Quy định về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội - Kiến nghị hoàn thiện

Bài viết phân tích quy định về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo Luật Tư pháp người chưa thành niên, có sự so sánh với chế định quyết định hình phạt đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên; đồng thời chỉ ra một số hạn chế, bất cập dẫn tới áp dụng không thống nhất. Từ đó, đề xuất sửa đổi Luật Tư pháp người chưa thành niên và kiến nghị ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên.

Đặt vấn đề

Quyết định hình phạt là một trong những nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong áp dụng pháp luật hình sự, bởi đây là giai đoạn Tòa án cụ thể hóa trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội thông qua việc lựa chọn loại và mức hình phạt phù hợp. Một quyết định hình phạt đúng đắn không chỉ đòi hỏi bảo đảm tính hợp pháp, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà còn phải đáp ứng yêu cầu cá thể hóa trách nhiệm hình sự, phù hợp với đặc điểm nhân thân và khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội. Yêu cầu này càng trở nên quan trọng đối với người chưa thành niên phạm tội, bởi đây là nhóm chủ thể chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm lý, nhận thức và khả năng kiểm soát hành vi, đồng thời còn có khả năng giáo dục, phục hồi và tái hòa nhập xã hội cao hơn so với người đã thành niên.

Ở Việt Nam, thay vì tiếp tục đặt toàn bộ các quy định về người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật Hình sự (BLHS) như trước đây, pháp luật hiện hành hình thành một cơ chế chuyên biệt trong Luật Tư pháp người chưa thành niên (TPNCTN), trong khi BLHS tiếp tục được áp dụng với tư cách là luật chung đối với những vấn đề mà luật chuyên ngành không quy định hoặc không có quy định khác. Sự thay đổi này thể hiện bước chuyển quan trọng về tư duy lập pháp: từ mô hình chủ yếu nhấn mạnh giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sang mô hình TPNCTN đặt trọng tâm vào giáo dục, phục hồi, xử lý chuyển hướng và hạn chế tối đa việc tước tự do.

Trên cơ sở phân tích các quy định của BLHS và Luật TPNCTN, đồng thời đối chiếu với chế độ quyết định hình phạt đối với người từ đủ 18 tuổi phạm tội, bài viết tập trung làm rõ đặc thù của cơ chế quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi; nhận diện những hạn chế, khoảng trống và nguy cơ áp dụng không thống nhất của pháp luật hiện hành; từ đó đề xuất các kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm tính minh bạch, đồng bộ và phù hợp hơn với mục tiêu giáo dục, phục hồi của TPNCTN.

1. Quy định về hình phạt và quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

1.1. Quy định về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Điều 115 Luật TPNCTN chỉ cho phép áp dụng bốn hình phạt: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn. Không được áp dụng hình phạt bổ sung, không áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình.

Ngược lại, Điều 32 BLHS quy định đối với người thành niên có bảy hình phạt chính gồm cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình, đồng thời còn có các hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền hoặc trục xuất khi chúng được áp dụng với tư cách hình phạt bổ sung.

1.1.1. Cảnh cáo

Đối với người thành niên, cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng chưa đến mức miễn hình phạt. Đối với người chưa thành niên (NCTN), Điều 116 Luật TPNCTN cho phép áp dụng cảnh cáo đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng và có tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt.

Quy định này đặt ra vấn đề: phạm vi cảnh cáo đối với NCTN có thể bao gồm cả tội nghiêm trọng do vô ý, rộng hơn so với cơ chế chung của người thành niên.

1.1.2. Phạt tiền

Điều 117 Luật TPNCTN chỉ cho phép phạt tiền NCTN nếu họ có thu nhập hoặc tài sản riêng. Mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi không quá một nửa, còn đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không quá một phần ba mức tiền phạt mà điều luật BLHS quy định.

