Bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo Hiệp định TRIPS và Hiệp định CPTPP: Từ khung pháp lý chung đến các tiêu chuẩn thực thi hiện đại

Nội dung phân tích sự tiến hóa của khái niệm chỉ dẫn địa lý từ góc độ quốc tế, làm rõ sự khác biệt giữa “chỉ dẫn nguồn gốc” và “tên gọi xuất xứ” theo tiêu chuẩn của Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) và Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Các hiệp định này không chỉ thiết lập cơ chế bảo hộ nghiêm ngặt đối với rượu vang và rượu mạnh mà còn đưa ra các quy trình hành chính minh bạch nhằm giải quyết thỏa đáng mối quan hệ xung đột giữa chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu. Qua đó, CPTPP đặt ra yêu cầu cao hơn về tính công khai, quyền khiếu nại và bảo hộ cả các hình thức phiên âm, phiên dịch của chỉ dẫn địa lý.

1. Khái niệm và nguồn gốc của chỉ dẫn địa lý

Thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” chỉ các dấu hiệu có khả năng phân biệt, bao gồm nội hàm của hai thuật ngữ khác là “chỉ dẫn nguồn gốc” và “tên gọi xuất xứ hàng hóa” - hai đối tượng được đưa vào Công ước Paris về Sở hữu công nghiệp. Thực tế, thuật ngữ này được WIPO sử dụng từ cuối những năm 80. Vì vậy, chỉ dẫn địa lý được hiểu một cách tổng hợp từ hai góc độ[1]:

Từ góc độ của một chỉ dẫn nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý là một cụm từ hoặc một dấu hiệu chỉ dẫn rằng một sản phẩm hoặc dịch vụ bắt nguồn từ một quốc gia hoặc một vùng hoặc một địa điểm cụ thể. Các điều ước quốc tế trước Hiệp định TRIPS đã xác định, việc sử dụng các chỉ dẫn nguồn gốc sai hoặc giả mạo là bất hợp pháp, song chúng không khẳng định về việc bảo hộ đối với chỉ dẫn nguồn gốc theo bản chất của quyền sở hữu trí tuệ.

Từ góc độ của một tên gọi xuất xứ, chỉ dẫn địa lý được cấu thành từ tên gọi một quốc gia, một khu vực hoặc một địa điểm cụ thể dùng để chỉ xuất xứ của hàng hóa từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó.

2. Bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo Hiệp định TRIPS

Theo TRIPS, khái niệm về chỉ dẫn địa lý được mở rộng hơn so với khái niệm tên gọi xuất xứ được quy định tại Thỏa ước Lisbon về Bảo hộ tên gọi xuất xứ và đăng ký quốc tế tên gọi xuất xứ (năm 1958). Cụ thể, chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hóa bắt nguồn từ lãnh thổ của một nước thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định. Như vậy, chỉ cần bất kỳ một trong các yếu tố: chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định, là có thể đủ để xác định và thực hiện bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Với điều kiện bảo hộ được đơn giản hơn so với tên gọi xuất xứ hàng hóa, song Hiệp định có tăng cường việc bảo hộ cho một số loại sản phẩm là rượu vang và rượu mạnh. Theo khoản 1 Điều 23, mỗi nước thành viên phải quy định những biện pháp pháp lý để các bên liên quan ngăn ngừa việc sử dụng một chỉ dẫn địa lý của các rượu vang cho những loại rượu vang không bắt nguồn từ lãnh thổ tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó hoặc sử dụng chỉ dẫn địa lý của rượu mạnh cho những loại rượu mạnh không bắt nguồn từ lãnh thổ tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó, kể cả trường hợp có nêu chỉ dẫn về xuất xứ thật của hàng hóa hoặc chỉ dẫn địa lý được sử dụng dưới dạng dịch hoặc được sử dụng kèm theo các từ như “loại”, “kiểu”, “dạng”, “phỏng theo” hoặc những từ tương tự như vậy.

