Bảo hộ các biện pháp công nghệ trong CPTPP và EVFTA
Trong kỷ nguyên số, việc bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan không còn đơn thuần dựa trên các chế định pháp lý truyền thống mà ngày càng phụ thuộc vào các “hàng rào kỹ thuật”. Các biện pháp công nghệ (Technological Protection Measures - TPMs) đã trở thành lớp phòng thủ đầu tiên và trực tiếp nhất để ngăn chặn hành vi xâm phạm trên môi trường Internet. Nhằm cụ thể hóa các cam kết từ bộ đôi Hiệp ước Internet của WIPO - Hiệp ước WIPO về Quyền tác giả (WIPO Copyright Treaty - WCT) và Hiệp ước WIPO về Biểu diễn và Bản ghi âm (WIPO Performances and Phonograms Treaty - WPPT), cả hai Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đều thiết lập những chuẩn mực bảo hộ nghiêm ngặt đối với các biện pháp này. Không chỉ bảo vệ chính tác phẩm, các hiệp định này còn yêu cầu các quốc gia thành viên phải thiết lập cơ chế pháp lý để trừng phạt hành vi vô hiệu hóa các hàng rào kỹ thuật đó. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chuyên sâu về nội hàm khái niệm, phạm vi nghĩa vụ và hệ thống chế tài liên quan đến bảo hộ biện pháp công nghệ theo tiêu chuẩn của hai hiệp định quan trọng này.
1. Nền tảng pháp lý và mục tiêu bảo hộ biện pháp công nghệ
Trên cơ sở phát triển các quy định về các biện pháp công nghệ trong WCT và WPPT, cả CPTPP và EVFTA đều dành các điều khoản tương xứng để để đưa ra quy định về các chuẩn mực liên quan đến bảo hộ các biện pháp công nghệ. Theo đó, các FTA này đưa ra giải thích về mục tiêu, khái niệm và phạm vi các biện pháp công nghệ, mục đích, điều kiện, phạm vi áp dụng các biện pháp công nghệ trong bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan cũng như các chế tài có liên quan.
Mục tiêu bảo hộ các biện pháp công nghệ. Theo Điều 12.12(1) EVFTA và Điều 18.68(1) CPTPP bảo hộ các biện pháp kỹ thuật được xác lập nhằm chống lại việc vô hiệu hóa bất kỳ biện pháp công nghệ hữu hiệu nào mà chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan sử dụng để thực hiện quyền của mình và hạn chế hành vi không được phép đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm của mình.
2. Nội hàm khái niệm “Biện pháp công nghệ hữu hiệu”
Khái niệm các biện pháp công nghệ được bảo hộ được quy định tại Điều 12.12(4) EVFTA gồm bất kỳ công nghệ, thiết bị hoặc linh kiện nào mà trong quá trình hoạt động bình thường của nó, được thiết kế nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế các hành vi không được phép tác giả hoặc quyền liên quan đối với tác phẩm hoặc các đối tượng được bảo hộ khác theo quy định của luật pháp quốc gia.
Tại Điều 18.68(5) CPTPP nhấn mạnh về các biện pháp công nghệ hữu hiệu, tức là bất kỳ côngnghệ, thiết bị hoặc thành phần hiệu quả nào mà, trong quá trình hoạt động bình thường, được dùng để kiểm soát việc tiếp cận tác phẩm, cuộc biểu diễn, hoặc bản ghi âm được bảo hộ, hoặc để bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan liên quan đến tác phẩm, cuộc biểu diễn, hoặc bản ghi âm. Để rõ ràng hơn, chú thích 95 của CPTPP nêu rõ: một biện pháp công nghệ, trong trường hợp thông thường, có thể vôtình bị vô hiệu hóa thì không được coi là biện pháp công nghệ “hữu hiệu”. Tương tự như vậy, tính hữu hiệu của biện pháp công nghệ được giải thích trong Điều 12.12(4) của EVFTA như sau: biện pháp công nghệ được coi là “hữu hiệu” khi việc sử dụng tác phẩm hoặc các đối tượng được bảo hộ khác được kiểm soát bởi các chủ thể quyền thông qua ứng dụng kiểm soát truy cập hoặc quy trình bảo vệ như mã hóa, xáo trộn dữ liệu, hoặc các hình thức biến đổi khác đối với tác phẩm hoặc các đối tượng được bảo hộ khác hoặc cơ chế kiểm soát sao chép nhằm đáp ứng mục tiêu bảo hộ. Như vậy, thiết bị chống bảo vệ là bất cứ các thiết bị kỹ thuật hay chương trình máy tính nào dùng để lại bỏ bất cứ biện pháp bảo vệ kỹ thuật hữu hiệu nào đối với hàng hóa có chứa đựng các đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan.