Đối với người thành niên, Điều 35 và Điều 50 BLHS yêu cầu mức tiền phạt phải xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, tình hình tài sản và khả năng thi hành; mức tiền phạt theo quy định chung không thấp hơn 1 triệu đồng.

Điều đó có nghĩa rằng với NCTN, tài sản của cha mẹ không thể đương nhiên được coi là “khả năng nộp phạt” của người phạm tội. Nếu điều kiện “có thu nhập hoặc có tài sản riêng” không được chứng minh thì lựa chọn phạt tiền thiếu cơ sở pháp lý, dù cha mẹ tự nguyện cam kết nộp thay.

1.1.3. Cải tạo không giam giữ

Đối với người thành niên, cải tạo không giam giữ có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm, chủ yếu áp dụng cho tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng trong điều kiện luật định và về nguyên tắc có thể khấu trừ từ 5% đến 20% thu nhập.

Đối với NCTN, Điều 118 mở rộng khả năng áp dụng đối với một số tội rất nghiêm trọng, đồng thời không khấu trừ thu nhập và giới hạn thời hạn không quá một nửa thời hạn mà điều luật BLHS quy định.

Điểm tiến bộ là tăng khả năng xử lý tại cộng đồng. Tuy nhiên, kỹ thuật lập pháp “không quá một nửa thời hạn mà điều luật Bộ luật Hình sự quy định” lại phát sinh vấn đề khi điều khoản cụ thể của Phần các tội phạm không quy định cải tạo không giam giữ mà chỉ quy định tù.

1.1.4. Tù có thời hạn

Điều 119 phân hóa rất mạnh theo hai nhóm tuổi và theo nhóm tội đặc biệt.

Chủ thể

Trường hợp thông thường

Năm tội được xử lý nghiêm khắc hơn

Từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi

Nếu điều luật có tù chung thân/tử hình: tối đa 15 năm; nếu tù có thời hạn: tối đa 3/5 mức tù mà điều luật quy định

Tối đa 18 năm hoặc 3/4 mức tù có thời hạn

Từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi

Nếu điều luật có tù chung thân/tử hình: tối đa 09 năm; nếu tù có thời hạn: tối đa 2/5 mức tù mà điều luật quy định

Tối đa 12 năm hoặc 1/2 mức tù có thời hạn

Năm tội đặc thù phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm cao gồm tội giết người, hiếp dâm, hiếp dâm người dưới 16 tuổi, cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi và sản xuất trái phép chất ma túy

Trong khi đó, đối với người thành niên, mức tù có thời hạn chung cho một tội từ 03 tháng đến 20 năm; tù chung thân và tử hình vẫn có thể được áp dụng nếu điều luật tương ứng cho phép và không thuộc trường hợp pháp luật cấm áp dụng.

Điều quan trọng hơn giới hạn số học là Điều 12 Luật TPNCTN yêu cầu tù có thời hạn chỉ được sử dụng khi các hình phạt và biện pháp khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa; khi buộc phải phạt tù, mức án phải nhẹ hơn người thành niên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.

1.2. Quy định về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Luật TPNCTN không có điều luật riêng biệt quy định về các căn cứ quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội, các căn cứ này được nằm dàn trải trong các điều luật khác, có thể tổng hợp thành các căn cứ sau:

Một là, quy định của pháp luật và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Độ tuổi có ý nghĩa đặc biệt bởi nó không đơn thuần là một thông tin về nhân thân mà còn trực tiếp xác định phạm vi trách nhiệm hình sự. Theo Điều 12 BLHS hiện hành, người từ đủ 16 tuổi trở lên về nguyên tắc phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trong khi người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp luật định. Luật TPNCTN cũng phân chia rõ hai nhóm từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi quy định điều kiện và mức tối đa của từng loại hình phạt.

