Tiêu chuẩn xác lập quyền và cơ chế bù đắp thời hạn bảo hộ sáng chế theo Hiệp định CPTPP và EVFTA

Bài viết phân tích chi tiết các quy định về xác lập quyền, công bố thông tin và các điều kiện để gia hạn thời hạn bảo hộ sáng chế - những yếu tố then chốt đang làm thay đổi diện mạo pháp luật sở hữu trí tuệ của các quốc gia thành viên.

Đặt vấn đề

Trong hệ thống sở hữu trí tuệ (SHTT), sáng chế luôn được coi là đối tượng nhận được sự quan tâm đặc biệt bởi mối liên hệ mật thiết giữa quyền độc quyền của nhà sáng tạo và lợi ích công cộng trong việc tiếp cận công nghệ. Tuy nhiên, một thực trạng phổ biến là quy trình thẩm định văn bằng và cấp phép lưu hành sản phẩm thường kéo dài, vô hình trung làm rút ngắn thời hạn bảo hộ hữu hiệu của chủ sở hữu. Để khắc phục vấn đề này, các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA đã thiết lập những chuẩn mực khắt khe về tính minh bạch, hiệu quả trong thủ tục cấp phép, đồng thời lần đầu tiên giới thiệu cơ chế “bù đắp thời hạn” cho những chậm trễ bất hợp lý từ phía cơ quan quản lý.

1. Nguyên tắc xác lập và quyền của người nộp đơn sáng chế trong CPTPP

Các quy định liên quan đến thủ tục cấp phép bảo hộ sáng chế trong CPTPP chủ yếu tập trung vào các nội dung cơ bản như sau: thứ nhất, nguyên tắc nộp đơn xin cấp bằng sáng chế; thứ hai, quyền của người nộp đơn đối với việc bổ sung, sửa đổi và theo dõi đơn; thứ ba, thời hạn công bố đơn sáng chế; thứ tư,yêu cầu đối với những thông tin công bố; thứ năm, hủy bỏ bằng độc quyền sáng chế và thứ sáu, điều chỉnh thời hạn bảo hộ của sáng chế nhằm bù đắp sự chậm trễ trong công đoạn thực hiện các thủ tục cấp văn bằng bảo hộ. Trong khi EVFTA đặt trọng tâm vào việc thúc đẩy cơ chế đầy đủ và hiệu quả để đền bù cho chủ sở hữu sáng chế dược phẩm vì việc giảm thời hạn bảo hộ hữu hiệu của bằng sáng chế do sự chậm trễ bất hợp lý trong việc cấp phép lưu hành thị trường lần đầu tại lãnh thổ của các thành viên.

Về nộp đơn xin cấp bằng sáng chế, Điều 18.42 quy định về việc nếu sáng chế được tạo ra một cách độc lập bởi từ hai nhà sáng chế trở lên và các hồ sơ xin cấp bằng sáng chế riêng biệt được nộp thì bằng sáng chế sẽ được cấp cho hồ sơ hợp lệ và có thời gian nộp hồ sơ hoặc ngày ưu tiên sớm nhất, trừ khi hồ sơ đó bị thu hồi, bị hủy bỏ hoặc bị từ chối trước khi được công bố. Bên cạnh đó, tại chú thích số 34 CPTPP đưa ra quy định cụ thể cho trường hợp này, cụ thể: một bên có thể cấp bằng sáng chế cho đơn nộp sau nào đáp ứng điều kiện cấp bằng, nếu đơn nộp trước đã được rút, từ bỏ hoặc bị từ chối, hoặc không phải là tình trạng kỹ thuật đã biết đối với đơn nộp sau[1]. Quy định này thể hiện rõ nội hàm của nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong CPTPP. CPTPP cũng đưa ra yêu cầu về việc người nộp sáng chế phải được dành cho cơ hội ít nhất một lần để sửa đổi, sửa chữa và nêu ý kiến đối với đơn của mình. Ngoài ra, các quốc gia thành viên cũng có thể quy định rằng các sửa đổi này không vượt quá phạm vi bộc lộ của sáng chế tại thời điểm nộp đơn[2].