Không dừng lại ở đó, Hiệp định TRIPS còn thể hiện hiện ưu tiên ở mức độ cao hơn cho việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý liên quan đến rượu vang và rượu mạnh so với nhãn hiệu. Đây là quan điểm của các nước châu Âu với thế mạnh là ngành sản xuất rượu truyền thống ở nhiều nước. Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 23, việc đăng ký một nhãn hiệu dùng cho rượu vang, có chứa hoặc được cấu thành bằng chỉ dẫn địa lý của rượu vang, hoặc nhãn hiệu dùng cho rượu mạnh, có chứa hoặc được cấu thành bằng chỉ dẫn địa lý của rượu mạnh phải bị từ chối hoặc bị hủy bỏ hiệu lực, một cách mặc nhiên nếu pháp luật quốc gia của thành viên cho phép như vậy, hoặc theo yêu cầu của bên liên quan, đối với những loại rượu vang hoặc rượu mạnh không có xuất xứ tương ứng. Trong đó, việc chứa hoặc cấu thành bằng chỉ dẫn địa lý còn có thể hiểu mở rộng sang cả các chỉ dẫn đồng âm để loại trừ khả năng đăng ký nhãn hiệu cho các chỉ dẫn này. Tuy nhiên, việc đảm bảo bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở mức cao đối với rượu vang và rượu mạnh có những giới hạn nhất định liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể đã sử dụng chỉ dẫn địa lý của nước thành viên khác. Cụ thể, quy định tại khoản 4 Điều 24 không buộc một nước thành viên phải cấm công dân hoặc người cư trú của nước mình không được tiếp tục sử dụng hoặc sử dụng theo cách thức tương tự một chỉ dẫn địa lý cụ thể về rượu vang hoặc rượu mạnh của nước thành viên khác cho hàng hóa hoặc dịch vụ, nếu những người đó đã liên tục sử dụng trong lãnh thổ của nước thành viên đó chỉ dẫn địa lý đó cho hàng hóa hoặc dịch vụ cùng loại hoặc liên quan (a) trong thời gian ít nhất là 10 năm trước ngày 15/4/1994 hoặc; (b) một cách có thiện ý trước thời điểm đó. Với các quy định khá đầy đủ về bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong TRIPS, có thể nói, pháp luật các nước thành viên được hài hòa hóa và tạo nên một môi trường bảo hộ khá tương đồng đối với chỉ dẫn địa lý trên phạm vi toàn cầu.

3. Tiêu chuẩn bảo hộ và thủ tục hành chính về bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo CPTPP

Theo CPTPP, tại Điều 18.19 có đề cập việc các quốc gia thành viên phải quy định rằng các dấu hiệucó thể dùng làm chỉ dẫn địa lý cũng có khả năng được bảo hộ theo hệ thống nhãn hiệu của mình. Ngoài ra, tại Điều 18.30, các quốc gia thành viên có thể bảo hộ chỉ dẫn địa lý thông qua hệ thống nhãn hiệu hoặc một hệ thống riêng hoặc các biện pháp pháp lý khác. CPTPP cũng đưa ra những yêu cầu về các thủ tục hành chính đối với việc công nhận và bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Theo đó, dù việc bảo hộ được thực hiện theo hệ thống riêng hay theo hệ thống bảo hộ nhãn hiệu thì đều phải tuân thủ những yêu cầu sau:

 - Chấp nhận các đơn hoặc các đề nghị này mà không cần có sự can dự của một Bên với tư cáchđại diện cho công dân của mình;

- Xử lý các đơn hoặc các đề nghị này mà không được đặt ra các thể thức nặng nề quá mức;

- Bảo đảm rằng pháp luật điều chỉnh việc nộp đơn hay đề nghị này phải sẵn có cho công chúng và quy định rõ thủ tục cho những việc đó;

- Sẵn sàng thông tin đủ để cho phép công chúng nói chung tiếp cận được hướng dẫn liên quan tớicác thủ tục nộp đơn hoặc đề nghị cũng như việc xử lý các đơn hoặc đề nghị này nói chung; và chophép người nộp đơn, người đề nghị, hoặc đại diện của những người này có thể xác định được tình trạngcủa các đơn hay các đề nghị cụ thể;

- Bảo đảm rằng các đơn hoặc các đề nghị này được công bố phục vụ việc phản đối và quy định cácthủ tục cho việc phản đối những chỉ dẫn địa lý là đối tượng của các đơn hoặc các đề nghị này;

- Quy định việc hủy bỏ bảo hộ hoặc hủy bỏ công nhận đối với chỉ dẫn địa lý.

