Thực trạng và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về phân chia di sản
Thời gian qua, các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về công chứng nói riêng luôn có những sửa đổi, bổ sung để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội. Hoạt động công chứng thường gắn liền với việc chứng nhận các giao dịch mà theo quy định của pháp luật bắt buộc phải công chứng hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng. Những điều chỉnh của pháp luật cũng tác động rất lớn đến hoạt động công chứng của công chứng viên.
Đặt vấn đề
Hiên nay, pháp luật nội dung về phân chia di sản được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật về thủ tục phân chia di sản được thực hiện theo pháp luật về công chứng. Tuy nhiên, khi áp dụng pháp luật nội dung và pháp luật về thủ tục phân chia di sản trên thực tế cũng còn khó khăn, vướng mắc và còn nhiều quan điểm áp dụng khác nhau. Trong phạm vi bài viết, tác giả nêu ra thực trạng quy định của pháp luật, phân tích, làm rõ một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc phân chia di sản, đồng thời đưa ra một số đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quy định này.
1. Quy định của pháp luật về phân chia di sản
Thứ nhất, quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) về phân chia di sản.
Phân chia di sản được hiểu, khi một người có tài sản chết sẽ phát sinh vấn đề thừa kế di sản. BLDS quy định thừa kế gồm: thừa kế theo pháp luật hoặc thừa kế theo di chúc.
Căn cứ quy định của pháp luật, việc phân chia di sản sẽ được thực hiện như sau:
(i) Phân chia di sản theo di chúc.
“1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản”[1].
Căn cứ theo quy định nêu trên, việc phân chia di sản sẽ thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc. Khi di chúc đã xác định việc phân chia di sản cho những người thừa kế thì những người thừa kế không có quyền thỏa thuận phân chia lại di sản trừ trường hợp khác theo quy định của luật. Điều này thể hiện nguyên tắc thực hiện theo ý chí của người lập di chúc. Trường hợp di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế, di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ngoài việc lựa chọn chia đều mỗi người thừa kế một phần bằng nhau, những người thừa kế có thể thỏa thuận phân chia theo ý chí của họ.
(ii) Phân chia di sản theo pháp luật.
“1. Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng. 2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia”[2].
Căn cứ quy định nêu trên và các quy định về thừa kế theo pháp luật[3], việc phân chia di sản theo pháp luật sẽ được thực hiện theo cách thức chia ra các phần bằng nhau và những người thừa kế theo pháp luật sẽ hưởng mỗi người một phần.
Thứ hai, quy định của Luật Công chứng liên quan đến việc phân chia di sản.
Phân chia di sản là cách thức người thừa kế thực hiện để nhận phần di sản mà mình được hưởng. Tùy vào mỗi loại tài sản, pháp luật sẽ quy định việc phân chia có cần phải qua trình tự, thủ tục công chứng hoặc chứng thực hay không. Quy định của pháp luật về công chứng hiện nay cũng có nhiều thay đổi so với pháp luật công chứng trước đây về phân chia di sản thừa kế. Cụ thể:
Căn cứ Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ quy định về hoạt động công chứng, chứng thực, quy định: “Những người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người, thì họ có quyền yêu cầu công chứng, chứng thực văn bản thoả thuận phân chia di sản, khi không có tranh chấp. Trong văn bản thoả thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể nhường toàn bộ quyền hưởng di sản của mình cho người thừa kế khác…”[4]. và “Người duy nhất được hưởng di sản theo pháp luật của người để lại di sản có quyền yêu cầu công chứng, chứng thực văn bản khai nhận di sản”[5].
Tiếp đến, Luật Công chứng 2006 và Luật Công chứng 2014, quy định việc phân chia di sản được thực hiện như sau: “Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì họ có quyền yêu cầu công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản. Trong văn bản thoả thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần quyền hưởng di sản của mình cho người thừa kế khác”[6]; và “Người duy nhất được hưởng di sản theo pháp luật hoặc những người cùng được hưởng di sản theo pháp luật nhưng thỏa thuận không phân chia di sản đó có quyền yêu cầu công chứng văn bản khai nhận di sản”[7].
