Pháp luật tư pháp người chưa thành niên: Một số hạn chế, bất cập từ thực tiễn xét xử và kiến nghị hoàn thiện
Người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi) là đối tượng đặc thù, chưa phát triển toàn diện về tâm sinh lý, nhận thức và kinh nghiệm sống. Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật hình sự, các em là đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội không nhằm mục đích trừng trị, mà hướng đến mục tiêu giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm và tái hòa nhập cộng đồng. Hiện nay, quy định của pháp luật điều chỉnh đối với đối tượng là người chưa thành niên phạm tội ở nước ta trực tiếp là Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 và một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, được đánh giá là cơ bản đầy đủ. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy vẫn tồn tại một số hạn chế, vướng mắc, đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện.
1. Một số hạn chế, bất cập từ thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án
1.1. Về điều kiện áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng và giám sát, giáo dục tại cộng đồng
Khoản 8 Điều 3 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (Luật TPNCTN) quy định:
“Biện pháp xử lý chuyển hướng là biện pháp giám sát, giáo dục, phòng ngừa áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, bao gồm các biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng quy định từ khoản 1 đến khoản 11 Điều 36 của Luật này và biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại khoản 12 Điều 36 của Luật này.”.
Điều 36 Luật TPNCTN quy định 12 biện pháp chuyển hướng, như: khiển trách, xin lỗi bị hại, giáo dục tại xã, phường, đặc khu,… được kỳ vọng là giải pháp thay thế hiệu quả cho việc áp dụng hình phạt. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, các biện pháp này khi áp dụng vào thực tiễn còn gặp một số hạn chế, vướng mắc như sau:
Thứ nhất, về các trường hợp áp dụng các biện pháp chuyển hướng.
Nghiên cứu các quy định tại Chương III Luật TPNCTN thì thấy, trong các điều luật quy định cụ thể về từng biện pháp chuyển hướng đều có nội dung quy định các trường hợp được áp dụng biện pháp chuyển hướng cụ thể như sau:
Đối với biện pháp khiển trách, khoản 2 Điều 40 Luật TPNCTN quy định:
“2. Khiển trách có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự;
b) Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
Đối với biện pháp xin lỗi bị hại, khoản 2 Điều 41 Luật TPNCTN quy định:
“2. Xin lỗi bị hại có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 của Luật này;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 của Luật này;
c) Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.”….
Như vậy, các điều luật trên đều ghi nhận việc áp dụng biện pháp chuyển hướng cụ thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp được liệt kê cụ thể. Trong đó, cả hai điều luật được viện dẫn nêu trên đều ghi nhận áp dụng đối với trường hợp: “Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.”.
Điều này phát sinh vướng mắc, bất cập là trường hợp nào người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án được áp dụng biện pháp chuyển hướng là khiển trách hay xin lỗi bị hại.
Như vậy, việc đưa ra các tiêu chí định không có sự phân hóa gây khó cho Hội đồng xét xử khi đưa ra quyết định việc áp dụng biện pháp chuyển hướng nào, dẫn đến việc áp dụng phụ thuộc vào góc nhìn chủ quan của từng Thẩm phán.
Đồng thời, pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể cơ chế phối hợp sau xét xử, theo đó, khi Tòa án quyết định áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục tại cộng đồng hoặc miễn hình phạt có điều kiện, việc bàn giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc các tổ chức xã hội thường mang tính hình thức. Các cơ quan này thiếu nhân sự có chuyên môn về tâm lý học tội phạm và công tác xã hội, dẫn đến việc quản lý chủ yếu dừng lại ở mức “theo dõi hồ sơ”, thiếu các chương trình trị liệu tâm lý và định hướng nghề nghiệp thực chất.