Điều này cho thấy, tuổi của người phạm tội vừa là căn cứ xác định trách nhiệm hình sự, vừa là yếu tố tác động trực tiếp đến mức độ nghiêm khắc của hậu quả pháp lý. Hai người thực hiện hành vi tương tự nhau nhưng thuộc hai nhóm tuổi khác nhau có thể chịu giới hạn hình phạt khác nhau. Đây không phải sự vi phạm nguyên tắc bình đẳng mà là biểu hiện của bình đẳng thực chất, do năng lực phát triển và mức độ đáng trách về mặt hình sự của NCTN không thể được mặc nhiên đồng nhất với người trưởng thành.

Hai là, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi tiếp tục là căn cứ trung tâm của việc quyết định hình phạt theo Điều 50 BLHS. Đối với NCTN, khoản 3 Điều 5 Luật TPNCTN tiếp tục đặt “hành vi phạm tội” ở vị trí đầu tiên trong nhóm các yếu tố phải xem xét.

Việc đánh giá phải dựa trên tổng thể những yếu tố như khách thể bị xâm hại, phương thức và thủ đoạn thực hiện hành vi, mức độ lỗi, hậu quả, vai trò của NCTN trong vụ án, mức độ chủ động thực hiện tội phạm và mức độ hiện thực hóa ý định phạm tội.

Đặc biệt, đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt, Điều 120 Luật TPNCTN yêu cầu khi quyết định hình phạt phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác làm cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

Điểm cần tránh trong thực tiễn là đồng nhất “tính chất nghiêm trọng của tội danh” với “mức độ nguy hiểm cụ thể của hành vi”. Một tội danh thuộc loại nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng không mặc nhiên dẫn đến kết luận rằng mọi NCTN thực hiện tội đó đều có mức độ đáng trách như nhau. Cách tiếp cận như vậy sẽ làm suy giảm chức năng cá thể hóa vốn là cốt lõi của tư pháp NCTN.

Ba là, nhân thân của NCTN

Nhân thân là căn cứ được ghi nhận trong Điều 5 Luật TPNCTN. Các yếu tố như quá trình học tập, thái độ đối với gia đình và nhà trường, lịch sử vi phạm pháp luật, hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, quan hệ với bạn bè, điều kiện kinh tế và khả năng được hỗ trợ sau khi xét xử có thể có giá trị trong việc dự báo khả năng giáo dục, phục hồi và tái hòa nhập. Nhưng ở đây tồn tại một nguy cơ đáng lưu ý: hoàn cảnh kinh tế khó khăn, gia đình thiếu ổn định, bỏ học hoặc sống trong môi trường xã hội bất lợi không được tự động chuyển hóa thành nhận định về “nhân thân xấu”. Nếu làm như vậy, hệ thống tư pháp có thể vô tình biến sự bất lợi xã hội của NCTN thành lý do để áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn. Ngược lại, trong nhiều trường hợp, chính những yếu tố này là dữ liệu cho thấy nhu cầu hỗ trợ xã hội, giáo dục và phục hồi lớn hơn. Việc đánh giá nhân thân vì vậy phải hướng đến giải thích nguyên nhân của hành vi và khả năng thay đổi trong tương lai, chứ không phải gắn một “nhãn” tiêu cực cố định cho NCTN.

Bốn là, mức độ trưởng thành và khả năng nhận thức

Một trong những điểm đáng chú ý nhất của Luật TPNCTN là việc quy định rõ mức độ trưởng thành như một yếu tố cần xem xét khi xử lý NCTN. Khoản 3 Điều 5 đặt độ tuổi, mức độ trưởng thành và khả năng nhận thức của NCTN bên cạnh hành vi và nhân thân. Ba yếu tố này có liên hệ nhưng không đồng nhất. Độ tuổi là tiêu chí mang tính khách quan và được xác định theo thời gian. Mức độ trưởng thành phản ánh sự phát triển thực tế về nhận thức, cảm xúc, khả năng kiểm soát hành vi, khả năng chống lại tác động của người khác và năng lực đánh giá hậu quả. Trong khi đó, khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi tập trung trực tiếp vào nhận thức của NCTN đối với hành vi phạm tội cụ thể. Việc bổ sung “mức độ trưởng thành” có giá trị đáng kể đối với cá thể hóa hình phạt.

