Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho người nghèo và người cận nghèo ở Việt Nam

Giáo dục pháp luật cho người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo là một nội dung quan trọng trong chính sách bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tiếp cận công lý và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững ở Việt Nam. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của giáo dục pháp luật cho người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo; đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật đối với nhóm đối tượng này. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật theo hướng lấy nhu cầu và khả năng tiếp cận pháp lý thực tế của người dân làm trung tâm; đa dạng hóa phương thức truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là thông qua ứng dụng công nghệ số; tăng cường sự kết hợp giữa phổ biến, giáo dục pháp luật với trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật và hòa giải ở cơ sở.

1. Đặt vấn đề

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo đảm quyền con người và quyền công dân là một trong những yêu cầu có ý nghĩa nền tảng. Hiến pháp năm 2013 xác lập nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật và không bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội (Quốc hội, 2013). Những nguyên tắc hiến định này đặt ra yêu cầu Nhà nước không chỉ xây dựng hệ thống pháp luật bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân mà còn phải tạo điều kiện để mọi người có khả năng tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trong thực tế. Tuy nhiên, bình đẳng về mặt pháp lý không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với bình đẳng về khả năng tiếp cận và sử dụng pháp luật. Người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo thường phải đối mặt với nhiều rào cản như hạn chế về thu nhập, trình độ học vấn, điều kiện tiếp cận thông tin, khoảng cách địa lý hoặc chi phí phát sinh khi tiếp cận các dịch vụ pháp lý. Những rào cản này có thể khiến người dân không biết mình có quyền gì, không biết phải thực hiện quyền bằng phương thức nào hoặc không biết tìm kiếm sự hỗ trợ ở đâu khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.

Vấn đề này càng trở nên quan trọng trong bối cảnh Việt Nam thực hiện chính sách giảm nghèo đa chiều. Theo đó, nghèo không chỉ được xem xét dưới góc độ thiếu hụt thu nhập mà còn được đánh giá thông qua khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Vì vậy, giảm nghèo không thể chỉ tập trung vào việc tăng thu nhập mà còn phải giải quyết những thiếu hụt về năng lực tiếp cận các nguồn lực xã hội, trong đó có thông tin và pháp luật.

Trong bối cảnh đó, giáo dục pháp luật có vai trò quan trọng trong việc giúp người nghèo và người cận nghèo nhận biết quyền, nghĩa vụ của mình và có khả năng sử dụng các cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Giáo dục pháp luật, nếu được thực hiện hiệu quả, không chỉ góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật mà còn có thể trở thành công cụ hỗ trợ người dân tiếp cận chính sách an sinh xã hội, giải quyết tranh chấp và tiếp cận công lý.

Đáng chú ý, Quốc hội đã thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 12/2026/QH16 ngày 23 tháng 8 năm 2026. Luật mới xác định người thuộc hộ nghèo và người thuộc hộ cận nghèo là nhóm đối tượng đặc thù của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và đặt ra yêu cầu ưu tiên nguồn lực tương xứng đối với các nhóm này. Quy định mới có hiệu lực từ ngày 01 tháng 3 năm 2027 và tạo ra bước phát triển đáng chú ý trong chính sách pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam.

Từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu giáo dục pháp luật cho người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Nghiên cứu vấn đề này không chỉ góp phần làm rõ vai trò của giáo dục pháp luật trong bảo đảm quyền con người mà còn giúp xác định những giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận pháp luật và tiếp cận công lý của người nghèo, người cận nghèo trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.

2. Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về giáo dục pháp luật cho người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo

2.1. Cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật cho người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo

Giáo dục pháp luật có thể được hiểu là quá trình có mục đích, có tổ chức và có phương pháp nhằm cung cấp cho cá nhân và các nhóm xã hội những kiến thức pháp luật cần thiết, đồng thời hình thành thái độ tôn trọng pháp luật và năng lực vận dụng pháp luật vào đời sống. Giáo dục pháp luật vì vậy không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt nội dung của các quy định pháp luật mà còn hướng tới việc hình thành khả năng nhận thức và hành động phù hợp với pháp luật.

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đã ghi nhận quyền được thông tin về pháp luật của công dân và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm, tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền này. Luật cũng yêu cầu hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật phải chính xác, đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, thiết thực và phù hợp với nhu cầu, đặc điểm của từng đối tượng.