1.2. Cơ cấu hình phạt chưa linh hoạt và thiếu tính khả thi
Chế định hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên tại Chương VI Luật TPNCTN vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập, cụ thể:
Điều 115 Luật TPNCTN quy định các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội như sau:
“Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm:
1. Cảnh cáo;
2. Phạt tiền;
3. Cải tạo không giam giữ;
4. Tù có thời hạn.”.
Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định về hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội thì thấy còn tồn tại một số bất cập sau:
Thứ nhất, đối với hình phạt tiền dường như là bất khả thi khi Điều 117 Luật TPNCTN quy định điều kiện áp dụng hình phạt tiền là đối với người chưa thành niên phạm tội, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Tuy nhiên, thực tế xét xử cho thấy, đại đa số đối tượng này vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào tài chính của gia đình. Việc tuyên phạt tiền áp dụng đối với đối tượng này vơi điều kiện nêu trên dường như không khả thi, do đó, mang tính hình thức.
Thứ hai, về cơ cấu hình phạt, Điều 115 Luật TPNCTN quy định 04 hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tôi, tác giả cho rằng, quy định này mang tính giới hạn, bó khung. Do đó, cần được mở rộng việc xây dựng một số hình phạt khác được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội để bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục, nâng cao nhận thức về tội phạm cho người chưa thành niên. việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn.
1.3. Bất cập về thủ tục tố tụng và rào cản từ mô hình kiêm nhiệm
Việc thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên trong hệ thống Tòa án nhân dân là bước đột phá quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em và người dưới 18 tuổi tại Việt Nam. Tòa gia đình và người chưa thành niên được xây dựng nhằm tạo dựng môi trường thân thiện, giúp người dưới 18 tuổi giảm bớt áp lực tâm lý khi phải tham gia vào các hoạt động tố tụng; bảo đảm quyền trẻ em, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với các công ước quốc tế về quyền trẻ em.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, mô hình Tòa gia đình và người chưa thành niên chưa phủ rộng: hiện nay, Tòa Gia đình và người chưa thành niên mới chỉ được thành lập tập trung ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh và một số đô thị lớn. Tại Tòa án nhân dân khu vực, nơi trực tiếp thụ lý hơn 80% các vụ án hình sự vị thành niên, công tác xét xử vẫn do các Thẩm phán hình sự thông thường đảm nhiệm theo chế độ kiêm nhiệm. Nhiều Thẩm phán chưa được đào tạo chuyên sâu về tâm lý học lứa tuổi và kỹ năng giao tiếp tố tụng thân thiện với trẻ em.[1]
Quy định về người đại diện và người bào chữa còn mang tính hình thức: Sự tham gia của người đại diện (cha, mẹ) tại phiên tòa nhiều trường hợp chỉ mang tính chất đủ thủ tục hợp pháp hóa hồ sơ vụ án. Thiếu các quy định ràng buộc trách nhiệm hoặc hỗ trợ pháp lý chuyên sâu để người đại diện thực sự trở thành chỗ dựa tâm lý và bảo vệ quyền lợi cho con em mình trước bục khai báo.
2. Một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật tư pháp người chưa thành niên
Để khắc phục các hạn chế nêu trên, tạo hành lang pháp lý đồng bộ và nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án, tác giả kiến nghị các giải pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, khi tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật TPNCTN cần cần hoàn thiện và bổ sung quy định phân hóa cụ thể về các trường hợp, tiêu chí áp dụng các biện pháp chuyển hướng cụ thể, bảo đảm việc áp dụng đối với từng biện pháp xử lý chuyển hướng có tiêu chí cụ thể, rõ ràng hơn, tránh việc áp dụng mang tính chủ quan. Đồng thời, cần bổ sung các quy định cụ thể về cơ chế phối hợp sau xét xử giữa các cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm việc phối hợp áp dụng pháp luật trong thực tiễn được đồng bộ, thống nhất và hiệu quả cao.
Để thực hiện giải pháp này mang lại hiệu quả, phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật thì các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu, tổng kết thực tiễn thi hành Luật TPNCTN và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trên phạm vi toàn quốc để việc sửa đổi, bổ sung được toàn diện, thống nhất.