Năm là, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm

Luật yêu cầu xem xét nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng bởi hành vi của NCTN thường chịu tác động mạnh từ môi trường gia đình, nhóm bạn, nhà trường, không gian mạng, sự dụ dỗ hoặc lợi dụng của người trưởng thành và các yếu tố xã hội khác. Việc đánh giá nguyên nhân, điều kiện phạm tội không nhằm phủ nhận trách nhiệm cá nhân. Giá trị của căn cứ này nằm ở chỗ giúp xác định chính xác hơn mức độ đáng trách và lựa chọn phản ứng pháp lý thích hợp.

Sáu là, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự

Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự theo BLHS vẫn là căn cứ quyết định hình phạt đối với NCTN, trong phạm vi không trái với các quy định đặc thù của Luật TPNCTN. Đáng chú ý, BLHS cho phép Tòa án coi đầu thú hoặc các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án; đồng thời không được sử dụng lại tình tiết đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung để tiếp tục giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với tình tiết tăng nặng, chỉ các tình tiết do luật quy định mới được coi là tình tiết tăng nặng.

Đồng thời, việc đánh giá tình tiết giảm nhẹ không nên tách khỏi mục tiêu giáo dục và phục hồi. Những biểu hiện như tự nguyện khắc phục hậu quả, thành khẩn, tích cực sửa chữa hành vi hoặc có môi trường gia đình đủ khả năng giám sát có thể có ý nghĩa không chỉ trong việc giảm mức hình phạt mà còn trong việc đánh giá liệu hình phạt có thực sự cần thiết hay không.

Bảy là, yêu cầu phòng ngừa tội phạm

Khoản 3 Điều 5 Luật TPNCTN còn yêu cầu xem xét yêu cầu phòng ngừa tội phạm. Điều 12 xác định mục đích của hình phạt đối với NCTN chủ yếu nhằm giáo dục họ ý thức tôn trọng pháp luật, tuân theo các quy tắc của cuộc sống, sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, đồng thời phòng ngừa họ tiếp tục phạm tội và góp phần phòng ngừa tội phạm.

2. Một số hạn chế, bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Một là, chưa có một điều luật riêng quy định đầy đủ “căn cứ quyết định hình phạt” đối với NCTN.

Điều 50 BLHS quy định tập trung bốn căn cứ quyết định hình phạt đối với người thành niên bao gồm: quy định của Bộ luật, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Ngược lại, Luật TPNCTN chưa xây dựng một điều luật tương đương trong Chương VI. Những yếu tố đặc thù cho quyết định hình phạt được phân tán tại Điều 5, Điều 12, Điều 54, Điều 128 và các điều về từng hình phạt. Điều 5 yêu cầu xem xét tuổi, mức trưởng thành, nhận thức, nguyên nhân và điều kiện phạm tội; Điều 54 quy định báo cáo điều tra xã hội; Điều 128 tiếp tục yêu cầu xác định mức phát triển thể chất, tinh thần, điều kiện sinh sống, giáo dục, việc có người thành niên xúi giục và hoàn cảnh phạm tội. Sự phân tán này làm phát sinh nguy cơ Tòa án áp dụng Điều 50 BLHS như với người thành niên, còn những yếu tố đặc thù chỉ được trình bày mang tính bổ sung.

