theo đó, một trong những điều kiện để cho hưởng án treo là người được hưởng án treo phải có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để bảo đảm việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về bản chất, án treo không phải là hình phạt mà là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước, tạo điều kiện cho người phạm tội tự cải tạo tại cộng đồng dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền.

 Tuy nhiên, các quy định hiện hành chủ yếu được xây dựng trên cơ sở người được hưởng án treo là công dân Việt Nam, có nơi cư trú ổn định tại Việt Nam. Vì vậy, khi áp dụng đối với người nước ngoài vẫn còn phát sinh một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, trong đó, việc áp dụng điều kiện về nơi cư trú dẫn đến quy định về áp dụng án treo đối với người phạm tội là người nước ngoài dường như chưa được thực thi nhiều.

2. Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với người phạm tội là người nước ngoài

2.1. Chưa thống nhất trong việc xác định nơi cư trú rõ ràng của người nước ngoài tại Việt Nam

Điều 65 BLHS và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP quy định điều kiện hưởng án treo là quy định áp dụng chung cho người phạm tội, không phân biệt quốc tịch. Tuy nhiên, đối với người nước ngoài, các yếu tố như nơi cư trú, khả năng giám sát và điều kiện bảo đảm thi hành án mang tính đặc thù nhưng chưa được cụ thể hóa thành tiêu chí pháp lý riêng, gắn với đặc thù của chủ thể là người phạm tội.

Một trong những điều kiện quan trọng khi xem xét cho hưởng án treo là người bị kết án phải có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để bảo đảm việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Tuy nhiên, đối với người nước ngoài việc áp dụng những quy định chung về xác định điều kiện có “Nơi cư trú ổn định” hiện đang gặp khó khăn, vướng mắc.

Cụ thể, khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP quy định:

“Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.

Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.”.

Như vậy, nơi cư trú rõ ràng phải là nơi tạm trú haowcj thường chú có địa chỉ cụ thể mà người phạm tội sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo. Thực tiễn, khi xác định điều kiện này, một số Tòa án chấp nhận cho hưởng án treo khi bị cáo có thẻ tạm trú, hợp đồng lao động hoặc nơi ở hợp pháp; trong khi một số trường hợp khác lại từ chối do không bảo đảm tính ổn định cư trú để phục vụ công tác giám sát, giáo dục.

Mặt khác, tại khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP chỉ quy định người được hưởng án treo phải có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để bảo đảm việc giám sát, giáo dục sau khi được hưởng án treo, nhưng chưa có hướng dẫn riêng đối với trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam theo visa hoặc thẻ tạm trú có thời hạn. Nhiều trường hợp, tại thời điểm xét xử, người nước ngoài đang có thẻ tạm trú hợp lệ, có địa chỉ cư trú rõ ràng và sinh sống ổn định tại Việt Nam nên được xem là đáp ứng điều kiện hưởng án treo. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, khoảng 4 đến 5 tháng sau khi bản án có hiệu lực, thẻ tạm trú hết hạn hoặc người đó xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trong trường hợp này, pháp luật hiện chưa có cơ chế xử lý rõ ràng đối với việc tiếp tục giám sát, giáo dục người được hưởng án treo. Khoảng trống pháp lý này làm phát sinh khó khăn trong thi hành án và dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án. Đối với nơi cư trú của người nước ngoài tại nước ngoài, hiện nay một số nước chưa có sự tương trợ tư pháp nên không thể làm cơ sở xác định họ đang có nơi cư trú ổn định.

2.2. Khó khăn trong việc giám sát người được hưởng án treo là người nước ngoài

Theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019, người được hưởng án treo phải chịu sự giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc trong suốt thời gian thử thách. Tuy nhiên, đối với người nước ngoài, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, họ có thể xuất cảnh hoặc không còn cư trú hợp pháp tại Việt Nam do hết thời hạn thị thực hoặc thẻ tạm trú. Khi đó, cơ quan được giao giám sát, giáo dục không còn điều kiện theo dõi việc chấp hành các nghĩa vụ của người được hưởng án treo, làm cho việc thi hành án trên thực tế gặp nhiều khó khăn.

Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành chưa quy định rõ người nước ngoài đang chấp hành án treo có thuộc trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh hay không. Do đó, nếu cho phép xuất cảnh thì mục đích giám sát, giáo dục của án treo khó được bảo đảm; ngược lại, nếu hạn chế quyền xuất cảnh thì cũng thiếu căn cứ pháp lý cụ thể. Đây là khoảng trống pháp lý cần được nghiên cứu, hoàn thiện nhằm bảo đảm hiệu quả thi hành án treo đối với người phạm tội là người nước ngoài.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những phân tích nêu trên có thể thấy rằng, pháp luật hiện hành đã có quy định tương đối đầy đủ về điều kiện áp dụng án treo. Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu được xây dựng trên cơ sở áp dụng đối với công dân Việt Nam có nơi cư trú ổn định trong nước, trong khi đối với người nước ngoài đang cư trú và làm việc tại Việt Nam thì vẫn còn tồn tại một số khoảng trống pháp lý. Để bảo đảm việc áp dụng án treo đối với người nước ngoài được thực hiện thống nhất và khả thi trong thực tiễn, tác giả kiến nghị một số nội dung hoàn thiện pháp luật theo như sau:

Thứ nhất, cần bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể mang tính chất đặc thù đối với việc áp dụng án treo đối với người nước ngoài trong Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. Trong đó, cần làm rõ cách xác định điều kiện, tiêu chí áp dụng án treo đặc thù cho người nước ngoài. Tác giả đề xuất, nọi dung hướng dẫn cần bổ sung tiêu chí cụ thể “nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định” đối với người nước ngoài đang cư trú hợp pháp tại Việt Nam, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án khi xem xét cho bị cáo là người nước ngoài được hưởng án treo.

Theo đó, có thể xem xét xác định người nước ngoài có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định khi đáp ứng các tiêu chí cơ bản sau: có tình trạng cư trú hợp pháp tại Việt Nam thông qua visa, thẻ tạm trú hoặc thẻ thường trú còn hiệu lực; có địa chỉ cư trú cụ thể, rõ ràng và đã thực hiện đăng ký cư trú theo quy định; có thời hạn cư trú hợp pháp còn lại đủ để bảo đảm việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; có nơi làm việc ổn định hoặc có căn cứ chứng minh khả năng cư trú lâu dài tại Việt Nam và có cam kết chấp hành đầy đủ nghĩa vụ trong thời gian thử thách, bao gồm nghĩa vụ thông báo khi thay đổi nơi cư trú hoặc khi xuất cảnh. Việc bổ sung các tiêu chí nêu trên sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho Tòa án khi xem xét áp dụng án treo đối với bị cáo là người nước ngoài, đồng thời góp phần bảo đảm tính thống nhất và khả thi trong thực tiễn xét xử và thi hành án.

Thứ hai, cần thiết lập cơ chế phối hợp giữa cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trong việc quản lý, giám sát người nước ngoài được hưởng án treo theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2019

Theo đó, Cơ quan thi hành án hình sự chủ trì theo dõi việc chấp hành án; cơ quan quản lý xuất nhập cảnh cập nhật thông tin về tình trạng cư trú, xuất cảnh, nhập cảnh; còn cơ quan được giao giám sát, giáo dục trực tiếp quản lý người chấp hành án trong thời gian thử thách. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế gia hạn thời hạn cư trú đối với người nước ngoài đang chấp hành án treo nhằm bảo đảm việc giám sát, giáo dục được thực hiện liên tục. Trường hợp người chấp hành án treo thực hiện tốt các nghĩa vụ trong thời gian thử thách thì có thể xem xét gia hạn cư trú theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể về việc xử lý trường hợp người nước ngoài được hưởng án treo nhưng xuất cảnh khỏi Việt Nam trong thời gian thử thách, nhằm bảo đảm tính khả thi trong thi hành án và tránh phát sinh vướng mắc trong thực tiễn.

Như vậy, có thể thấy pháp luật hiện hành không loại trừ việc áp dụng án treo đối với người nước ngoài nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều vướng mắc, đặc biệt trong việc xác định điều kiện cư trú, kiểm soát xuất nhập cảnh và bảo đảm cơ chế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Kết luận

Trên đây là một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam. Việc nghiên cứu, bổ sung các quy định cần được đặt trong tổng thể yêu cầu bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất, đúng đắn và khả thi. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả xét xử, bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan, đồng thời đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự.

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG - NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH - BÙI THỊ MINH TRANG (TAND khu vực 1 - Khánh Hòa)

Danh mục tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP).

3. Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.