Nguyễn Văn H phạm tội cưỡng đoạt tài sản

Sau khi nghiên cứu bài viết “Nguyễn Văn H có phạm tội cướp tài sản không?” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy đăng ngày 14/5/2026 trên Tạp chí TAND điện tử, chúng tôi nhất trí với quan điểm Nguyễn Văn H phạm tội cưỡng đoạt tài sản theo quy tại điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ nhất, H phạm tội “cưỡng đoạt tài sản”. Bởi các lý do sau:

- Về khách thể: Hành vi của Nguyễn Văn H xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của Trần Văn Q được pháp luật hình sự bảo vệ. Trong đó đối tượng tác động mà tội phạm hướng tới là tài sản (chiếc xe máy).

- Về mặt khách quan: H có hành vi đe dọa dùng vũ lực (uy hiếp tinh thần bằng lời nói) đối với Q, tức là H sử dụng lời nói “Tao không muốn đánh mày đâu, mày muốn ở đây hay đi về?, “Mày đưa không, hay để anh cướp xe? Anh không muốn cướp xe đâu. Để anh phải dắt bộ xe này thì mày ăn đủ đấy” nhằm mục đích khiến Q sợ hãi và phải giao chìa khóa xe cho mình. Đây là hành vi trong cấu thành cơ bản của tội cưỡng đoạt tài sản.

- Về mặt chủ quan: H thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. H nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả có thể xảy ra nhưng vẫn mong muốn chiếm đoạt bằng được chiếc xe.

- Về chủ thể: Theo tình huống, H có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Vì vậy, hành vi của H cấu thành tội “cưỡng đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.

Thứ hai, phân biệt hành vi trên với tội cướp tài sản, cướp giật tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản

* Đối với tội cướp tài sản: Đây là tội phạm thường xuyên bị nhầm lẫn với tội cưỡng đoạt tài sản bởi cả hai tội cùng mô tả hành vi khách quan “Đe dọa dùng vũ lực”; khác với hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực trong tội cưỡng đoạt tài sản, hành vi đe dọa trong tội cướp tài sản phải thể hiện ở tính tức khắc khiến cho bị hại bị tê liệt về ý chí.

Ở tình huống này, để đánh giá hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc cần căn cứ vào cường độ đe dọa; tương quan lực lượng, hoàn cảnh, thời gian, địa điểm và việc người phạm tội có sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội để tác động đến tâm lý của bị hại hay không. Mặc dù, H đe dọa Q với cường độ liên tục nhưng trong hoàn cảnh tại quán nước ven đường, Q vẫn có thể kháng cự và không giao chiếc xe cho H bằng cách kêu cứu mọi người xung quanh nên trường hơp này H không phạm tội “cướp tài sản”.

* Đối với tội cướp giật tài sản: Theo mô tả hành vi khách quan của tội phạm được quy định tại Điều 171 BLHS năm 2015, hành vi cướp giật được người phạm tội thực hiện một cách nhanh chóng; lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc có thể tự mình tạo ra những sơ hở để thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát. Điểm quan trọng ở đây là tính công khai, nhanh chóng của hành vi phạm tội.

Trong tình huống, tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm H lấy được chìa khóa và ngồi trên xe của Q, việc H không lập tức phóng xe đi ngay mà còn quay lại nói “Mày vào gọi thêm cho anh ly trà đá” thể hiện H không có ý định nhanh chóng chiếm đoạt chiếc xe máy bởi trước đó H đã đe dọa để Q giao chiếc xe cho mình nên không thể định tội “cướp giật tài sản” đối với H.

* Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Tội phạm được cấu thành bằng hai hành vi đó là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt, trong đó hành vi gian dối là tiền đề để thực hiện hành vi chiếm đoạt, bị hại tin vào hành vi gian dối đó tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội. Vụ án trên, H không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bởi vì sau khi H có hành vi gian dối thể hiện bằng lời nói “Giờ không có tiền trả nước, mày đưa chìa khóa để anh đi vay tiền” nhưng Q đã biết rõ tính H và nếu đưa xe cho H thì sẽ bị H mang đi bán lấy tiền tiêu sài nên Q không đưa và nói “Anh để em về mượn tiền cho”, lời nói trên thể hiện Q không có ý thức tự nguyện giao chiếc xe máy cho H.

Thứ ba, một số giải pháp nâng cao chất lượng định tội danh nhóm tội xâm phạm sở hữu

Trong thực tiễn giải quyết án các tội xâm phạm sở hữu thường xuyên xuất hiện các trường hợp có diễn biến hành vi phạm tội phức tạp như tình huống nêu trên gây khó khăn trong việc xác định tội danh làm căn cứ để khởi tố, truy tố, xét xử người phạm tội. Để định tội danh đúng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cần thường xuyên tự học tập, trao đổi để nắm chắc các yếu tố cấu thành của từng tội trong nhóm tội xâm phạm sở hữu, sau đó tiến hành đánh giá một cách toàn diện diễn biến của hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc định tội danh được chính xác nhất.

LƯU DUY ĐỨC - PHẠM MINH THẮNG (Tòa án quân sự Quân khu 2)

TAND TP. Hải Dương (cũ) tổ chức phiên tòa xét xử sơ thẩm về tội cướp tài sản - Nguồn: Báo điện tử Dân Việt.