Kiến nghị: Trước hết, cần bổ sung một điều riêng về căn cứ và trình tự quyết định hình phạt. Điều luật mới phải được liên kết và tham khảo đối với các căn cứ quy định hình phạt đối với người từ đủ 18 tuổi với Điều 5, Điều 11, Điều 12 và báo cáo điều tra xã hội do người làm công tác xã hội xây dựng; đồng thời quy định nghĩa vụ nêu rõ trong bản án lý do không áp dụng chuyển hướng, lý do lựa chọn hình phạt và lý do nếu phải áp dụng tù giam. Cụ thể, bổ sung một điều riêng ngay đầu Mục 2 Chương VI, có thể đặt sau Điều 119, với nội dung về nguyên tắc:

“Khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên, Tòa án ngoài các căn cứ quyết định hình phạt theo Bộ luật Hình sự phải xem xét đầy đủ độ tuổi tại thời điểm phạm tội, mức độ trưởng thành và khả năng nhận thức, vai trò trong vụ án, hoàn cảnh gia đình và môi trường sống, nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội, ảnh hưởng của người thành niên, kết quả báo cáo điều tra xã hội, khả năng giáo dục, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng. Bản án phải nêu rõ kết quả xem xét các căn cứ này”.

Quy định như vậy sẽ biến các yếu tố cơ bản, đặc thù của “TPNCTN” từ thông tin mang tính tham khảo ở các điều luật khác thành căn cứ bắt buộc của quyết định hình phạt.

Hai là, chưa rõ nội hàm của “mức án nhẹ hơn người thành niên phạm tội tương ứng”

Khoản 5 Điều 12 yêu cầu khi phạt tù, NCTN phải được hưởng “mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên phạm tội tương ứng” và với “thời hạn thích hợp ngắn nhất”.

Câu hỏi chưa được điều luật trả lời là “người thành niên phạm tội tương ứng” được hiểu theo tiêu chí nào: người đồng phạm thành niên trong cùng vụ án; một người thành niên giả định có cùng vai trò, cùng lỗi và tình tiết; hay mức hình phạt thông thường trong khung của điều luật?

Nếu lấy người đồng phạm thành niên thực tế làm chuẩn thì nhiều vụ án chỉ có bị cáo chưa thành niên sẽ không có đối tượng so sánh. Nếu sử dụng một “người thành niên giả định” thì thiếu tiêu chí định lượng. Nếu chỉ so với mức tối đa của khung thì yêu cầu “nhẹ hơn người thành niên tương ứng” gần như bị đồng nhất với các tỷ lệ tại Điều 119.

Kiến nghị hướng dẫn: Nhà làm luật nên xác định đây là nguyên tắc tương xứng, không phải phép so sánh số học với một người cụ thể. Tòa án phải lấy khung hình phạt áp dụng cho người thành niên cùng tội danh, cùng khoản của điều luật làm điểm tham chiếu, sau đó đánh giá mức độ lỗi, vai trò, hậu quả và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhằm cá thể hóa. Nếu có đồng phạm thành niên có mức độ tham gia tương đương, bản án cần giải thích thêm sự chênh lệch về hình phạt nhưng không được sử dụng hình phạt của đồng phạm như một “mức sàn” đối với NCTN.

Ba là, tiêu chí để áp dụng hình phạt tù còn định tính quá cao

Khoản 4 Điều 12 chỉ cho phép tù có thời hạn khi “các hình phạt và biện pháp khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa”. Công văn 250/TANDTC-PC năm 2026 đã phải giải đáp thêm một số vướng mắc phát sinh trong thực tiễn áp dụng Luật TPNCTN.

Vấn đề nằm ở chỗ “không có tác dụng” là quy định định tính, rất dễ bị suy đoán từ mức độ nghiêm trọng của tội phạm thay vì được chứng minh bằng hoàn cảnh của người phạm tội. Chẳng hạn, một môi trường gia đình không ổn định có thể bị nhìn nhận là lý do phải cách ly, trong khi dưới góc độ giáo dục, chính yếu tố đó có thể cho thấy nhu cầu hỗ trợ xã hội nhiều hơn chứ không đương nhiên chứng minh sự cần thiết của tù giam.

Bốn là, chưa quy định mức thấp nhất của khung hình phạt dành cho NCTN

Đây là vấn đề kỹ thuật lập pháp đáng chú ý nhất. Tại Điều 119 quy định rất rõ mức hình phạt cao nhất không quá 3/5, 3/4, 2/5 hoặc 1/2 mức hình phạt tù do điều luật BLHS quy định, nhưng không quy định cách xác định mức thấp nhất.