2. Tính minh bạch trong thời hạn công bố đơn và yêu cầu đối với thông tin công bố trong CPTPP

Về thời hạn công bố đơn, nhằm bảo đảm tính minh bạch của hệ thống bảo hộ sáng chế, CPTPP yêu cầu các quốc gia thành viên phải “nỗ lực công bố các đơn sáng chế đang xử lý mà chưa công bố ngay sau khi hết thời hạn 18 tháng kể từ ngày nộp đơn hoặc nếu đơn có ngày ưu tiên thì kể từ ngày ưu tiên sớm nhất. Nếu một đơn đang thẩm định không được công bố ngay theo quy định trên thì phải côngbố đơn hoặc bằng sáng chế tương ứng ngay khi có thể thực hiện được. Ngoài ra, các quốc gia thành viên có thể quy định về việc người nộp đơn có thể yêu cầu công bố đơn sớm trước khi hết thời hạn 18 tháng nêu trên”[3].

Về yêu cầu đối với thông tin công bố, đối với đơn đăng ký sáng chế và bằng sáng chế đã cấp, CPTPP đưa ra yêu cầu về việc các quốc gia thành viên phải cho phép công chúng tiếp cận tối thiểu với các thông tin sau: thứ nhất, kết quả tra cứu và thẩm định, bao gồm các chi tiết hoặc thông tin liên quan tới các tra cứu tình trạng kỹ thuật tương ứng; thứ hai, thông tin công khai từ người nộp đơn, nếu phù hợp; và thứ ba, các tài liệu dẫn chiếu có liên quan dưới dạng bằng sáng chế hoặc dạng khác mà người nộp đơn hoặc bên thứ ba cung cấp4.

3. Cơ sở pháp lý cho việc hủy bỏ và đình chỉ hiệu lực văn bằng

Một trong những đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền đối với sáng chế nói riêng là hiệu lực của văn bằng bảo hộ có thể bị hủy bỏ, thay đổi trong toàn bộ thời gian bảo hộ. Tại khoản 1 Điều 18.39 CPTPP xác lập nguyên tắc chung cho việc hủy bỏ, thu hồi hoặc vô hiệu văn bằng bảo hộ sáng chế, theo đó các bên phải quy định rằng sáng chế có thể bị hủy bỏ, thu hồi hoặc bị vô hiệu chỉ trên những căn cứ mà đáng lẽ đã là căn cứ để từ chối cấp bằng bảo hộ sáng chế. Ngoài ra, các quốc gia thành viên cũngcó thể quy định rằng các hành vi gian lận, không trung thực hoặc không công bằng có thể là cơ sởcho việc hủy bỏ, thu hồi, vô hiệu bằng độc quyền sáng chế hoặc đình chỉ để bằng độc quyền sáng chếkhông thể thực thi được. Không phụ thuộc vào các quy định trên, các quốc gia thành viên có thể quyđịnh rằng bằng độc quyền sáng chế có thể bị thu hồi với điều kiện việc thu hồi này phải được thựchiện phù hợp với Điều 5A Công ước Paris và với Hiệp định TRIPS5.