Bên cạnh đó, CPTPP cũng đưa ra những quy định cụ thể liên quan đến các thủ tục hành chính về khiếu nại và hủy bỏ đăng ký chỉ dẫn địa lý tại Điều 18.32. Trong đó, trong trường hợp các bên có quy định về việc bảo hộ hoặc công nhận chỉ dẫn địa lý thì các bên sẽ cần đưa ra quy định về các thủ tục cho phép khiếu nại về đối tượng bảo hộ hoặc công nhận chỉ dẫn địa lý, ít nhất là trên các cơ sở sau:

- Chỉ dẫn địa lý là có khả năng gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu là đối tượng đang chờ xin phép hoặc đăng ký từ trước trong lãnh thổ của bên đó;

- Chỉ dẫn địa lý là có khả năng gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu có sẵn, các quyền đã được xác lập theo quy định của bên đó;

- Trong lãnh thổ của bên đó, chỉ dẫn địa lý là tên gọi chung của các hàng hóa có liên quan.

Các bên có thể xem xét việc áp dụng các căn cứ nêu trên từ thời điểm nộp đơn yêu cầu bảo hộ hoặc công nhận chỉ dẫn địa lý trong lãnh thổ của mình[2].

Như vậy CPTPP đã thể hiện rõ quan điểm nhằm giải quyết vấn đề về quan hệ giữa chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu, trong trường hợp có nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với một chỉ dẫn địa lý mà nhãn hiệu lại được bảo hộ trước (đã đăng ký trước hoặc đã trở nên nổi tiếng trước). Trong trường hợp này mặc dù chỉ dẫn địa lý vẫn được bảo hộ nhưng quyền của chủ nhãn hiệu sẽ được ưu tiên hơn, cụ thể: chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền ngăn cấm việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó nếu việc sử dụng này có khả năng gây ra nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại của hàng hóa. Tuy nhiên, nếu chỉ dẫn địa lý chỉ có ý nghĩa mô tả xuất xứ của hàng hóa thì được xem là ngoại lệ, vẫn được phép sử dụng song song cùng nhãn hiệu đó. Ngoài ra, nếu chỉ dẫn địa lý có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu về nguồn gốc thương mại của hàng hóa (trừ khi việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó thuộc trường hợp ngoại lệ đối với quyền của nhãn hiệu) thì sẽ không được bảo hộ.

Ngoài ra, theo CPTPP nếu các bên dành sự bảo hộ cho chỉ dẫn địa lý phiên dịch hoặc phiên âm thì các thủ tục và căn cứ cần phải được áp dụng tương đương như với chỉ dẫn địa lý thông thường[3].

 

NGUYỄN KHÁNH

[1] Trần Lê Hồng: Chuyên đề “Bảo hộ chỉ dẫn thương mại - tiếp cận theo các văn bản pháp luật quốc tế”. Đề tài NCKH “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ các chỉ dẫn thương mại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” (cấp ĐHQG) - QG.11.45 do Nguyễn Thị Quế Anh làm chủ nhiệm.

[2] Xem khoản 1 Điều 18.32 Hiệp định CPTPP.

[3] Xem khoản 5 Điều 18.32 Hiệp định CPTPP.

Bài viết thuộc Chuyên mục Các cam kết về sở hữu trí tuệ trong các FTA thế hệ mới, trong khuôn khổ Nhiệm vụ SHTT.TW.28-2022.

Ảnh minh họa: Khải Hoàn/TCTA.