Thứ hai, tác giả kiến nghị cần cải cách mạnh mẽ hệ thống chế tài và đa dạng hóa biện pháp thay thế xử lý hình sự, cụ thể:
Nhà làm luật cần nghiên cứu bổ sung vào Luật TPNCTN các hình phạt mang tính xã hội như: Phạt lao động phục vụ cộng đồng (nhặt rác, chăm sóc cây xanh, hỗ trợ người già neo đơn), buộc tham gia khóa học bắt buộc về kỹ năng kiểm soát hành vi hoặc quản thúc tại gia có giám sát điện tử. Đồng thời, hạn chế đến mức tối đa việc áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội.
Bên cạnh đó, nhà làm luật cần nghiên cứu điều chỉnh điều kiện áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội theo hướng phù hợp hơn. Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, việc thực hiện hình phạt tiền chủ yếu do bố, mẹ của người chưa thành niên phạm tội thực hiện thay. Do vậy, tác giả đề xuất, khi sửa đổi, bổ sung điều luật này cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung điều kiện áp dụng như sau:
“Phạt tiền được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng hoặc cha, mẹ người chưa thành niên phạm tội có cam kết dùng tiền của mình để thực hiện thay hình phạt tiền cho con.”.
Việc bổ sung quy định này nhằm bảo đảm tính khả thi cũng như tính nghiêm minh và cá thể hóa trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, cần chuẩn hóa và chuyên nghiệp hóa mô hình Tòa án thân thiện
Để bảo đảm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định pháp luật người chưa thành niên phạm tội, tác giả kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao cần có lộ trình bắt buộc thành lập Tòa Gia đình và người chưa thành niên hoặc các phòng xét xử chuyên trách tại 100% Tòa án nhân dân khu vực. Đồng thời, cấn có quy định tiêu chuẩn bổ nhiệm Thẩm phán xét xử các vụ án này phải đi kèm chứng chỉ đào tạo bắt buộc về Tâm lý học tư pháp trẻ em và Kỹ năng điều phối tố tụng thân thiện.
Bên cạnh đó, tác giả đề xuất cần có quy định bắt buộc phải có sự tham gia của Nhân viên công tác xã hội hoặc Chuyên gia tâm lý chuyên trách từ giai đoạn điều tra cho đến khi xét xử và thi hành án. Chủ thể này sẽ đóng vai trò là cầu nối: cung cấp báo cáo điều tra thân nhân (giúp Thẩm phán có căn cứ toàn diện để ra phán quyết) và trực tiếp tổ chức, điều phối việc thực hiện các biện pháp giám sát tại địa phương sau khi Tòa án tuyên án.
Kết luận
Tư pháp người chưa thành niên không phải là sự thỏa hiệp với tội phạm, mà là tầm nhìn chiến lược của một nền tư pháp văn minh. Việc nhận diện những bất cập từ thực tiễn xét xử để tiến tới hoàn thiện một hệ thống pháp luật đồng bộ, chuyên biệt không chỉ giúp Tòa án nhân dân thực hiện tốt sứ mệnh bảo vệ công lý, mà còn thể hiện cam kết sâu sắc của Việt Nam trong việc bảo vệ và ươm mầm tương lai cho thế hệ trẻ.
[1] Xem thêm: https://tapchitoaan.vn/mot-so-kho-khan-vuong-mac-trong-hoat-dong-cua-toa-gia-dinh-va-nguoi-chua-thanh-nien9163.html, truy cập ngày 25/8/2026.
Phiên tòa xét xử vụ án “Cố ý gây thương tích” có nhiều người tham gia là người chưa thành niên tại TAND khu vực 1 - Cà Mau - Nguồn: Báo điện tử Cà Mau.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Chánh án TAND tối cao giao cụ thể tỷ lệ giải quyết, xét xử các loại án để Quốc hội giám sát
-
VKSNDTC đề nghị tiếp tục duy trì Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát
-
Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng
-
Cần thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật
-
Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính - Những vấn đề lý luận nhìn từ thực tiễn xét xử
Bình luận