3. Nghĩa vụ quốc gia và phạm vi, điều kiện áp dụng bảo hộ các biện pháp công nghệ
Nghĩa vụ bảo hộ các biện pháp công nghệ. Điều 12.12(1) EVFTA ràng buộc các quốc gia thành viên phải ban hành các quy định đầy đủ chống lại việc vô hiệu hóa những biện pháp kỹ thuật nêu trên. Nghĩa vụ ràng buộc tương tự cũng được đưa ra tại Điều 18.69(1) CPTPP, theo đó, các quốc gia thành viên phải thiết lập bảo hộ pháp lý đầy đủ và các chế tài pháp lý hiệu quả chống lại việc vô hiệuhóa các biện pháp công nghệ hữu hiệu mà tác giả, người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm sử dụngtrong việc thực hiện quyền của mình và hạn chế hành vi không được phép đối với tác phẩm, cuộc biểudiễn, bản ghi âm của mình.
Phạm vi và điều kiện áp dụng bảo hộ các biện pháp công nghệ. Về phạm vi áp dụng bảo hộ các biện pháp công nghệ, Điều 12.12(2) EVFTA và Điều 18.68(1b) CPTPP đều đưa ra quy định về việc ngăn cấm các hành vi trái phép liên quan đến các sản phẩm, linh kiện hoặc cung cấp các dịch vụ nhằm vô hiệu hóa các biện pháp kỹ thuật mà chủ sở hữu quyền áp dụng, bao gồm: sản xuất, nhập khẩu, phân phối, bán, cho thuê, chào bán hoặc cho thuê tới công chúng, hoặc tàng trữ nhằm mục đích thương mại và các hình thức cung cấp khác. Theo Điều 12.12(2) EVFTA và Điều 18.68(1b) CPTPP, các dạng hành vi trên sẽ bị ngăn cấm với các điều kiện như sau:
- Được quảng bá, quảng cáo hoặc tiếp thị nhằm mục đích vô hiệu hóa bất kỳ biện pháp công nghệ hữu hiệu nào;
- Không có mục đích hay công dụng chủ yếu trong thương mại đáng kể nào khác ngoài mục đích vô hiệu hóa các biện pháp công nghệ hữu hiệu; hoặc
- Chủ yếu được thiết kế, sản xuất, điều chỉnh hoặc thực hiện nhằm mục đích cho phép hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho việc vô hiệu hóa bất kỳ biện pháp công nghệ hữu hiệu nào.
Ngoài ra, Điều 18.69(1a) còn quy định thêm về một hành vi bị ngăn cấm nhằm bảo hộ các biện pháp kỹ thuật của chủ thể quyền ở dạng chung nhất áp dụng với người “biết hoặc có lý do để biết mà vẫn vô hiệu hóa không được phép bất kỳ biện pháp công nghệ hữu hiệu nào dùng để kiểm soát việctruy cập tới tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm”. Trong đó, theo giải thích tại chú thích 83 CPTPP, các quốc gia có thể quy định rằng có căn cứ để biết có thể thể hiện thông qua những bằng chứng hợp lý,có tính đến những thực tế và những trường hợp liên quan đến những hành vi bị coi là bất hợp pháp.
