Tăng cường kiểm soát quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động xét xử của Tòa hành chính

Kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua hoạt động xét xử của Tòa Hành chính được hiểu là phương thức, trình tự, thủ tục tố tụng nhằm ngăn ngừa, loại bỏ những nguy cơ, những việc làm sai trái của cơ quan hành chính nhà nước trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được tổ chức và thực hiện theo đúng các quy định của Hiến pháp, pháp luật, đúng mục đích mong muốn và có hiệu quả.

1. Vai trò của Tòa Hành chính trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước

Tòa Hành chính đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát quyền lực của cơ quan hành chính nhà nước, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả, tính hợp pháp, chuẩn mực trong hoạt động quản lý nhà nước. Vai trò của Tòa Hành chính thể hiện qua những phương diện chính sau đây:

Thứ nhất, thông qua hoạt động xét xử, Tòa Hành chính thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trước những hành vi vi phạm của các chủ thể thực thi hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Điều này thể hiện qua việc Tòa Hành chính góp phần kiểm soát các quyết định hành chính và hành vi hành chính. Khi cơ quan hành chính nhà nước hoặc cán bộ, công chức thực hiện các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trái pháp luật, cá nhân hoặc tổ chức bị ảnh hưởng có quyền khiếu nại lên cơ quan hành chính cấp trên hoặc khởi kiện ra Tòa Hành chính. Nếu cá nhân, tổ chức lựa chọn việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình bằng con đường tố tụng, Tòa án sẽ xem xét tính hợp pháp, tính hợp lý của quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Thứ hai, thông qua hoạt động xét xử, Tòa Hành chính góp phần tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước. Việc thực hiện trách nhiệm giải trình nhằm tăng cường tính minh bạch, thượng tôn pháp luật trong Nhà nước pháp quyền. Các cơ quan hành chính buộc phải giải trình và chịu trách nhiệm trước Tòa Hành chính khi bị kiện, qua đó giúp giảm thiểu tình trạng lạm quyền hoặc vi phạm pháp luật.

Thứ ba, thông qua hoạt động xét xử, Tòa Hành chính góp phần đảm bảo tính hợp pháp trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Điều này thể hiện qua việc xét xử các hành vi vi phạm hành chính. Tòa Hành chính đóng vai trò giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan hành chính, từ đó ngăn chặn các hành vi sai phạm như vượt quyền, làm sai quy định, hoặc không thực hiện đúng thẩm quyền. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động xét xử, Tòa Hành chính hủy bỏ quyết định hành chính trái pháp luật. Khi phát hiện quyết định hành chính không phù hợp với quy định của pháp luật, Tòa án có quyền tuyên hủy hoặc yêu cầu sửa đổi quyết định đó. Điều này bảo đảm các quyết định hành chính được thực hiện đúng pháp luật.

Thứ tư, thông qua hoạt động xét xử, Tòa Hành chính góp phần cân bằng quyền lực giữa cơ quan hành chính và người dân. Hoạt động của Tòa Hành chính góp phần kiểm soát sự lạm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước. Trong bối cảnh cơ quan hành chính nhà nước nắm giữ quyền lực lớn, Tòa Hành chính là cơ chế góp phần ngăn ngừa tình trạng lạm quyền hoặc lợi dụng quyền lực của cơ quan hành chính nhà nước.

Thứ năm, thông qua hoạt động xét xử, Tòa Hành chính góp phần tạo cơ hội cho người dân phản ánh những hành vi lạm quyền trong hoạt động hành chính. Việc khởi kiện hành chính là một hình thức để người dân hoặc tổ chức có thể phản ánh các vấn đề liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, qua đó giúp cơ quan hành chính cải thiện hoạt động của mình và hạn chế sai phạm trong tương lai.

Thứ sáu, thông qua hoạt động xét xử, Tòa Hành chính góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước. Vai trò đó thể hiện qua các nội dung sau: Một là, thúc đẩy sự chuyên nghiệp và minh bạch. Hai là, hỗ trợ hoàn thiện pháp luật. Thông qua các vụ án hành chính, Tòa án có thể phát hiện các bất cập trong hệ thống pháp luật và đề xuất cơ quan lập pháp hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch trong quản lý hành chính.

Thứ bảy, thông qua hoạt động xét xử, Tòa Hành chính góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền, cụ thể qua các khía cạnh: Một là, thể hiện nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Tòa Hành chính khẳng định rằng mọi cơ quan nhà nước, kể cả cơ quan hành chính, phải tuân thủ pháp luật và không đứng trên pháp luật. Hai là, tăng cường lòng tin của người dân vào hệ thống pháp luật. Khi người dân thấy quyền lợi của mình được bảo vệ trước những hành vi sai phạm của cơ quan hành chính, lòng tin vào pháp luật và hệ thống tư pháp sẽ được củng cố.

