Vai trò đại diện tập thể của công đoàn theo Luật Phục hồi, phá sản năm 2025: Một số vấn đề pháp lý và kiến nghị hoàn thiện
Trên cơ sở phân tích các quy định của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 về địa vị pháp lý, phạm vi đại diện và năng lực tố tụng của công đoàn, bài viết làm rõ một số bất cập, khoảng trống pháp lý và khó khăn trong thực tiễn thực hiện vai trò đại diện tập thể của công đoàn. Từ đó đề xuất các phương án tăng cường hiệu quả đại diện và nâng cao năng lực tố tụng của công đoàn nhằm bảo vệ hiệu quả hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.
Đặt vấn đề
Phá sản là hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Khi doanh nghiệp (DN) lâm vào tình trạng phá sản, người lao động (NLĐ) là nhóm chịu tác động trực tiếp và nặng nề nhất, không chỉ do nguy cơ mất việc làm mà còn do tiền lương, bảo hiểm, trợ cấp và các quyền lợi hợp pháp khác có thể không được thanh toán đầy đủ, kịp thời. Vì vậy, việc pháp luật quy định cơ chế bảo vệ NLĐ thông qua vai trò đại diện tập thể của công đoàn (CĐ) trong thủ tục phá sản là cần thiết. Giải quyết phá sản đối với DN là một quá trình tố tụng tư pháp với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, trong đó có CĐ với tư cách là chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi đáp ứng điều kiện luật định. Trong bối cảnh pháp luật phá sản có sự thay đổi mạnh mẽ, từ việc tập trung thanh lý tài sản thông qua thủ tục phá sản, Luật Phục hồi, Phá sản (Luật PHPS) năm 2025 quy định thủ tục phục hồi và thủ tục phá sản là hai thủ tục độc lập, “thể hiện rõ mục tiêu, định hướng của Đảng và Nhà nước là khuyến khích, ưu tiên phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã ngay từ khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán để giúp doanh nghiệp, hợp tác xã có cơ hội hồi sinh và tiếp tục đóng góp cho nền kinh tế”[1]. Chính vì vậy, việc làm rõ vai trò của CĐ, nhất là vai trò đại diện tập thể trong bối cảnh này, có ý nghĩa cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn.
Tuy nhiên, từ góc độ bảo vệ tập thể NLĐ, vẫn còn nhiều vấn đề pháp lý cần được làm rõ như địa vị pháp lý của CĐ trong thủ tục phục hồi, phá sản; căn cứ và phạm vi thực hiện quyền đại diện; khả năng tham gia ở từng giai đoạn của thủ tục; và năng lực tố tụng trong việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ. Thực tiễn cho thấy, vai trò đại diện tập thể của CĐ trong thủ tục này vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. “Theo báo cáo kết quả giải quyết vụ việc phá sản của Tòa án nhân dân tối cao, từ ngày 01/01/2015 đến 30/9/2023, các Tòa án chỉ thụ lý 1.510 vụ việc phá sản; trong số đó, chỉ có 150 vụ bị tuyên bố phá sản và chỉ 06 vụ áp dụng thủ tục phục hồi kinh doanh[2]. Có thể thấy, nhu cầu giải quyết vụ việc phá sản không ít nhưng việc giải quyết vụ việc phá sản chưa nhiều, thời gian giải quyết một vụ việc phá sản còn kéo dài. Bên cạnh đó, theo số liệu thống kê trong năm 2025, “bình quân mỗi tháng có 18.700 doanh nghiệp rút lui”[3]. Tính riêng trong Quý I/2026, “số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao, với gần 63.500 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, hơn 16.600 doanh nghiệp chờ giải thể và hơn 11.700 doanh nghiệp hoàn tất giải thể, bình quân khoảng 30.600 doanh nghiệp mỗi tháng”[4]. Như vậy, trước thực trạng nhiều DN tạm ngừng hoạt động, rút lui khỏi thị trường, nguy cơ NLĐ bị mất việc làm và bị xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp là rất lớn. Tuy nhiên, thủ tục phá sản ở Việt Nam chưa thực sự phát huy hiệu quả như một cơ chế pháp lý bảo vệ các chủ thể liên quan, trong đó có NLĐ. Vì vậy, mặc dù pháp luật đã ghi nhận vai trò đại diện tập thể của CĐ, nhưng vai trò này trên thực tế vẫn còn mờ nhạt. Việc bảo đảm cơ chế đại diện tập thể hữu hiệu cho NLĐ thông qua CĐ vì thế mang tính cấp thiết. Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích vai trò đại diện tập thể của CĐ trong thủ tục phá sản từ góc độ điều kiện pháp lý và năng lực tố tụng, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đại diện trong bối cảnh hiện nay.