Đối với người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo, yêu cầu về tính thiết thực và phù hợp của giáo dục pháp luật càng có ý nghĩa quan trọng. Nội dung pháp luật cần gắn với những vấn đề mà người dân thường xuyên gặp phải trong cuộc sống như đất đai, nhà ở, lao động, hôn nhân và gia đình, thừa kế, bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội, vay vốn, giao dịch dân sự và các chính sách giảm nghèo.

Theo Goodwin và Maru (năm 2017), trao quyền pháp lý là cách tiếp cận đặc biệt phù hợp đối với người nghèo và người cận nghèo. Các chương trình trao quyền pháp lý có khả năng tạo ra những tác động tích cực đối với kiến thức pháp luật và năng lực hành động của người dân, đồng thời hỗ trợ họ giải quyết tranh chấp, tiếp cận các biện pháp khắc phục và thúc đẩy những thay đổi về thể chế. Theo cách tiếp cận này, người nghèo không chỉ được nhìn nhận là “đối tượng được tuyên truyền” mà phải được coi là chủ thể có quyền. Giáo dục pháp luật cần giúp họ nhận biết quyền và nghĩa vụ của mình, xác định được cơ quan có thẩm quyền, biết phương thức thực hiện quyền và biết cách tìm kiếm sự hỗ trợ khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.

Như vậy, giáo dục pháp luật theo hướng trao quyền cần tạo ra một quá trình từ nhận biết đến hành động. Người dân trước hết phải biết pháp luật quy định vấn đề gì, sau đó hiểu quyền và nghĩa vụ của mình, biết cách thực hiện quyền, biết nơi có thể tìm kiếm sự hỗ trợ và cuối cùng có khả năng sử dụng các thiết chế pháp lý để bảo vệ quyền của mình. Đây là sự chuyển đổi quan trọng từ mô hình “phổ biến nội dung pháp luật” sang mô hình “nâng cao năng lực pháp lý”. Sự chuyển đổi này đặc biệt cần thiết đối với người nghèo và người cận nghèo bởi họ thường gặp nhiều hạn chế hơn trong việc tự mình tiếp cận các dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp.

2.2. Cơ sở pháp lý về giáo dục pháp luật cho người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo ở Việt Nam

Hiến pháp năm 2013 là cơ sở pháp lý cao nhất cho việc bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân. Điều 14 của Hiến pháp xác định Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Điều 16 khẳng định mọi người bình đẳng trước pháp luật và không bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội.

Từ các nguyên tắc hiến định này có thể thấy rằng bảo đảm bình đẳng trước pháp luật không chỉ đòi hỏi pháp luật phải áp dụng bình đẳng đối với mọi người mà còn đòi hỏi Nhà nước phải tạo điều kiện để các nhóm có vị thế kinh tế và xã hội yếu hơn có khả năng tiếp cận pháp luật trên thực tế. Đối với người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý vì vậy có thể được xem là những cơ chế quan trọng nhằm biến quyền bình đẳng về mặt pháp lý thành khả năng tiếp cận pháp luật thực chất.

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo nền tảng pháp lý cơ bản cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam. Luật quy định quyền được thông tin về pháp luật của công dân và xác định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền này.

Luật cũng quy định nhiều hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác nhau, bao gồm phổ biến pháp luật trực tiếp, tư vấn và hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp tài liệu pháp luật, phổ biến thông qua phương tiện thông tin đại chúng, internet, hoạt động xét xử, tiếp công dân, hòa giải ở cơ sở và trợ giúp pháp lý. Việc quy định đa dạng các hình thức thực hiện tạo cơ sở để lựa chọn phương thức phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Đối với người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Luật yêu cầu hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật phải căn cứ vào đặc điểm của từng đối tượng và gắn với đời sống, sản xuất của người dân. Quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với người nghèo và người cận nghèo bởi một bộ phận đáng kể nhóm đối tượng này sinh sống ở những địa bàn còn nhiều khó khăn trong tiếp cận thông tin và dịch vụ pháp lý.

Tuy nhiên, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chưa xác định trực tiếp người thuộc hộ nghèo và người thuộc hộ cận nghèo là một nhóm đối tượng đặc thù độc lập.