Giả sử khung hình phạt dành cho người thành niên là 12-20 năm tù và bị cáo thuộc nhóm tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chịu tỷ lệ không quá 2/5 (đối với nhóm tội phạm thông thường). Mức cao nhất dành cho NCTN theo Điều 119 sẽ là 08 năm. Nếu vẫn giữ mức thấp nhất 12 năm của khung dành cho người thành niên thì xuất hiện một khoảng hình phạt vô lý: “tối thiểu 12 năm nhưng tối đa 08 năm”.

Điều này chứng minh rằng không thể đơn giản áp dụng nguyên vẹn mức thấp nhất của khung hình phạt người thành niên rồi chỉ giảm mức cao nhất. Tuy nhiên, Luật hiện chưa nói rõ mức thấp nhất được xác định bằng mức tối thiểu chung của tù có thời hạn là 03 tháng theo Điều 38 BLHS, bằng một tỷ lệ tương ứng của mức thấp nhất khung hình phạt, hay theo một phương pháp khác. Điều 54 BLHS về quyết định dưới mức thấp nhất của khung hình phạt càng làm vấn đề phức tạp, bởi trước hết phải xác định “mức thấp nhất” nào là mức thấp nhất có ý nghĩa đối với NCTN.

Kiến nghị lập pháp: không nên để vấn đề này cho văn bản hướng dẫn giải quyết, vì đây là giới hạn trực tiếp của hình phạt. Điều 119 cần xác định rõ cả mức thấp nhất và mức cao nhất của “khung hình phạt dành cho người chưa thành niên”. Một phương án là quy định cả hai giới hạn của khung dành cho người thành niên đều được chuyển đổi theo tỷ lệ tương ứng, nhưng không thấp hơn mức tối thiểu chung của loại hình phạt; trường hợp kết quả tính toán phát sinh đơn vị lẻ phải làm tròn theo hướng có lợi cho NCTN, việc xác định có thể áp dụng tương tự như quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 12/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 18/12/2025 quy định chi tiết việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong thực hiện một số điều của Luật TPNCTN: “…Trường hợp thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đối với vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên được tính có số lẻ một phần hai ngày thì thời hạn được tính là số ngày liền kề ít hơn”.

Nếu nhà làm luật không lựa chọn phương án giảm tỷ lệ đối với mức thấp nhất được áp dụng thì ít nhất phải quy định rõ một mức sàn riêng cho NCTN. Việc để Tòa án tự lựa chọn giữa các cách hiểu có thể dẫn tới chênh lệch đáng kể về hình phạt.

Năm là, Điều 118 Luật TPNCTN quy định về cải tạo không giam giữ có điểm thiếu liên kết với Phần các tội phạm của BLHS

Khoản 1 Điều 118 cho phép áp dụng cải tạo không giam giữ trong một số trường hợp NCTN phạm tội rất nghiêm trọng. Khoản 3 lại xác định thời hạn không quá một nửa “thời hạn mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định”.

Vấn đề phát sinh khi điều khoản định tội tương ứng trong BLHS không quy định cải tạo không giam giữ mà chỉ quy định hình phạt tù. Khi ấy không tồn tại “thời hạn cải tạo không giam giữ mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định” để lấy một nửa.

Đây không chỉ là vấn đề giải thích từ ngữ. Nếu văn bản hướng dẫn tự đặt ra một khoảng hình phạt mới thì có nguy cơ vượt khỏi chức năng hướng dẫn và tác động trực tiếp tới nguyên tắc hình phạt phải do luật quy định.

Kiến nghị: sửa khoản 3 Điều 118 theo hướng Luật TPNCTN tự quy định trực tiếp khoảng thời gian cải tạo không giam giữ áp dụng trong trường hợp điều luật BLHS không quy định loại hình phạt này; chỉ sử dụng tỷ lệ một nửa khi điều luật BLHS thực sự có hình phạt cải tạo không giam giữ.