2. Những yếu tố tác động đến cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua hoạt động xét xử của Tòa Hành chính

Một là, vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, quyền lực nhà nước luôn mang tính giai cấp, chịu sự chi phối của một chính đảng cầm quyền. Đối với nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối trên mọi phương diện. Là một thiết chế tư pháp, hoạt động của Tòa án nói chung và của Tòa Hành chính nói riêng cũng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống Tòa án nhân dân thông qua các Nghị quyết, văn kiện và kết luận của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới là những cơ sở chính trị quan trọng khẳng định định hướng hoàn thiện quyền tư pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động xét xử của Tòa án nói chung và Tòa Hành chính nói riêng. Đảng lãnh đạo đồng thời cũng là nhân tố kiểm soát chính hoạt động xét xử của Tòa Hành chính thông qua chính phương thức lãnh đạo của mình. Vai trò của các cấp ủy Đảng trong lãnh đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động xét xử được tiến hành thường xuyên, liên tục. Công tác cán bộ, công tác hoàn thiện pháp luật tư pháp, phòng chống tham nhũng, nâng cao chất lượng xét xử...là yếu tố tác động rõ đến cơ chế kiểm soát quyền lực thông qua hoạt động xét xử của Tòa Hành chính. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng không làm ảnh hưởng đến các nguyên tắc trong xét xử vụ án hành chính. Đặc biệt là nguyên tắc độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Trong quá trình tiến hành xét xử, để giải quyết những tranh chấp mang tính đặc thù với một bên trong tranh chấp là chủ thể được sử dụng quyền lực nhà nước, cấp ủy Đảng sẽ lãnh đạo thông qua công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá ưu, khuyết điểm của hoạt động tố tụng, chứ không can thiệp trực tiếp vào công tác xét xử, không chỉ đạo Thẩm phán khi xét xử mà chỉ khi cần thiết, sẽ phối hợp với cơ quan xét xử để giám sát giải quyết những vụ án lớn có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia hoặc địa phương hoặc ảnh hưởng sâu rộng đến dư luận xã hội.

Hai là, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về kiểm soát quyền lực nhà nước. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động xét xử của Tòa Hành chính phải tuân theo các quy định chặt chẽ của hệ thống pháp luật. Đó là cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước. Vì vậy, một hệ thống pháp luật có chất lượng sẽ là yếu tố tác động đến hoạt động xét xử cũng như hiệu quả kiểm soát quyền lực. Trong hoàn thiện hệ thống pháp luật cần chú ý những nội dung tác động về thể chế pháp luật về kiểm soát quyền lực nhà nước. Việc kiểm soát quyền lực nhà nước là nguyên tắc then chốt nhằm đảm bảo quyền lực không bị lạm dụng, được thực hiện minh bạch, công bằng, đúng pháp luật. Tại Việt Nam, nguyên tắc này đã được Hiến pháp và pháp luật cụ thể hóa qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Cơ chế này đảm bảo không cơ quan nào có quyền lực tuyệt đối, mà phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và giám sát lẫn nhau. Thể chế pháp luật quy định pháp luật về mô hình tổ chức thẩm quyền xét xử của Tòa án ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động xét xử và cơ chế kiểm soát quyền lực. Ở nước ta và hầu hết các nước trên thế giới, xét xử hành chính là loại hoạt động nhà nước đặc biệt do Tòa án thực hiện. Mô hình tổ chức thẩm quyền xét xử của Tòa án ở Việt Nam thời gian qua luôn có sự thay đổi, điều chỉnh thích ứng với sự vận động và thay đổi nhanh của xã hội. Đứng ở gốc độ cơ cấu tổ chức bộ máy công quyền thì phải luôn chú trọng tạo được tính độc lập trong cơ cấu tổ chức của Tòa án với hệ thống cơ quan hành chính, chủ thể có thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính và hành vi hành chính. Cơ chế kiểm soát khó có thể thực hiện tốt nếu thiết chế Tòa án bị chi phối bởi quyền lực hành pháp.