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 12/2026/QH16 đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong chính sách pháp luật về giáo dục pháp luật ở Việt Nam. Theo quy định của Luật, người thuộc hộ nghèo và người thuộc hộ cận nghèo được xác định trực tiếp là nhóm đối tượng đặc thù của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Việc ghi nhận trực tiếp hai nhóm đối tượng này có ý nghĩa quan trọng về mặt chính sách. Trước đây, nhu cầu đặc thù của người nghèo và người cận nghèo chủ yếu được thể hiện thông qua các quy định chung về đối tượng có hoàn cảnh khó khăn hoặc các nhóm dân cư ở địa bàn khó khăn. Luật năm 2026 đã có bước tiếp cận cụ thể hơn khi xác định người nghèo và người cận nghèo là nhóm cần được quan tâm riêng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Luật năm 2026 đặt ra yêu cầu Nhà nước ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các nhóm đối tượng đặc thù. Điều này tạo cơ sở pháp lý để xây dựng các chương trình phổ biến pháp luật có mục tiêu, tập trung nguồn lực vào những nhóm có nguy cơ gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận pháp luật.

Một điểm mới khác của Luật năm 2026 là tăng cường yêu cầu chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ, trong đó có trí tuệ nhân tạo, trong phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây là cơ hội để mở rộng khả năng tiếp cận thông tin pháp luật cho người dân. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ cần được thực hiện đồng thời với các biện pháp bảo đảm tiếp cận cho những người có hạn chế về thiết bị, kết nối internet hoặc kỹ năng số.

Theo Nghị định số 351/2025/NĐ-CP, chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026–2030 được xác định dựa trên thu nhập kết hợp với mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.

Một trong những chiều thiếu hụt quan trọng là thông tin. Điều này có ý nghĩa trực tiếp đối với giáo dục pháp luật bởi khả năng tiếp cận thông tin là điều kiện cần thiết để người dân có thể biết đến các quy định pháp luật, chính sách của Nhà nước và các cơ chế bảo vệ quyền.

Tuy nhiên, khả năng tiếp cận thông tin không chỉ phụ thuộc vào việc có hay không có internet. Một người có điện thoại thông minh nhưng không biết tìm kiếm văn bản pháp luật, không có khả năng phân biệt nguồn thông tin chính thống với thông tin sai lệch hoặc không hiểu ngôn ngữ pháp lý vẫn có thể gặp khó khăn trong việc tiếp cận pháp luật.

Vì vậy, trong bối cảnh nghèo đa chiều, cần quan tâm đến một dạng thiếu hụt khác, đó là thiếu hụt năng lực pháp lý. Người dân có thể thiếu kiến thức về quyền và nghĩa vụ, thiếu kỹ năng thực hiện quyền, thiếu thông tin về cơ quan có thẩm quyền và thiếu khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý.

Từ góc độ này, giáo dục pháp luật cần được xem là một bộ phận của chính sách giảm nghèo đa chiều. Việc nâng cao năng lực pháp lý có thể giúp người nghèo tiếp cận tốt hơn với các chính sách về việc làm, y tế, giáo dục, đất đai, nhà ở, bảo hiểm và trợ cấp xã hội, từ đó góp phần hạn chế nguy cơ tái nghèo.

3. Thực trạng giáo dục pháp luật cho người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo

3.1. Những kết quả đạt được

Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý đã được triển khai trên phạm vi rộng với nhiều hình thức khác nhau. Bên cạnh tư vấn pháp luật, người thuộc diện được trợ giúp pháp lý còn có thể được cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng hoặc thực hiện các hình thức hỗ trợ pháp lý khác theo quy định.

Theo báo cáo số 754/BC-BTP ngày 11/9/2026 của Bộ Tư pháp về tổng kết thi hành Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, tính từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2025, các tổ chức thực hiện TGPL đã thực hiện được 266.821 vụ việc TGPL kết thúc, trong đó, có 168.045 vụ việc tham gia tố tụng, 96.456 vụ việc tư vấn pháp luật, 2.320 vụ việc đại diện ngoài tố tụng. 06 tháng đầu năm 2026, toàn quốc thụ lý được 1.024 vụ việc, trong đó có 1.019 vụ việc tham gia tố tụng (927 vụ việc TGPL trong lĩnh vực hình sự, 78 vụ việc TGPL trong lĩnh vực dân sự, còn lại là lĩnh vực hành chính và lĩnh vực pháp luật khác).