1. Một số vấn đề pháp lý về vai trò đại diện tập thể của công đoàn theo Luật Phục hồi, phá sản năm 2025
1.1. Khái quát chung về vai trò đại diện tập thể của công đoàn trong thủ tục phá sản
Trong quan hệ lao động, đại diện tập thể được hiểu là việc chủ thể đại diện NLĐ nhân danh lợi ích chung của một nhóm NLĐ để tham gia thương lượng, đối thoại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng phát sinh từ quá trình sử dụng lao động. Đây là hình thức đại diện mang tính phòng ngừa, điều hòa và bảo vệ lợi ích chung của NLĐ đối với những vấn đề phát sinh từ quan hệ lao động. Đồng thời là nền tảng pháp lý làm phát sinh vai trò đại diện của CĐ trong thủ tục phá sản.
Khi DN mất khả năng thanh toán, vai trò đại diện tập thể của CĐ không còn chỉ giới hạn trong việc xử lý các vấn đề của quan hệ lao động thông thường, mà còn mở rộng sang việc bảo vệ quyền và lợi ích chung của NLĐ trong thủ tục phục hồi, phá sản, nhất là đối với tiền lương, các khoản bảo hiểm bắt buộc, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác. Theo đó, đại diện tập thể trong thủ tục này có thể được hiểu là việc CĐ tham gia quá trình giải quyết vụ việc để bảo vệ lợi ích chung của tập thể NLĐ trong quan hệ với DN mất khả năng thanh toán và các chủ thể khác của thủ tục. Luật PHPS năm 2025 cũng ghi nhận quyền của NLĐ, CĐ trong việc nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản; đồng thời cho phép đại diện của NLĐ, CĐ hoặc tổ chức của NLĐ tại DN được NLĐ ủy quyền tham gia Hội nghị chủ nợ với quyền, nghĩa vụ như chủ nợ.
Cần phân biệt vai trò đại diện tập thể của CĐ trong thủ tục phục hồi, phá sản với vai trò của tổ chức đại diện NLĐ trong thương lượng tập thể và giải quyết tranh chấp lao động tập thể. Trong thương lượng tập thể, tổ chức đại diện NLĐ tham gia đàm phán để xác lập điều kiện lao động và điều hòa quan hệ lao động. Trong giải quyết tranh chấp lao động tập thể, CĐ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đã phát sinh hoặc tham gia xử lý các bất đồng về lợi ích. Khác với các cơ chế này, trong thủ tục phục hồi, phá sản, quyền tài sản của NLĐ được xem xét như các khoản nợ của DN, như tiền lương, bảo hiểm bắt buộc, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác theo pháp luật lao động. Vì vậy, đại diện tập thể của CĐ trong thủ tục này vừa là cơ chế bảo vệ NLĐ, vừa là sự tham gia vào quá trình xác định, kiểm tra và bảo vệ các khoản nợ lao động trong trật tự ưu tiên thanh toán.
Từ đó, có thể hiểu vai trò đại diện tập thể của CĐ trong thủ tục phá sản là sự tham gia của CĐ, trên cơ sở quyền đại diện do pháp luật quy định hoặc theo ủy quyền hợp pháp, nhằm bảo vệ lợi ích chung của tập thể NLĐ. Vai trò này không đồng nhất với việc thay mặt từng NLĐ thực hiện các hành vi riêng lẻ, mà thể hiện ở khả năng tập hợp các yêu cầu phân tán thành một lợi ích tập thể thống nhất trong quan hệ với DN mất khả năng thanh toán và các chủ thể khác của thủ tục phá sản. Theo đó, đại diện tập thể của CĐ trong thủ tục phá sản là sự mở rộng chức năng đại diện trong quan hệ lao động sang một thủ tục tư pháp đặc thù, góp phần bảo đảm công bằng và cân bằng lợi ích trong quá trình giải quyết phá sản.