Ba là, lý luận và thực tiễn của nguyên tắc độc lập trong xét xử của Tòa Hành chính. Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”. Các bản Hiến pháp trước đó đều quy định nguyên tắc này với những mức độ khác nhau. Như vậy, có thể thấy nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án luôn được đề cao trong Hiến pháp - văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất và là đạo luật quan trọng nhất của nhà nước. Việc nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm trong công tác xét xử và cũng là đảm bảo cho nguyên tắc này phải được thực thi trong thực tiễn thực hiện pháp luật. Theo đó, độc lập tư pháp được xem xét ở 02 góc độ gồm độc lập bên trong (độc lập giữa các chức danh trong tố tụng, giữa cấp trên và cấp dưới) và độc lập bên ngoài (độc lập với quyền lập pháp, hành pháp, độc lập với các thiết chế bên ngoài bộ máy nhà nước).

Bốn là, chất lượng xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và những người tiến hành tố tụng khác. Đây là một trong các yếu tố có vai trò quyết định trong hoạt động xét xử vụ án hành chính. Yếu tố con người ở đây muốn đề cập đến gồm năng lực, trình độ của chủ thể tiến hành tố tụng hành chính, ý thức pháp luật và trách nhiệm của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước và ý thức pháp luật của những người tham gia tố tụng hành chính.

Trong các chủ thể đó, Thẩm phán và Hội thẩm là những người trực tiếp tiến hành xét xử các vụ án hành chính. Chính vì vậy, năng lực xét xử, trình độ chuyên môn và bản lĩnh, trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán ảnh hưởng quyết định đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động xét xử vụ án hành chính. Do đó, các tiêu chí, quy trình bổ nhiệm, tuyển chọn, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng đội ngũ Thẩm phán hành chính chuyên trách và tuyển chọn đội ngũ Hội thẩm hành chính chuyên trách trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng yêu cầu đặc thù của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Các quy định của pháp luật tố tụng hành chính có hoàn thiện và đầy đủ đến mấy nhưng bản thân những người cầm cân nẩy mực lại không khách quan, vô tư hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ kém, không có đạo đức nghề nghiệp thì việc giải quyết vụ án hành chính chắc chắc sẽ không chính xác, không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

3. Một số giải pháp tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua hoạt động xét xử của Tòa Hành chính

Một là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật, tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế nhằm tăng cường kiểm soát quyền lực thông qua hoạt động xét xử của Tòa Hành chính. Hiện nay ở nước ta, thể chế được xác định là một trong ba điểm nghẽn lớn nhất, bên cạnh hạ tầng và nhân lực[1]. Đặc biệt, thể chế được coi là "điểm nghẽn của điểm nghẽn", tức là yếu tố cản trở chính trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.  Xét về mặt thực thi chính sách, điểm nghẽn về thể chế khiến tổ chức, cá nhân gặp khó khăn, vướng mắc vì các quy định pháp lý không rõ ràng, thiếu ổn định. Chính sách, pháp luật nhiều kẽ hở còn là cơ hội cho các nhóm lợi ích lợi dụng để lũng đoạn nhà nước, gây mất lòng tin của người dân đối với cơ quan công quyền, dẫn đến tình trạng "né tránh", lách luật hoặc vi phạm pháp luật, tham nhũng. Thể chế kiểm soát quyền lực chưa đầy đủ và chặt chẽ. Điểm nghẽn về chính sách, pháp luật không chỉ làm chậm sự phát triển của đất nước, mà còn tạo ra nhiều hệ lụy lâu dài như nạn tham nhũng, sự xuống cấp của đạo đức, liêm chính trong xã hội, cũng như làm mất niềm tin của người dân vào nhà nước và chế độ. Đây là vấn đề quan trọng nhất cần giải quyết để tháo gỡ các điểm nghẽn khác ở nước ta. Chính vì vậy, tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước là tiền đề cho việc hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực trong hoạt động xét xử của Tòa án nói chung và Tòa Hành chính nói riêng.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế đảm bảo thực hiện nguyên tắc độc lập của Thẩm phán hành chính về mặt lý luận và thực tiễn. Để thực hiện tốt nguyên tắc này, cần phải quán triệt nhận thức “độc lập” là “quyền” của Thẩm phán, từ đó chú trọng tới việc quy định các biện pháp trong luật để bảo đảm đảm cho Thẩm phán được độc lập. Đồng thời, không xem xét vấn đề “độc lập Thẩm phán một cách biệt lập” mà cần phải đặt nó trong mối quan hệ với trách nhiệm phải khách quan của Thẩm phán. Bất kỳ biện pháp nào được áp dụng, phải vừa bảo đảm sự độc lập vừa bảo đảm có thể ràng buộc được trách nhiệm của người Thẩm phán. Hiện nay, theo quy định mới của Luật thì Thẩm phán tái nhiệm lần đâu là 05 năm, sau đó bổ nhiệm suốt đời. Mặc dù quy định này vẫn còn có những ý kiến, quan điểm khác nhau song đây được xem như là một bước tiến rõ rệt trong việc đảm bảo quyền “độc lập” của Thẩm phán. Bên cạnh đó, cần quy định Thẩm phán được miễn trừ trách nhiệm pháp lý do rủi ro nghề nghiệp, trừ khi họ phạm vào những tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia. Cần nghiên cứu xây dựng chế độ đãi ngộ tốt nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực tư pháp, đồng thời tăng cường trách nhiệm của Thẩm phán, tạo niềm tin, sự tôn vinh của xã hội với Thẩm phán. Các thủ tục tố tụng cần phải quy định theo hướng bảo đảm sự độc lập của Tòa án, của Thẩm phán trên cơ sở phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Cần có quy định nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào hoạt động xét xử của Thẩm phán. Bên cạnh đó, cần quy định chế tài, phát hiện, xử lý kỷ luật một số tổ chức, cá nhân có hành vi can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán gây hậu quả nghiêm trọng để kịp thời rút kinh nghiệm và răn đe các trường hợp khác.