Chất lượng vụ việc TGPL ngày càng được quan tâm, chú trọng. Hầu hết các vụ việc TGPL được đánh giá đạt chất lượng trở lên. Nhiều vụ việc được đánh giá chất lượng tốt, không có vụ việc không đạt chất lượng. Nhiều vụ việc tham gia tố tụng được đánh giá là hiệu quả, thành công: 33.031 vụ việc. Số vụ việc TGPL tăng, đặc biệt là số vụ việc được đánh giá chất lượng và hiệu quả để xác định vụ việc thành công đã minh chứng cho việc các tổ chức TGPL ngày càng lớn mạnh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực nhà nước dành cho công tác TGPL.

Tại nhiều địa phương, hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động đã góp phần đưa dịch vụ pháp lý đến gần người dân hơn, đặc biệt là người dân ở vùng sâu, vùng xa và những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Việc kết hợp giữa trợ giúp pháp lý với phổ biến pháp luật và hòa giải ở cơ sở cũng góp phần giải quyết các vấn đề pháp lý ngay từ cộng đồng.

Bên cạnh đó, sự tham gia của các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, cơ sở đào tạo luật và các tổ chức quốc tế đã góp phần mở rộng hoạt động giáo dục và hỗ trợ pháp lý cho các nhóm dễ bị tổn thương. Những hoạt động này cho thấy giáo dục pháp luật ngày càng được tiếp cận theo hướng đa chủ thể, không chỉ giới hạn trong phạm vi các cơ quan nhà nước.

3.2. Những hạn chế

Mặc dù đạt được nhiều kết quả, công tác giáo dục pháp luật cho người nghèo và người cận nghèo vẫn còn một số hạn chế. Thứ nhất, hoạt động phổ biến pháp luật tại một số nơi vẫn có xu hướng tập trung vào việc truyền đạt thông tin thông qua các hội nghị, lớp tập huấn hoặc hình thức tuyên truyền tập trung. Cách thức này có ưu điểm là có thể tiếp cận nhiều người trong thời gian ngắn nhưng chưa chắc tạo ra sự thay đổi về năng lực pháp lý của người dân. Việc một người “được nghe tuyên truyền pháp luật” không đồng nghĩa với việc người đó có khả năng vận dụng pháp luật khi phát sinh một vụ việc cụ thể.

Thứ hai, nội dung giáo dục pháp luật ở một số trường hợp chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu pháp lý của người dân. Người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo thường quan tâm trực tiếp đến những vấn đề liên quan đến sinh kế, đất đai, việc làm, bảo hiểm, y tế, nhà ở, vay vốn, hôn nhân và gia đình. Nếu nội dung phổ biến pháp luật quá rộng hoặc thiên về giới thiệu văn bản thì khả năng áp dụng vào đời sống sẽ hạn chế.

Thứ ba, chuyển đổi số vừa tạo cơ hội vừa tạo ra thách thức. Việc đưa thông tin pháp luật lên môi trường số có thể giảm đáng kể chi phí phổ biến pháp luật nhưng đồng thời có thể tạo ra khoảng cách giữa những người có khả năng sử dụng công nghệ và những người không có điều kiện hoặc kỹ năng số.

Thứ tư, mối quan hệ giữa giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý chưa phải lúc nào cũng được tổ chức thành một quy trình liên thông. Trong nhiều trường hợp, người dân được cung cấp thông tin chung về pháp luật nhưng khi phát sinh vụ việc cụ thể lại không biết tìm kiếm sự hỗ trợ pháp lý ở đâu.

Thứ năm, phạm vi trợ giúp pháp lý đối với người cận nghèo còn hạn chế so với người nghèo. Đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong quá trình sửa đổi, bổ sung chính sách trợ giúp pháp lý, đặc biệt đối với những trường hợp người cận nghèo có mức độ dễ bị tổn thương cao hoặc phải đối mặt với những vụ việc pháp lý có ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo

Để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, Đảng ta đề ra nhiệm vụ: Tiếp tục đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Xây dựng mạng lưới, nâng cao năng lực của hệ thống dịch vụ pháp lý, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp lý để người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận pháp luật. 

Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý về giáo dục pháp luật đối với người nghèo và người cận nghèo. Việc Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 xác định hai nhóm này là đối tượng đặc thù là một bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, để quy định này có hiệu quả trên thực tế, cần cụ thể hóa thế nào là “ưu tiên nguồn lực tương xứng”, bao gồm nguồn kinh phí, nhân lực, phương thức triển khai và tiêu chí đánh giá kết quả.