1.2. Quy định về vai trò đại diện tập thể của Công đoàn trong thủ tục phá sản
Theo Điều 11 Luật Công đoàn năm 2024, CĐ có quyền đại diện cho tập thể NLĐ tham gia tố tụng trong vụ việc, vụ án lao động, hành chính và phá sản DN để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của họ. Trong thủ tục phá sản, vai trò đại diện tập thể của CĐ không phát sinh đương nhiên từ chức năng đại diện, chăm lo và bảo vệ NLĐ, mà được xác lập trong những trường hợp do pháp luật chuyên ngành quy định. Theo đó, Luật PHPS năm 2025 trao trực tiếp cho CĐ quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi DN mất khả năng thanh toán; ở giai đoạn này, CĐ tham gia trên cơ sở đại diện theo pháp luật. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 38 Luật PHPS năm 2025, CĐ có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với NLĐ mà DN không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Như vậy, Luật PHPS năm 2025 đã thay đổi đáng kể cơ sở phát sinh quyền nộp đơn của CĐ theo hướng gắn chặt hơn với trạng thái pháp lý của DN. Nếu Luật Phá sản năm 2014 chỉ sử dụng một tiêu chí là DN không thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn[5], thì Luật PHPS năm 2025 phân biệt rõ giữa “nguy cơ mất khả năng thanh toán” và “mất khả năng thanh toán”, theo đó, chỉ khi hết 06 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà vẫn không được thanh toán mới được xem là DN mất khả năng thanh toán. Sự thay đổi này cho thấy pháp luật hiện hành được thiết kế theo hướng ưu tiên thực hiện thủ tục phục hồi trước thủ tục phá sản nhằm duy trì hoạt động của DN. Tuy nhiên, xét từ yêu cầu bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể lao động, việc nâng ngưỡng thời gian từ 03 tháng lên 06 tháng đã làm lùi thời điểm phát sinh cơ chế tài phán mà CĐ có thể viện dẫn để thực hiện chức năng đại diện tập thể trong thủ tục phá sản.
Hiện nay, Luật PHPS năm 2025 ghi nhận CĐ là chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng chưa làm rõ CĐ cấp nào có quyền nộp đơn, tham gia và đại diện cho NLĐ trong từng trường hợp cụ thể. Trong khi đó, các văn bản pháp luật liên quan lại sử dụng thuật ngữ “công đoàn cơ sở” để chỉ tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở. Vướng mắc ở đây là việc xác định tổ chức CĐ cụ thể có thẩm quyền thực hiện quyền đại diện, không chỉ là sự ghi nhận chung về quyền của CĐ. Sự chưa rõ ràng này có thể gây khó khăn khi xác định chủ thể đứng tên đơn và chủ thể tiếp tục tham gia bảo vệ quyền lợi của NLĐ trong quá trình giải quyết vụ việc.
Theo đó, khi nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản với tư cách đại diện tập thể, CĐ phải gửi đến Tòa án có thẩm quyền đơn yêu cầu, danh sách chủ nợ, người mắc nợ (nếu có) và tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu là có căn cứ, hợp pháp[6]. Khi gặp khó khăn trong việc thu thập, cung cấp chứng cứ, CĐ có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp các tài liệu liên quan để giao nộp cho Tòa án hoặc đề nghị Tòa án hỗ trợ thu thập trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng không đạt kết quả. CĐ cũng có quyền biết, ghi chép và sao chụp tài liệu, chứng cứ do người tham gia thủ tục phục hồi, phá sản xuất trình hoặc do Quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản thu thập[7]. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 15 Luật PHPS năm 2025 không ghi nhận CĐ là chủ thể có quyền trực tiếp, độc lập yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, mà chỉ giới hạn quyền này đối với một số chủ thể như chủ nợ, DN, hợp tác xã, Tòa án, Viện kiểm sát, Quản tài viên và DN quản lý, thanh lý tài sản. Vì vậy, dù Luật Công đoàn năm 2024 đã mở rộng địa vị pháp lý của CĐ trong tố tụng phá sản, quyền tiếp cận chứng cứ của CĐ trên thực tế vẫn chủ yếu được thực hiện thông qua tư cách đại diện hợp pháp cho NLĐ hoặc thông qua cơ chế đề nghị Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ.