Sáu là, điều kiện “có thu nhập hoặc có tài sản riêng” của hình phạt tiền chưa được cụ thể hóa đầy đủ

Điều 117 đặt ra điều kiện khá rõ về mặt nguyên tắc nhưng không xác định mức độ chứng minh cần thiết đối với thu nhập và tài sản riêng. Cần phân biệt ít nhất ba tình huống: NCTN có tài sản thuộc quyền sở hữu của mình; có thu nhập thường xuyên nhưng thấp; hoặc không có tài sản nhưng cha mẹ cam kết nộp tiền thay. Trường hợp thứ ba không nên được coi là thỏa mãn Điều 117, bởi hình phạt phải tác động vào chính người bị kết án chứ không chuyển thực chất thành nghĩa vụ tài chính của cha mẹ.

Kiến nghị hướng dẫn: Tòa án chỉ áp dụng phạt tiền nếu hồ sơ chứng minh được quyền sở hữu tài sản hoặc nguồn thu nhập hợp pháp thực tế của NCTN và việc thi hành hình phạt khả thi. Cam kết của cha mẹ có thể được ghi nhận về hỗ trợ thi hành nhưng không được dùng thay cho điều kiện pháp lý “có thu nhập hoặc tài sản riêng”. Khi xác định số tiền cụ thể, khoản 2 Điều 50 BLHS về tình hình tài sản và khả năng thi hành vẫn cần được áp dụng bổ trợ.

Bảy là, thời điểm áp dụng biện pháp chuyển hướng chưa thực sự phù hợp

Khoản 5 Điều 35 quy định không áp dụng xử lý chuyển hướng nếu tại thời điểm xem xét người phạm tội đã đủ 18 tuổi. Trong khi đó, Điều 3 xác định “người chưa thành niên phạm tội” theo độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi khi phạm tội.

Hai người cùng 17 tuổi 10 tháng khi thực hiện những hành vi tương tự có thể vì tiến độ tố tụng khác nhau mà một người được xem xét chuyển hướng trước sinh nhật 18 tuổi, còn người kia bị loại khỏi chuyển hướng sau khi đủ 18 tuổi. Sự khác biệt khi đó không xuất phát từ mức độ lỗi, hành vi hay khả năng phục hồi mà từ thời điểm cơ quan tiến hành tố tụng hoàn tất việc xem xét.

Điều này còn tạo ra điểm bất hợp lý: hình phạt chỉ được áp dụng khi chuyển hướng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa; nhưng đối với người đã bước qua tuổi 18 trong quá trình giải quyết, chuyển hướng lại bị loại trừ bằng một điều kiện tuổi tuyệt đối.

Kiến nghị: sửa khoản 5 Điều 35 theo hướng tuổi tại thời điểm phạm tội là tiêu chí cơ bản xác định quyền được xem xét chuyển hướng. Trường hợp người phạm tội đã đủ 18 tuổi tại thời điểm quyết định thì chỉ loại trừ những biện pháp về bản chất không còn phù hợp với người đã thành niên; các biện pháp phục hồi tại cộng đồng vẫn nên được xem xét nếu khả thi. Ít nhất cần có ngoại lệ cho trường hợp việc người đó đủ 18 tuổi phát sinh do thời gian giải quyết vụ án chứ không phải do hành vi trì hoãn của chính họ.

Tám là, quy định về án treo cho thấy khoảng trống pháp lý giữa văn bản luật và hướng dẫn thực tiễn

Điều 124 Luật TPNCTN chỉ quy định khi xử phạt tù không quá 03 năm, nếu căn cứ nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ cho thấy không cần bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 đến 03 năm. Điều luật không quy định công thức cụ thể giữa thời hạn tù và thời gian thử thách.

Đối với người thành niên, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP (sửa đổi, bổ sung năm 2022, 2025) hướng dẫn án treo xác định thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù nhưng tối thiểu 01 năm, tối đa 05 năm.