Ba là, đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc tranh tụng trong xét xử các vụ án hành chính. Tranh tụng được xác định là “khâu đột phá” theo tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với nội dung: “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Tranh tụng là một nội dung quan trọng trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hành chính. Thông qua việc luận tội, tranh luận, đối đáp tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thực hiện nhiệm vụ tranh tụng, bảo đảm việc xét xử khách quan, công bằng, đúng quy định của pháp luật. Bảo đảm hoạt động tranh tụng tại phiên Tòa Hành chính trên cơ sở quán triệt đầy đủ, đúng đắn toàn diện các quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, về kiểm soát quyền lực nhà nước. Tranh tụng tại phiên tòa hành chính không chỉ là yêu cầu của việc bảo đảm tính dân chủ, công bằng giữa những người tham gia tố tụng với Viện kiểm sát, mà kết quả tranh tụng tại phiên tòa còn là căn cứ để Hội đồng xét xử xác định sự thật khách quan của vụ án. Giải pháp đặt ra để nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên Tòa Hành chính tập trung vào các nội dung: (i) Cần xây dựng bộ tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên trong các phiên tòa nói chung và trong phiên tòa hành chính nói riêng, việc xây dựng hệ thống các tiêu chí cụ thể về đánh giá chất lượng tranh tụng làm cơ sở khoa học và động lực giúp cho việc để đánh giá công bằng, đúng đắn và hợp lý, thúc đẩy phát triển kỹ năng và nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên, đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp; đảm bảo sự dân chủ, bình đẳng trong tố tụng hành chính. (ii) Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ và năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm của Kiểm sát viên tham gia hoạt động tranh tụng tại phiên Tòa Hành chính. (iii) Thẩm phán tham gia phiên toà phải thực sự coi trọng nguyên tắc tranh tụng, không can thiệp, hạn chế, cản trở quá trình tranh tụng giữa các bên tại phiên tòa.

Bốn là, tăng cường đối thoại trong xét xử các vụ án hành chính. Tăng cường đối thoại trong xét xử hành chính là việc thúc đẩy việc trao đổi ý kiến, tranh luận giữa các bên liên quan (người khởi kiện, cơ quan hành chính, người có quyền lợi liên quan) để tìm kiếm giải pháp hòa bình và công bằng trước khi đưa vụ án ra xét xử. Điều này giúp tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời tăng tính minh bạch và công khai trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Đối thoại giúp các bên tìm ra điểm chung và thỏa thuận được cách giải quyết vụ án, tránh việc kéo dài thời gian xét xử. Đồng thời, cơ quan hành chính (bên bị kiện) phải chủ động đối thoại, giải thích và giải quyết các vấn đề phát sinh, thể hiện trách nhiệm của mình đối với người dân. Việc đối thoại phải được tiến hành theo các nguyên tắc: bảo đảm công khai, dân chủ, tôn trọng ý kiến của đương sự; không được ép buộc các đương sự thực hiện việc giải quyết vụ án hành chính trái với ý chí của họ; nội dung đối thoại, kết quả đối thoại thành giữa các đương sự không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Việc tăng cường đối thoại trong xét xử hành chính là một xu hướng tích cực, giúp giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả và công bằng. Các cơ quan chức năng cần phối hợp chặt chẽ để thực hiện tốt các biện pháp tăng cường đối thoại, góp phần nâng cao chất lượng xét xử hành chính và bảo vệ quyền lợi của người dân.