Thứ hai, cần xây dựng mạng lưới trợ giúp pháp lý cộng đồng. Mạng lưới này cần có sự liên kết giữa Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, trợ giúp viên pháp lý, luật sư, hòa giải viên ở cơ sở, cán bộ tư pháp - hộ tịch, các tổ chức chính trị - xã hội và các cộng tác viên tại cộng đồng. Khi các chủ thể này phối hợp hiệu quả, nhu cầu pháp lý của người dân có thể được phát hiện và xử lý ngay từ giai đoạn đầu.

Thứ ba, cần tăng cường mô hình giáo dục pháp luật lưu động tại những địa bàn có điều kiện tiếp cận dịch vụ pháp lý thấp. Thay vì chỉ chờ người dân đến cơ quan tư pháp, các cơ quan có thẩm quyền cần chủ động đưa thông tin và dịch vụ pháp lý đến với cộng đồng thông qua các phiên tư vấn lưu động, ngày pháp luật tại thôn, bản và các chương trình kết hợp giữa phổ biến pháp luật với hoạt động an sinh xã hội.

Thứ tư, cần phát triển các sản phẩm giáo dục pháp luật dễ hiểu và phù hợp với đặc điểm của người dân. Các nội dung pháp luật có thể được chuyển thành video ngắn, infographic, câu hỏi - đáp, tình huống thực tế hoặc các tài liệu hướng dẫn từng bước. Đối với những địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số, cần nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ phù hợp để nâng cao khả năng tiếp nhận.

Thứ năm, cần tăng cường vai trò của các cơ sở đào tạo luật trong giáo dục pháp luật cho cộng đồng. Các trường đại học luật có thể phát triển mô hình phòng tư vấn pháp luật, legal clinic và các chương trình sinh viên tình nguyện nhằm hỗ trợ người nghèo, người cận nghèo và các nhóm yếu thế. Đây cũng là phương thức kết hợp giữa đào tạo thực hành nghề luật với trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục đại học.

Thứ sáu, cần tiếp tục nghiên cứu việc mở rộng phạm vi trợ giúp pháp lý đối với một số nhóm thuộc hộ cận nghèo có nguy cơ bị tổn thương cao. Việc mở rộng không nhất thiết phải dựa hoàn toàn vào tiêu chí hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo mà có thể kết hợp giữa điều kiện kinh tế, mức độ dễ bị tổn thương và tính chất của vụ việc pháp lý. Cách tiếp cận này có thể giúp chính sách trợ giúp pháp lý phản ánh chính xác hơn nhu cầu tiếp cận công lý của người dân.

Thứ bảy, đa dạng hóa phương thức truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là thông qua ứng dụng công nghệ số. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cần được tổ chức theo hướng đa kênh, linh hoạt và phù hợp với đặc điểm của từng nhóm đối tượng. Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ số có thể giúp khắc phục một phần những hạn chế về khoảng cách địa lý, thời gian, chi phí và khả năng tiếp cận thông tin pháp luật của người dân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

Các cơ quan nhà nước có thể sử dụng cổng thông tin điện tử, mạng xã hội chính thức, ứng dụng di động, nền tảng video, tin nhắn điện thoại và các kênh truyền thông số khác để cung cấp thông tin pháp luật. Đối với người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo, hình thức truyền tải cần ưu tiên các nội dung ngắn gọn, trực quan, dễ hiểu thông qua sơ đồ quy trình, câu hỏi - đáp pháp luật và các tình huống pháp lý thường gặp.

Cần xây dựng mô hình truyền thông kết hợp giữa trực tuyến và trực tiếp. Các video, tài liệu và nội dung số có thể được sử dụng tại nhà văn hóa thôn, tổ dân phố, trung tâm học tập cộng đồng, điểm sinh hoạt của các tổ chức đoàn thể hoặc các buổi trợ giúp pháp lý lưu động. Như vậy, công nghệ số trở thành phương tiện mở rộng phạm vi truyền thông chứ không tạo thêm một “khoảng cách số” đối với người nghèo.

Cần xây dựng hệ thống truyền thông pháp luật chính thống, thống nhất và có khả năng kiểm chứng; đồng thời thường xuyên cập nhật văn bản mới, thông tin về hiệu lực văn bản và giải thích những thay đổi quan trọng. Đây cũng là cơ sở để hạn chế tình trạng người dân chia sẻ hoặc áp dụng những thông tin pháp luật không còn phù hợp.