4. Cơ chế bù đắp thời hạn bảo hộ do chậm trễ hành chính trong CPTPP

Việc xác định độ dài của thời hạn bảo hộ độc quyền sáng chế có ý nghĩa hết sức quan trọng. Việc xác định thời hạn bảo hộ này phải được xây dựng trên cơ sở cân bằng giữa lợi ích của chủ sở hữu và lợi ích của xã hội. Nếu quy định thời hạn quá ngắn thì chủ sở hữu sáng chế sẽ không có đủ thời gian thu hồi vốn đầu tư và thu lợi nhuận một cách hợp lý, hậu quả là không khuyến khích được hoạt động sáng tạo, đổi mới. Ngược lại, nếu thời hạn quá dài sẽ dẫn tới hạn chế quyền của xã hội trong việc tiếp cận các thành quả khoa học kỹ thuật mới nói chung và quyền được tiếp cận chăm sóc y tế nói riêng. Hiệp định TRIPS quy định về thời hạn bảo hộ 20 năm và không có bất cứ một lưu ý nào liên quan đến khả năng kéo dài thời hạn này. Việc cấp văn bằng bảo hộ cho sáng chế phải thông qua nhiều công đoạn khác nhau với những quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hạn xử lý. Bất cứ sự chậm trễ nào trong từng công đoạn cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực thực tế của văn bằng bảo hộ với lý do văn bằng bảo hộ có hiệu lực từ thời điểm cấp nhưng thời hạn bảo hộ lại được tính từ thời điểm nộp đơn đăng ký6. Với quan điểm bảo vệ quyền cho người nộp đơn (sau này sẽ trở thành chủ sở hữu sáng chế), CPTPP yêu cầu các quốc gia thành viên phải “nỗ lực hết sức để xử lý đơn sáng chế một cách có hiệuquả và kịp thời, với mục tiêu tránh những chậm trễ không cần thiết và bất hợp lý”, đồng thời có thể quyđịnh các thủ tục cho phép người nộp đơn sáng chế đề nghị thẩm định nhanh đơn sáng chế của mình7.Cũng với mục tiêu nêu trên, CPTPP quy định về khả năng điều chỉnh để mở rộng thời hạn bảo hộ sáng chế theo yêu cầu của chủ sở hữu nếu có sự chậm trễ bất hợp lý của cơ quan đăng ký. Khoản 3 Điều 18.46 quy định: “Nếu có sự chậm trễ bất hợp lý trong việc cấp bằng sáng chế của một bên, bên đó sẽ phải cung cấp các phương tiện theo yêu cầu của chủ sở hữu sáng chế để điều chỉnh thời hạn của bằng sáng chế bù đắp cho sự chậm trễ trên”8. Trong đó, “trì hoãn bất hợp lý” được hiểu là sự trì hoãn cấp văn bằng bảo hộ hơn 5 năm kể từ ngày nộp đơn hoặc 3 năm sau khi yêu cầu thẩm định đơn đã được nộp, tùy thuộc vào thời gian nào muộn hơn. Mỗi bên có thể loại trừ khoảng thời gian không nằm trong quá trình thẩm tra hoặc kiểm tra hồ sơ xin cấp bằng sáng chế của cơ quan cấp bằng sáng chế; khoảng thời gian mà không liên quan trực tiếp đến cơ quan cấp bằng sáng chế; cũng như khoảng thời gian đó dành cho người nộp đơn sáng chế9. Ngoài ra, liên quan đến sáng chế dược phẩm, khoản 2 Điều 18.48 CPTPP quy định về khả năng điều chỉnh thời hạn văn bằng bảo hộ sáng chế dược phẩm để bồi thường cho chủ sở hữu sáng chế trong trường hợp có sự cắt giảm bất hợp lý thời hạn bảo hộ xảy ra do quá trình cấp giấy phép lưu hành dược phẩm (Điều 18.46 và Điều 18.48 đang được tạm đình chỉ thi hành).