Căn cứ Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, Luật Công chứng 2006 và Luật Công chứng 2014, việc phân chia di sản về cơ bản sẽ thực hiện theo hai hình thức, (i) Văn bản thỏa thuận phân chia di sản, áp dụng khi những người hưởng di sản theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người. Khi thực hiện “phân chia di sản”, ngoài việc thỏa thuận phân chia, những người thừa kế được nhượng quyền hưởng di sản (theo quy định của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP) hay tặng cho di sản của mình được hưởng cho các đồng thừa kế khác (theo quy định của Luật Công chứng 2006 và Luật Công chứng 2014. (ii) Văn bản khai nhận di sản sẽ được áp dụng trong trường hợp người duy nhất được hưởng di sản theo pháp luật hoặc những người cùng được hưởng di sản theo pháp luật nhưng thỏa thuận không phân chia di sản. Khi thực hiện khai nhận di sản, những người thừa kế sẽ không được quyền nhượng hay tặng cho phần di sản của mình cho các đồng thừa kế khác.
Hiện nay, Luật Công chứng 2024, quy định: “Người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc có quyền yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sản. Công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra, bảo đảm việc phân chia di sản được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan”[8]. Quy định này cũng được áp dụng đối với trường hợp duy nhất một người thừa kế theo pháp luật hoặc thừa kế theo di chúc[9]. Điểm mới của Luật Công chứng 2024, luật không còn quy định đối với hình thức khai nhận di sản như quy định của pháp luật về công chứng trước đây. Ngoài ra, khi thực hiện phân chia di sản, các đồng thừa kế không được nhượng quyền hay tặng cho phần di sản của mình cho các đồng thừa kế khác.
2. Một số vướng mắc, hạn chế của pháp luật về phân chia di sản và kiến nghị giải pháp hoàn thiện
Thứ nhất, vướng mắc và hạn chế về phân chia di sản trong quy định của BLDS 2015.
Một là, về phân chia di sản thừa kế theo di chúc.
Căn cứ Điều 569 BLDS 2015 quy định: “Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”[10]. Theo quy định trên, việc phân chia di sản cơ bản sẽ thực hiện theo ý nguyện của người lập di chúc, trường hợp di chúc không xác định rõ từng phần của từng người được hưởng, cơ bản sẽ chia đều di sản cho những người thừa kế, pháp luật cũng ghi nhận các đồng thừa kế được quyền thỏa thuận khác. Vấn đề đặt ra, thỏa thuận khác tại điều luật này được hiểu như thế nào, hiện nay cũng chưa có hướng dẫn cụ thể “thỏa thuận khác” sẽ thực hiện như thế nào. Thực tiễn áp dụng, vấn đề này có hai luồng quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, BLDS 2015 quy định nguyên tắc là tôn trọng tự do thỏa thuận, nếu thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội[11]. Quy định nêu trên sẽ cho phép những người thừa kế được quyền “thỏa thuận”, có thể thỏa thuận chia đều di sản này cho mỗi người một phần bằng nhau, hoặc chia theo tỷ lệ người được nhiều, người được ít và cũng có thể chia hết cho một người được hưởng toàn bộ di sản.
Quan điểm thứ hai cho rằng, trường hợp trong di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế được hưởng, những người thừa kế có thể thỏa thuận chia đều di sản này cho mỗi người bằng nhau, hoặc chia theo tỷ lệ người được nhiều, người được ít. Tuy nhiên, những người thừa kế không quyền được chia hết di sản cho một người được hưởng di sản. Trường hợp chia hết cho một người thừa kế, đây được hiểu là tặng cho hoặc nhường phần thừa kế di sản. Và việc chia hết cho một người được hưởng cũng trái với nguyên tắc phân chia, phân chia được hiểu là sẽ chia cho mỗi người đều được nhận.
Hai là, về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật.
Việc phân chia di sản theo pháp luật được quy định tại BLDS 2015. Điều 660 BLDS 2015 quy định: “Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng. 2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia”. Điều luật trên không thể hiện, những người thừa kế theo pháp luật được quyền thỏa thuận phân chia di sản như đối với trường hợp phân chia di sản theo di chúc[12]. Tuy nhiên, khi áp dụng điều luật này trên thực tế cũng còn tồn tại các quan điểm khác nhau. Cụ thể:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, về nguyên tắc thỏa thuận phân chia di sản theo pháp luật cũng được áp dụng như đối với trường hợp phân chia di sản theo di chúc[13]. Những người thừa kế cũng được quyền tự thỏa thuận phân chia theo ý chí của họ và họ có thể chia hết cho một người thừa kế được hưởng toàn bộ di sản.
Quan điểm thứ hai cho rằng, do Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015 không quy việc những người thừa kế được quyền thỏa thuận phân chia di sản. Nên việc phân chia sẽ chia cho mỗi người hưởng một phần bằng nhau. Ngoài áp dụng quy định tại Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015, quan điểm này cũng áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015.