4. Hệ thống chế tài và tính xu thế của bảo hộ kỹ thuật trong kỷ nguyên số
Hiệp định EVFTA không đề cập tới các chế tài áp dụng đối với các hành vi vô hiệu hóa các biện pháp công nghệ mà chủ thể quyền áp dụng. Trong khi đó, Điều 18.68(1), Hiệp định CPTPP yêu cầu áp dụng các thủ tục và chế tài hành chính và dân dự đối với các hành vi nêu trên. Ngoài ra, CPTPP cũng yêu cầu áp dụng các thủ tục và chế tài hình sự đối với trường hợp cố ý và nhằm mục đích thương mại hoặc thu lợi về tài chính trong bất cứ hoạt động nào như đã phân tích ở trên[1].
Mặc dù Điều 19.68 về bảo hộ biện pháp công nghệ trong CPTPP đã được hoãn thi hành, tuy nhiên, theo xu thế chung, bảo hộ các biện pháp công nghệ do chủ thể quyền áp dụng được coi là công cụ ngày càng phổ biến (đôi khi là hữu hiệu duy nhất) giúp cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của chủ thể quyền, đặc biệt trong bối cảnh khai thác, sử dụng các đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số.
Kết luận
Việc bảo hộ các biện pháp công nghệ (TPMs) theo tiêu chuẩn CPTPP và EVFTA đã chuyển trọng tâm bảo vệ quyền tác giả từ việc xử lý hậu quả sang ngăn ngừa trực tiếp bằng kỹ thuật. Sự đồng nhất giữa hai hiệp định này trong việc định nghĩa và ngăn cấm các hành vi vô hiệu hóa hàng rào công nghệ đã tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc cho các chủ sở hữu quyền trong môi trường số. Mặc dù việc thực thi các quy định này đòi hỏi một hệ thống kỹ thuật phức tạp và sự phối hợp chặt chẽ giữa pháp luật dân sự, hành chính và hình sự, nhưng đây là hướng đi không thể đảo ngược. Trong bối cảnh vi phạm bản quyền trên không gian mạng ngày càng tinh vi, TPMs không chỉ là một công cụ hỗ trợ mà đã trở thành “xương sống” cho sự phát triển bền vững của nền công nghiệp văn hóa và nội dung số. Đối với các quốc gia như Việt Nam, việc hoàn thiện pháp luật về TPMs theo các cam kết này không chỉ là nghĩa vụ thương mại mà còn là yếu tố then chốt để thu hút đầu tư và bảo vệ các giá trị sáng tạo nội địa trên bản đồ số toàn cầu.
[1] Xem: Điều 12.12 Hiệp định EVFTA và Điều 18.68, http://evfta.moit.gov.vn/?page=overview&category_id=5c3ae070-26ed-4c49-b641-5c314a60ce46.
Bài viết thuộc Chuyên mục Các cam kết về sở hữu trí tuệ trong các FTA thế hệ mới, trong khuôn khổ Nhiệm vụ SHTT.TW.28-2022.
Bài liên quan
-
Sự chuyển đổi chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ của Liên minh châu Âu trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
-
Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống trong Hiệp định CPTPP và tham chiếu với thực trạng pháp luật Việt Nam
-
Hiệp ước Marrakesh: Điểm giao thoa giữa nhân đạo và nghĩa vụ thương mại trong CPTPP và EVFTA
-
Việt Nam gia nhập WCT và WPPT: Bước đi chiến lược nhằm thực thi cam kết CPTPP và EVFTA trong kỷ nguyên số
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Xác định bị đơn trong vụ án dân sự về “tranh chấp quyền sử dụng đất”
-
Xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Q như thế nào?
-
Tòa án nhân dân tối cao ban hành Kế hoạch xét nâng bậc Thẩm phán Tòa án nhân dân năm 2026
-
Cần phải làm rõ vụ án có thuộc trường hợp áp dụng Án lệ số 04/2016/AL
-
Bà A có quyền khởi kiện đối với việc tính tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự không?
Bình luận