5. Gia hạn bảo hộ sáng chế dược phẩm và các ưu đãi đặc thù trong EVFTA

Như đã đề cập ở trên, EVFTA không đề cập trực tiếp các tiêu chuẩn bảo hộ sáng chế cụ thể như CPTPP mà chủ yếu đưa ra những yêu cầu về việc thiết lập “cơ chế đầy đủ và hiệu quả” để bù đắp cho chủ sở hữu sáng chế dược phẩm do việc giảm thời hạn bảo hộ thực tế của bằng sáng chế với nguyên nhân từ sự chậm trễ bất hợp lý trong việc cấp phép lưu hành thị trường lần đầu tại lãnh thổ của mình. Trên cơ sở thừa nhận rằng dược phẩm được bảo hộ sáng chế tại lãnh thổ mỗi bên thường phải qua thủ tục hành chính để xin cấp phép trước khi được đưa ra thị trường (gọi là “thủ tục cấp phép lưu hành thị trường”), EVFTA yêu cầu các bên của Hiệp định phải quy định cơ chế đầy đủ và hiệu quả để đền bù cho chủ sở hữu sáng chế vì việc giảm thời hạn bảo hộ hữu hiệu của bằng sáng chế do sự chậm trễ bất hợp lý trong việc cấp phép lưu hành thị trường đầu tiên tại lãnh thổ của mình; việc đền bù đó có thể dưới hình thức gia hạn thời hạn quyền có được từ bảo hộ sáng chế, tương ứng với thời gian vượt quá thời hạn được nêu tại chú thích của đoạn này và thời gian gia hạn tối đa không quá 2 năm. Trong đó, sự “chậm trễ bất hợp lý” ít nhất phải bao gồm trì hoãn quá 2 năm để trả lời lần đầu tiên cho người nộp đơn xin cấp phép lưu hành thị trường kể từ ngày nộp đơn. Bên cạnh đó, bất cứ sự trì hoãn nào trong quá trình cấp phép lưu hành thị trường do người nộp đơn hoặc bất kỳ khoảng thời gian nào nằm ngoài tầm kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền đều không được tính khi xác định thời gian trì hoãn này10. Ngoài ra, thay cho quy định nêu trên, các bên có thể lựa chọn phương án khác để bù đắp cho chủ sở hữu sáng chế dược phẩm, cụ thể: các bên có thể cho phép gia hạn nhưng không quá 5 năm thời hạn tồn tại quyền có được từ bảo hộ sáng chế để bù đắp cho chủ sở hữu sáng chế vì việc đã làm giảm thời gian hiệu lực hữu hiệu của bằng sáng chế do thủ tục cấp phép lưu hành thị trường; hiệu lực của thời gian gia hạn này sẽ phát sinh từ khi kết thúc thời hạn bảo hộ sáng chế theo pháp luật và kéo dài tương ứng với khoảng thời gian kể từ ngày nộp đơn đăng ký sáng chế đến ngày được cấp phép lưu hành thị trường đầu tiên tại bên đó, trừ đi 5 năm. Thời gian này có thể được gian hạn thêm 6 tháng trong trường hợp dược phẩm mà việc nghiên cứu về tác động đối với trẻ em đã được tiến hành và kết quả của các nghiên cứu đó được thể hiện trên thông tin về sản phẩm11.

 

NGUYỄN THỊ QUẾ ANH

[1] Xem Điều 18.43 và chú thích số 34 Chương 18 CPTPP.

[2] Xem Điều 18.43 và chú thích số 35 Chương 18 CPTPP.

4 Xem Điều 18.44, Điều 18.45 CPTPP.

5 Xem khoản 2 Điều 18.39 CPTPP

6 Xem Nguyễn Thị Quế Anh: Quyền tiếp cận thuốc và công nghệ y tế qua các quy định về bảo hộ sáng chế trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong bảo đảm quyền con người đối với chăm sóc sức khỏe, Bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo “Ảnh hưởng của Hiệp định thương mại tự do đển bảo đảm quyền con người ở Việt Nam”, Khoa Luật, ĐHQGHN và CEPEW, 2016.

7 Xem khoản 1 và khoản 2 Điều 18.46 CPTPP.

8 Xem khoản 3 Điều 18.46 và chú thích số 36 CPTPP.

9 Xem khoản 4 Điều 18.46 CPTPP.

10 Xem khoản 1 Điều 12.40 và chú thích số 63 EVFTA.

11 Xem khoản 3 Điều 12.40 và chú thích số 63 EVFTA.

Bản tin thuộc Chuyên mục Các cam kết về sở hữu trí tuệ trong các FTA thế hệ mới, trong khuôn khổ Nhiệm vụ SHTT.TW.28-2022.

Ảnh minh hoạ: Khải Hoàn/TCTA