Thứ hai, vướng mắc và hạn chế trong thủ tục phân chia di sản theo Luật Công chứng 2024.
Luật Công chứng 2024 hiện nay không ghi nhận khi tiến hành thủ tục phân chia di sản, những người thừa kế không được quyền nhượng “phần di sản” hay “tặng cho kỷ phần” di sản của mình cho các đồng thừa kế khác. Việc quy định về “nhượng quyền” hay “tặng cho” kỷ phần di sản cho các đồng thừa kế khác được hưởng đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật về công chứng trước đây như: Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, Luật Công chứng 2006 và Luật Công chứng 2014. Và trong thực tiễn hoạt động xét xử các vụ án về thừa kế, nhiều bản án cũng thể hiện ghi nhận các đồng thừa kế cũng được quyền thừa kế di sản” hay “tặng cho kỷ phần” di sản mình được hưởng cho các đồng thừa kế khác[14]. Việc Luật Công chứng 2024 không còn quy định về “nhượng quyền” hay “tặng cho phần di sản” khi thực hiện phân chia di sản, phần nào đã gây rất nhiều khó khăn, vướng mắc cho người thừa kế trong việc định đoạt kỷ phần di sản thừa kế của mình. Trường hợp muốn nhượng phần di sản hay tặng cho phần di sản cho các đồng thừa kế khác, người thừa kế phải thực hiện xong thủ tục phân chia di sản, thực hiện đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng (nếu tài sản bắt buộc phải đăng ký), sau đó mới làm thủ tục tặng cho các đồng thừa kế được. Quy định này của pháp luật vô tình gây mất thời gian, tốn kém chi phí của người dân.
Những sự thay đổi, điều chỉnh của pháp luật nhằm phục vụ lợi ích chính đáng của người dân. Tuy nhiên, không phải những thay đổi, điều chỉnh đều mang lại lợi ích trong thực tiễn. Từ những phân tích thực trạng và một số khó khăn, vướng mắc của pháp luật về phân chia di sản. Tác giả xin đưa ra một số giải pháp, kiến nghị như sau:
Một là, đối với quy định về phân chia di sản theo di chúc, kiến nghị khi sửa đổi, bổ sung BLDS 2015 cần sửa đổi theo hướng: Trường hợp di chúc đã xác định rõ phần của từng người thừa kế, những người thừa kế theo di chúc vẫn được quyền thỏa thuận phân chia lại di sản. Điều này thể hiện nguyên tắc tự do thỏa thuận được ghi nhận trong BLDS 2015. Việc hạn chế không cho phép thỏa thuận phân chia di sản trong trường hợp này, vô hình chung làm hạn chế quyền tự do thỏa thuận của những người thừa kế. Điều luật cũng cần bổ sung quy định về thỏa thuận phân chia di sản, những người thừa kế có thể thỏa thuận phân chia theo tỷ lệ, có thể thỏa thuận người này nhận di sản này và người kia nhận di sản kia, đồng thời không cho phép những người thừa kế được quyền thỏa thuận chia hết di sản cho một người được hưởng. Việc bổ sung quy định này sẽ tạo sự thống nhất trong việc áp dụng quy định của pháp luật vào trong thực tiễn và giải quyết được khó khăn của người dân.
Ngoài việc bổ sung thỏa thuận phân chia di sản, bổ sung quy định những người thừa kế được quyền nhượng quyền thừa kế hoặc tặng cho kỷ phần di sản mà mình được hưởng cho các đồng thừa kế khác. Việc bổ sung quy định này nhằm giải quyết nhu cầu của người dân trong thực tiễn khi thực hiện phân chia di sản, nhiều trường hợp, những người thừa kế muốn nhượng phần di sản hay tặng cho phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế xác định cụ thể mà không phải làm thủ tục từ chối di sản. Thực tế hiện nay, những người thừa kế muốn tặng cho di sản mà họ được hưởng cho các đồng thừa kế khác, những người thừa kế phải thực hiện rất nhiều thủ tục, gây phiền hà cho người dân. Điều này đi trái với chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong việc bản đảm quyền lợi cho người dân, giảm thiểu thủ tục hành chính.
Hai là, đối với phân chia di sản theo pháp luật, BLDS 2015 cũng cần bổ sung quy định, ngoài việc quy định chia đều theo phần cho những người thừa kế, những người thừa kế có thể tự thỏa thuận về việc phân chia di sản. Những người thừa kế có thể thỏa thuận phân chia như phân chia theo di chúc mà tác giả đã đề xuất ở nội dung trên. Trong quá trình phân chia di sản, những người thừa kế cũng có thể nhượng quyền hay tặng cho kỷ phần di sản mà mình được hưởng cho các đồng thừa kế khác.