Ngoài ra, khi thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, CĐ không phải nộp lệ phí phá sản theo quy định của pháp luật[8]. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố vai trò đại diện tập thể của CĐ, bởi khi DN mất khả năng thanh toán, NLĐ thường hạn chế về thông tin, tài chính và khả năng tự mình theo đuổi thủ tục phá sản. Việc miễn lệ phí do đó tạo điều kiện để CĐ tham gia thủ tục này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ.
Sau khi mở thủ tục phá sản, CĐ không đương nhiên thay thế địa vị pháp lý của chủ nợ là NLĐ trong thủ tục phá sản. Tuy nhiên, trên cơ sở địa vị đại diện đã được ghi nhận trong Luật Công đoàn năm 2024, CĐ có thể thực hiện vai trò tổ chức, hỗ trợ hoặc đại diện hợp pháp nhằm bảo đảm các khoản nợ lương, khoản nợ bảo hiểm và các quyền lợi khác của NLĐ được kê khai đầy đủ, xác minh chính xác và ghi nhận đúng trong danh sách chủ nợ. Vai trò này đặc biệt có ý nghĩa khi Điều 46 của Luật PHPS năm 2025 ưu tiên thanh toán các khoản nợ liên quan đến NLĐ trước nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và các khoản nợ không có bảo đảm. Theo đó, CĐ phải có khả năng rà soát hồ sơ tiền lương, bảo hiểm và trợ cấp của NLĐ; đối chiếu dữ liệu giữa DN, cơ quan bảo hiểm xã hội và tài liệu do Quản tài viên hoặc DN quản lý, thanh lý tài sản thu thập; phát hiện những trường hợp kê khai thiếu, sai hoặc chậm. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, trong các vụ việc có CĐ tham gia với vai trò đại diện tập thể trong thủ tục phá sản làm tăng hiệu quả bảo vệ quyền lợi của NLĐ gắn chặt với khả năng thu thập hồ sơ, phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội và theo đuổi vụ việc đến cùng. Điển hình vừa qua, “CĐ cơ sở Công ty Cổ phần Chế biến Thực phẩm Phương Nam đã chủ động phát huy vai trò đại diện khi DN bị mở thủ tục phá sản, chủ động rà soát, đại diện cho hơn 250 NLĐ gửi yêu cầu đến Tòa án và Quản tài viên để bảo vệ quyền lợi của họ. Quá trình giải quyết vụ việc cho thấy các quyền lợi của NLĐ được xem xét theo quy định của pháp luật, trình tự, thủ tục phá sản được thực hiện khách quan và Nghị quyết Hội nghị chủ nợ được thông qua với tỷ lệ tán thành cao”[9].
Đối với việc xác định các khoản nợ lao động, vấn đề còn đặt ra là cơ chế để CĐ kiểm tra, đối chiếu danh sách và phản ánh những khoản nợ bị ghi nhận thiếu hoặc sai. Quyền tiếp cận chứng cứ chưa đồng nghĩa với việc ý kiến của CĐ về danh sách các khoản nợ lao động được xem xét, xử lý kịp thời. Sự thiếu rõ ràng về thời điểm kiểm tra, trách nhiệm tiếp nhận ý kiến và cách xử lý các nội dung chưa thống nhất có thể làm giảm hiệu quả bảo vệ NLĐ ngay từ khâu xác định khoản nợ.
Phá sản là lĩnh vực có tính chuyên môn cao, đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức pháp luật lao động, pháp luật phá sản, tố tụng dân sự, bảo hiểm xã hội và cả kỹ năng thu thập chứng cứ. Yêu cầu này đặt ra vấn đề về điều kiện chuyên môn để cán bộ CĐ thực hiện quyền đại diện. Việc pháp luật ghi nhận quyền tham gia thủ tục chưa tự nó bảo đảm khả năng đọc, đối chiếu hồ sơ và theo dõi vụ việc; hiệu quả đại diện còn phụ thuộc vào kiến thức và kỹ năng xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình giải quyết phá sản.