Gắn truyền thông số với hệ thống trợ giúp pháp lý. Có thể xây dựng quy trình theo hướng: tiếp nhận thông tin, cung cấp kiến thức pháp luật cơ bản, xác định nhu cầu pháp lý, kết nối với cơ quan có thẩm quyền hoặc tổ chức trợ giúp pháp lý, theo dõi kết quả giải quyết. Điều này sẽ biến truyền thông pháp luật từ hoạt động cung cấp thông tin thành một mắt xích trong hệ thống bảo đảm tiếp cận công lý.

Thứ tám, nâng cao năng lực truyền thông pháp luật cho đội ngũ cán bộ cơ sở. Cán bộ tư pháp - hộ tịch, hòa giải viên ở cơ sở, trợ giúp viên pháp lý, cán bộ các tổ chức chính trị - xã hội và những người trực tiếp làm công tác giảm nghèo cần được đào tạo cả về kiến thức pháp luật và kỹ năng sử dụng công nghệ. Họ có thể trở thành “cầu nối” giúp người dân tìm kiếm thông tin, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, tiếp cận các nền tảng pháp luật và gửi yêu cầu hỗ trợ khi cần thiết.

Cuối cùng, cần đánh giá hiệu quả truyền thông pháp luật dựa trên khả năng tiếp cận và sử dụng pháp luật của người dân, thay vì chỉ dựa vào số lượng buổi tuyên truyền hoặc số lượt người tiếp cận. Các tiêu chí đánh giá cần bao gồm mức độ người dân hiểu nội dung chính sách, khả năng xác định quyền và nghĩa vụ của mình, khả năng tìm kiếm nguồn thông tin chính thống, khả năng thực hiện thủ tục và khả năng tìm kiếm sự hỗ trợ pháp lý khi phát sinh tranh chấp. Đối với người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo, đây mới là những chỉ số phản ánh thực chất hiệu quả của giáo dục pháp luật.

5. Kết luận

Giáo dục pháp luật cho người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo là một yêu cầu quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. Người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo không chỉ gặp khó khăn về thu nhập mà còn có thể phải đối mặt với những hạn chế về thông tin, kiến thức, kỹ năng và khả năng tiếp cận các thiết chế pháp lý. Vì vậy, nâng cao năng lực pháp lý của nhóm đối tượng này cần được xem là một bộ phận của chính sách giảm nghèo đa chiều.

Để đạt được mục tiêu đó, cần đồng thời thực hiện các giải pháp về hoàn thiện pháp luật, bảo đảm nguồn lực, đổi mới nội dung và phương thức giáo dục pháp luật, tăng cường trợ giúp pháp lý, phát triển mạng lưới hỗ trợ pháp lý cộng đồng, ứng dụng chuyển đổi số và xây dựng hệ thống đánh giá dựa trên kết quả thực tế. Giáo dục pháp luật khi đó không chỉ góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật mà còn có thể trở thành công cụ quan trọng để tăng cường khả năng tiếp cận công lý, giảm bất bình đẳng và hỗ trợ người nghèo, người cận nghèo thoát nghèo một cách bền vững.

NGUYỄN THỊ LAN ANH (Vụ Pháp chế, Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Tài liệu tham khảo

  1. Ban Chấp hành Trung ương (năm 2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới.
  2. Bộ Chính trị (năm 2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
  3. Bộ Tư pháp (năm 2025), Luật Trợ giúp pháp lý: Văn bản hợp nhất số 05/VBHN-BTP ngày 21 tháng 02 năm 2025.
  4. Chính phủ (năm 2021), Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2021 quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025.
  5. Chính phủ (năm 2020), Quyết định số 1521/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2020 ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 80-KL/TW ngày 20 tháng 6 năm 2020 của Ban Bí thư.
  6. Chính phủ (năm 2025), Nghị định số 351/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2025 quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030.
  7. Bộ Tư pháp (năm 2026), Báo cáo số 754/BC-BTP ngày 11/9/2026 của Bộ Tư pháp về tổng kết thi hành Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý
  8. Goodwin, L., & Maru, V. (2017). What do we know about legal empowerment? Mapping the evidence. Hague Journal on the Rule of Law, 9, 157–194. https://doi.org/10.1007/s40803-016-0047-5
  9. Quốc hội (năm 2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
  10. Quốc hội (năm 2012), Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2012.
  11. Quốc hội (năm 2017), Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017.
  12. Quốc hội (năm 2026), Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 12/2026/QH16 ngày 23 tháng 8 năm 2026.

Trợ giúp pháp lý cho đồng bào vùng cao tại tỉnh Sơn La. Nguồn ảnh: Internet.