Ba là, về thủ tục phân chia di sản, hiện nay Luật Công chứng 2024 chỉ quy định thủ tục “phân chia di sản” mà không còn ghi nhận thủ tục “khai nhận di sản” như quy định của pháp luật về công chứng trước đây[15]. Việc Luật Công chứng 2024 bỏ thủ tục “khai nhận di sản” cũng gây ra một số khó khăn và vướng mắc khi thực hiện phân chia di sản. Cụ thể, trường hợp một người duy nhất thừa kế theo di chúc hoặc một ngươi duy nhất thừa kế theo pháp luật, trong trường hợp này không phải là thụ tục phân chia di sản như quy định hiện nay, những người thừa kế chỉ cần khai ra để nhận di sản. Do đó, Tác giả đề xuất, ngoài quy định về hình thức phân chia di sản như hiện nay, Luật Công chứng 2024 cũng cần bổ sung thủ tục khai nhận di sản. Thủ tục khai nhận di sản sẽ áp dụng đối với trường hợp thừa kế có duy nhất một người theo pháp luật hoặc duy nhất một người thừa kế theo di chúc. Đối với các trường hợp còn lại phải thực hiện theo thủ tục phân chia di sản như quy định hiện nay. Việc bổ sung thêm thủ tục khai nhận di sản hoàn toàn giải quyết những bất cập hiện này, việc bổ sung này không trái với quy định của pháp luật về dân sự và pháp luật về công chứng.
Kết luận
Pháp luật được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội ngày càng phát sinh nhiều và phức tạp, đòi hỏi pháp luật luôn thường xuyên phải sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện. Quy định pháp luật được áp dụng tốt trên thực tế, quy định đó phải có tính thống nhất, không mẫu thuẫn và có nhiều quan điểm áp dụng khác nhau. Hơn hết, pháp luật phải bản đảm quyền lợi ích hợp pháp cho người dân, bảo đảm được cá nhân, pháp nhân được quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do thỏa thuận, nếu các thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Trong bài viết này, tác giả xin nêu ra thực trạng và một số khó khăn vướng mắc của pháp luật về phân chia di sản khi tiếp cận quy định của BLDS và Luật Công chứng. Đồng thời cũng đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về phân chia di sản trong BLDS 2015 và Luật Công chứng 2024. Tác giả hy vọng những đóng góp nêu trên sẽ hoàn thiện quy định của BLDS 2015, Luật Công chứng 2024 trong việc điều chỉnh nội dung về phân chia di sản. Từ đó tạo được sự thống nhất trong việc áp dụng và tạo thuận lợi cho người dân.
[1] Điều 659 BLDS 2015.
[2] Điều 660 BLDS 2015.
[3] Khoản 5 Điều 651 BLDS 2015.
[4] Khoản 1 Điều 52 Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000.
[5] Khoản 1 Điều 53 Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000.
[6] Khoản 1 Điều 49 Luật Công chứng 2006; khoản 1 Điều 57 Luật Công chứng 2014.
[7] Khoản 1 Điều 50 Luật Công chứng 2006; khoản 1 Điều 58 Luật Công chứng 2014.
[8] Khoản 1 Điều 59 Luật Công chứng 2024.
[9] Khoản 5 Điều 59 Luật Công chứng 2024.
[10] Khoản 1 Điều 659 BLDS 2015.
[11] khoản 2 Điều 3 BLDS 2015.
[12] Điều 659, Bộ luật Dân sự 2015
[13] khoản 1 Điều 659, Bộ luật Dân sự 2015
[14] xem Bản án số 10/2024/DS-ST ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân quận T, TP. Đ về tranh chấp chia di sản thừa kế.
[15] Điều 58 Luật Công chứng 2014.
Ảnh minh họa: TL
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Miễn trách nhiệm hình sự đối với tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
-
Chuyên án VN10: Từ những tuýp kem đánh răng đến phiên tòa xét xử 227 bị cáo
-
Đương sự từ chối nhận, ký nhận văn bản tố tụng tại trụ sở Tòa án nhân dân - Thực trạng và đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật
-
TANDTC họp giao ban, rà soát tiến độ và triển khai nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới
-
Chính phủ quy định trường hợp không áp dụng một số quy định đối với hợp đồng phái sinh có thanh toán ròng
Bình luận