Chính sự khác biệt về văn bản đã dẫn tới vướng mắc trong thực tiễn. Tại Công văn giải đáp số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 giải đáp rằng đối với NCTN, Tòa án ấn định thời gian thử thách bằng mức hình phạt tù, nhưng không dưới 01 năm và không quá 03 năm.

Hướng giải đáp này hợp lý về chính sách nhưng nội dung “bằng mức hình phạt tù” không thể đọc trực tiếp từ câu chữ Điều 124. Một quy tắc ảnh hưởng trực tiếp tới thời hạn thử thách nên được thể hiện trong luật hoặc ít nhất trong nghị quyết hướng dẫn áp dụng pháp luật chuyên biệt, thay vì để người áp dụng phải tìm đến một công văn giải đáp nghiệp vụ (chỉ mang tính chất tham khảo, hướng dẫn mà không mang tính bắt buộc của quy phạm pháp luật).

Kiến nghị: Sửa trực tiếp Điều 124 theo hướng ghi rõ cách xác định này; hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết hướng dẫn toàn diện Chương VI và đưa nội dung của Công văn 250 vào văn bản quy phạm pháp luật.

Kết luận

Luật TPNCTN ra đời đánh dấu sự thay đổi quan trọng từ mô hình “giảm nhẹ hình phạt cho người dưới 18 tuổi” sang một mô hình tư pháp chuyên biệt đối với NCTN dựa trên giáo dục, phục hồi, xử lý chuyển hướng và hạn chế tối đa việc tước tự do. Việc bãi bỏ Chương XII trong BLHS và chuyển chế định này sang một đạo luật riêng biệt cho thấy quyết định hình phạt đối với NCTN phải được nhìn nhận như một cấu trúc độc lập tương đối, trong đó BLHS đóng vai trò luật chung bổ trợ.

Tuy nhiên, chính cấu trúc mới cũng đặt ra các vấn đề cần hoàn thiện. Đáng chú ý nhất là thiếu một điều luật tập trung về căn cứ quyết định hình phạt; chưa xác định rõ cận dưới của khung hình phạt dành cho NCTN; tiêu chuẩn lựa chọn hình phạt tù còn mang tính định tính; Điều 118 chưa giải quyết trường hợp điều luật BLHS không có cải tạo không giam giữ… và một số nội dung quan trọng như công thức xác định thời gian thử thách án treo vẫn cần Công văn 250/TANDTC-PC giải thích thêm.

Vì vậy, trong thời gian tới cùng với việc sửa Luật, cần có một Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn thống nhất Chương VI Luật TPNCTN để các nguyên tắc nhân đạo không dừng ở chính sách mà trở thành những tiêu chuẩn có thể thực hiện chính xác, thống nhất trong thực tiễn thi hành.

ThS. TRƯƠNG THỊ TỐ UYÊN (Phó Chánh án TAND khu vực 12 - Hải Phòng)

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung, hiện được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH ngày 05/9/2025; văn bản hợp nhất ghi nhận các sửa đổi của Luật số 86/2025/QH15.

2. Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 85/2025/QH15, hiện được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 105/VBHN-VPQH ngày 19/5/2026.

3. Nghị định số 333/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, trách nhiệm và thủ tục xử lý chuyển hướng, giám sát điện tử và tái hòa nhập cộng đồng.

4. Nghị định số 355/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết về giáo dục tại trường giáo dưỡng, thi hành án phạt tù tại trại giam và chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên.

5. Thông tư liên tịch số 12/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 18/12/2025 quy định chi tiết việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong thực hiện một số điều của Luật Tư pháp người chưa thành niên.

6. Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 51 và Điều 52 BLHS.

7. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP về án treo, được sửa đổi, bổ sung năm 2022 và có các sửa đổi liên quan bởi Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP.

8. Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của TANDTC về kết quả giải đáp trực tuyến một số khó khăn, vướng mắc trong công tác xét xử.

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.