Năm là, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng xét xử cho đội ngũ Thẩm phán xét xử các vụ án hành chính. Chất lượng của đội ngũ Thẩm phán Tòa Hành chính là nhân tố chủ yếu quyết định chất lượng xét xử các vụ án hành chính. Vì vậy, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng xét xử là yêu cầu bắt buộc, thường xuyên của Tòa án. Tiêu chuẩn cán bộ Tòa án được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết: “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư”. "Phụng công" tức là quyền thực thi pháp luật, làm việc để phụng sự đất nước, phụng sự Nhân dân; "thủ pháp" là thực thi pháp luật cho rõ ràng, minh bạch, khách quan “chí công, vô tư” là công bằng, công tâm, vô tư, khách quan, không tư lợi. Ngày nay, tiêu chuẩn đó được quy định rõ trong Bộ Quy tắc ứng xử của Thẩm phán, làm căn cứ để mỗi Thẩm phán tu dưỡng, rèn luyện bản thân mình. Để làm tốt điều đó, cần thực hiện tốt các giải pháp cụ thể: (i) Thẩm phán không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp trong áp dụng pháp luật. Hoạt động xét xử của Thẩm phán hành chính là hoạt động áp dụng pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đảm bảo thực thi công lý, công bằng xã hội. Vì vậy, đầu tiên là chính bản thân mỗi Thẩm phán hơn ai hết cần xác định thường xuyên học tập và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp là trách nhiệm, là lòng tự trọng đối với bản thân và công việc. (ii) Tòa án các cấp cần đẩy mạnh thực hiện đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thẩm phán, thực hiện rà soát, bổ sung quy hoạch, luân chuyển đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp. Thực hiện tốt công tác đánh giá cán bộ và lựa chọn cán bộ có đủ trình độ và năng lực, bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức phẩm chất tốt, hết lòng, hết sức phụng sự công lý, phục vụ Nhân dân. (iii) Thực hiện cải cách chế độ tiền lương cho đội ngũ Thẩm phán. Xây dựng một chế độ đãi ngộ thỏa đáng sẽ tạo nên tính hấp dẫn của nghề Thẩm phán và thu hút được đội ngũ Thẩm phán giỏi, tâm huyết, liêm chính với nghề.

Sáu là, thực hiện tốt cơ chế tự kiểm soát trong nội bộ Tòa án nói chung và Tòa Hành chính nói riêng. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát cần được tiến hành thường xuyên, liên tục. Cần xử lý nghiêm những tập thể và cá nhân có sai phạm trong quản lý, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ. Cần tăng cường thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ, phát hiện sớm và khắc phục, xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật, vi phạm quy chế nghiệp vụ trong hoạt động của Tòa án nói chung và trong quá trình giải quyết, xét xử các vụ án nói riêng theo đúng quy định. Phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh với các hành vi tham nhũng, tiêu cực đi cùng với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Mỗi Thẩm phán đều cần phải tự giác, gương mẫu, tích cực phòng, chống tham nhũng, lãng phí, biến quá trình nâng cao trình độ, năng lực, tu dưỡng đạo đức cách mạng trở thành nhu cầu tự thân của chính mình.

Bảy là, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số vào hoạt động xét xử của Tòa Hành chính. Trong giai đoạn “kỷ nguyên số”, nhiệm vụ cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động xét xử các vụ án hành chính cũng phải thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ. Xây dựng, hiện đại hoá công sở theo hướng chuyển đổi số, xây dựng Tòa án điện tử, áp dụng công nghệ hiện đại...không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xét xử mà còn hỗ trợ cho yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng và chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân hiện nay. Việc ứng dụng hạ tầng công nghệ thông tin cho hoạt động của Tòa án nhằm góp phần tăng cường tính chuyên nghiệp, công khai, minh bạch hoạt động xét xử của Tòa án.

TS. HOÀNG THỊ THU THỦY (Học viện Chính trị khu vực III )

[1] Bộ Nội vụ (chuyên trang Chuyển đổi số), Điểm nghẽn thể chế và áp lực cải cách, 25/10/2024,  https://moha.gov.vn/chuyen-doi-so/nghien-cuu-trao-doi/diem-nghen-the-che-va-ap-luc-cai-cach-d735-t56467.html. Cũng xem Thành An, “Điểm nghẽn” của “điểm nghẽn” do ai? Báo Quân đội Nhân dân, 3/11/2024, https://www.qdnd.vn/cung-ban-luan/diem-nghen-cua-diem-nghen-do-ai-801406.

Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng (tháng 3/2022) xét xử trực tuyến vụ án hành chính - Nguồn: Báo điện tử Cao Bằng.