Một số ý kiến góp ý đối với dự thảo Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phục hồi, phá sản

Luật Phục hồi, phá sản được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 11 tháng 12 năm 2025. Luật gồm 08 chương, 88 điều. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2026. Để bảo đảm việc áp dụng hiệu lực, hiệu quả các quy định của Luật Phục hồi, phá sản, Tòa án nhân dân tối cao ban hành dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phục hồi, phá sản (dự thảo 1) .

1. Đặt vấn đề

Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 là văn bản luật có nhiều nội dung mới, được sửa đổi, bổ sung so với Luật Phá sản số 51/2014/QH13, trong đó, nội dung về phục hồi được dánh giá là bước tiến quan trọng, phản án tư duy lập pháp Việt Nam, tiệm cận hơn với thông lệ quốc tế về phá sản hiện đại.

Thủ tục phục hồi được quy định từ Điều 24 đến Điều 37 của Luật, gồm: Điều kiện được xem xét áp dụng thủ tục phục hồi; Hồ sơ yêu cầu mở thủ tục phục hồi; Tiếp nhận hồ sơ và thụ lý yêu cầu phục hồi; Xác định thời điểm mất khả năng thanh toán; Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong thủ tục phục hồi; Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ trong thủ tục phục hồi; Quyền và nghĩa vụ của người tiến hành thủ tục phục hồi; Các biện pháp bảo đảm và giám sát trong thủ tục phục hồi; Phương án phục hồi hoạt động kinh doanh; Xem xét, phê duyệt phương án phục hồi; Triển khai thực hiện phương án phục hồi; Tạm đình chỉ thủ tục phục hồi; Kết thúc thủ tục phục hồi. Thủ tục phục hồi được coi là “linh hồn” của luật, đóng vai trò là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Chính vì vậy, các hệ thống pháp luật tiên tiến đều coi phục hồi doanh nghiệp là ưu tiên, còn phá sản, thanh lý chỉ là giải pháp cuối cùng khi mọi nỗ lực cứu vãn đã thất bại.[1]

Để bảo đảm các quy định về phục hồi trong Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đi vào cuộc sống, phát huy hiệu lực, hiệu quả trong thực tiễn, dự thảo 1 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phục hồi, phá sản đã có những nội dung quy định cụ thể, chi tiết. Bài viết này, tác giả tập trung phân tích, đóng góp ý kiến về áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn nêu trong dự thảo, từ đó góp phần hoàn thiện nội dung hướng dẫn về vấn đề này, bảo đảm việc áp dụng pháp luật được thống nhất và hiệu quả.

2. Về đối tượng áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn

Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi là hợp tác xã); nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành thủ tục phục hồi, phá sản; quyền, nghĩa vụ của người tham gia thủ tục phục hồi, phá sản.[2] Như vậy, chủ thể áp dụng chính là doanh nghiệp, hợp tác xã.

Khoản 2 Điều 68 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 quy định về áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn như sau:

“2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, Thẩm phán phải xem xét, quyết định áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn khi doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Doanh nghiệp, hợp tác xã có từ 20 chủ nợ không có bảo đảm trở xuống và có tổng các khoản nợ gốc phải thanh toán từ 10 tỷ đồng trở xuống;

b) Doanh nghiệp, hợp tác xã nhỏ, siêu nhỏ;

c) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”.

Tuy nhiên, tại điểm b khoản 1 Điều về áp dụng thủ thục phục hồi phá sản trong dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phục hồi, phá sản lại chỉ ghi nhận:

“…  b) Doanh nghiệp nhỏ hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu;”

Như vậy, nội dung dự thảo là đang thiếu hẳn quy định đối với chủ thể là Hợp tác xã. Do đó, cần bổ sung quy định về chủ thể này để bảo đảm đầy đủ, chính xác.

Hiện nay, việc xác định quy mô hợp tác xã được Nghị định 113/2024/NĐ-CP Ngày 12/9/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã 2023 ghi nhận khá cụ thể. Do đó, tác giả kiến nghị, cần sớm bổ sung quy định về xác định hợp tác xã nhỏ, siêu nhỏ trong dự thảo 1 căn cứ vào nội dung ghi nhận tại Nghị định 113/2024/NĐ-CP để bảo đảm tính chính xác và đầy đủ.

3. Về chủ thể có thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn

Tại khoản 2 Điều 68 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 quy định: “Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, Thẩm phán phải xem xét, quyết định áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn khi doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc một trong các trường hợp sau đây:…”

Tại khoản 1 Điều về áp dụng thủ thục phục hồi phá sản trong dự thảo 1 ghi nhận: “Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc có trách nhiệm xem xét hồ sơ, tài liệu và ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn khi doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc một trong các trường hợp sau đây:…”

Như vậy, việc áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn được hiểu là do một Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ra quyết định.

Ghi nhận này thống nhất với quy định về áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử các vụ án dân sự, theo đó, việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành (Điều 65 Bộ luật Dân sự năm 2025).

Tuy nhiên, so sánh quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 có sự khác nhau về nội dung này như sau:

Tại Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về về thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện tại khoản 2, 3 Điều 91 như sau:

“2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;…”.

Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cụ thể việc xem xét đơn khởi kiện được phân công cho một Thẩm phán thực hiện; sau khi xem xét đơn khởi kiện thì Thẩm phán này có một trong các quyết định quy định tại khoản 3, trong đó có quyết định tiến hành thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hay rút gọn.

Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 25 Luật Phục hồi, phá sản quy định về xử lý, thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi lại ghi nhận như sau:

“Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán hoặc tổ Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi. …”.

Như vậy, ngay từ khi nhận được đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi thì Luật quy định việc phân công giải quyết có thể giao cho một Thẩm phán hoặc một tổ Thẩm phán tiến hành. Điều này có thể gây ra vướng mắc khi xem xét quyết định áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn do ghi nhận về chủ thể có quyền ra quyết định chưa thống nhất. Theo đó, nếu trường hợp Chán án Tòa án phân công một tổ Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi thì lại có vướng mắc với quy định về chủ thể quyết định áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn là Thẩm phán tiến hành.

Đây là nội dung nếu không được hướng dẫn một cách cụ thể sẽ gây khó khăn và lúng túng trong thực tiễn áp dụng.

Để khắc phục vướng mắc này, bảo đảm áp dụng thống nhất trong thực tiễn, tác giả kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần nghiên cứu, bổ sung nội dung hướng dẫn quy định về chủ thể một cách cụ thể. Theo đó, có thể xem xét hướng dẫn quy trình xem xét, đánh giá của tổ Thẩm phán đối với đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi tại Điều 25 Luật Phục hồi, phá sản, sau đó, chuyển giao cho một Thẩm phán giải quyết. Điều này bảo đảm tính liền mạch, thống nhất với quy định về chủ thể có quyền quyết định áp dụng thủ tục phục hồi rút gọn là một Thẩm phán trong Luật Phục hồi, phá sản và trong dự thảo 1.

Kết luận

Việc ban hành dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 là cần thiết, và hết sức quan trọng. Do vậy, cần phải rà soát, đánh giá một cách tổng thể để hướng dẫn chi tiết, rõ ràng các nội dung của Luật, nhằm bảo đảm việc hiểu và áp dụng thống nhất trong thực tiễn.

 

 

PHẠM THỊ QUỲNH NGA (TANDTC)

Ảnh: nguồn Internet