1.3. Quy định về vai trò đại diện tập thể của Công đoàn trong thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh
Như đã phân tích, Luật PHPS năm 2025 không còn tiếp cận phục hồi như một giai đoạn phụ thuộc trong thủ tục phá sản, mà thiết lập thủ tục phục hồi như một cơ chế độc lập và được ưu tiên áp dụng đối với DN có nguy cơ mất hoặc đã mất khả năng thanh toán. Theo đó, dù không thuộc nhóm chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, nhưng nếu được NLĐ ủy quyền thì CĐ có quyền tham gia Hội nghị chủ nợ và có quyền, nghĩa vụ như chủ nợ[10]. Như vậy, CĐ thực hiện vai trò đại diện tập thể một cách gián tiếp thông qua thủ tục phục hồi, cụ thể là tham gia vào Hội nghị chủ nợ. Không giống trong thủ tục phá sản, khi tham gia Hội nghị chủ nợ, CĐ chỉ có thể tham gia với tư cách đại diện cho NLĐ nếu được NLĐ ủy quyền hợp pháp; khi đó, CĐ thực hiện quyền và nghĩa vụ trong phạm vi đại diện theo ủy quyền.
Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành quy định thủ tục phục hồi là một cơ chế độc lập và CĐ được tham gia trong trường hợp NLĐ ủy quyền. Tuy nhiên, pháp luật chưa minh thị về hình thức ủy quyền tập thể của NLĐ cho CĐ trong trường hợp này. Vấn đề cần làm rõ là cách ghi nhận ý chí ủy quyền của nhiều NLĐ và giới hạn những hành vi mà CĐ được thực hiện nhân danh người ủy quyền. Sự chưa rõ ràng này có thể gây khó khăn khi xác định tư cách tham gia Hội nghị chủ nợ, phạm vi tiếp cận tài liệu và thực hiện quyền của CĐ đối với các nội dung liên quan đến quyền lợi của NLĐ.
2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả đại diện tập thể của công đoàn
Từ những phân tích trên có thể thấy, pháp luật hiện hành đã ghi nhận vai trò đại diện tập thể của CĐ trong thủ tục phá sản. Vì vậy, việc tăng cường hiệu quả vai trò đại diện tập thể của CĐ trong thủ tục phá sản mang tính cấp thiết. Trên cơ sở những vấn đề đã phân tích ở trên, tác giả đề xuất một số giải pháp như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện quy định về chủ thể CĐ có thẩm quyền thực hiện quyền đại diện tập thể trong thủ tục phá sản.
Cần thống nhất cách xác định chủ thể đại diện trong các văn bản pháp luật có liên quan để bảo đảm việc thực hiện quyền đại diện tập thể của CĐ được thống nhất và hiệu quả trên thực tế. Nội dung hướng dẫn cần xác định cụ thể CĐ cấp nào thực hiện quyền nộp đơn và đại diện cho NLĐ, đồng thời làm rõ việc phối hợp giữa các cấp CĐ khi tham gia thủ tục.
Về đại diện trong thủ tục phục hồi, tác giả kiến nghị cần có hướng dẫn cụ thể về hình thức ủy quyền tập thể của NLĐ cho CĐ; phạm vi đại diện của CĐ tại Hội nghị chủ nợ; quyền của CĐ được tiếp cận phương án phục hồi, tài liệu liên quan đến các khoản nợ lao động; quyền phát biểu, kiến nghị sửa đổi phương án phục hồi ở phần liên quan đến quyền lợi của NLĐ; và quyền đề nghị xem xét lại nghị quyết của Hội nghị chủ nợ. Có như vậy, vai trò đại diện tập thể của CĐ mới có khả năng bảo vệ thực chất quyền lợi của NLĐ trong giai đoạn phục hồi DN.
Thứ hai, cần tăng cường cơ chế tiếp cận, thu thập và kiểm soát chứng cứ cho CĐ.
Tham khảo kinh nghiệm của Pháp cho thấy, vai trò của đại diện NLĐ trong thủ tục mất khả năng thanh toán không chỉ dừng ở việc hỗ trợ NLĐ đòi nợ, mà còn được thể chế hóa như một cơ chế kiểm tra bắt buộc đối với các khoản nợ lao động. Theo Điều L625-1 và L625-2 Bộ luật Thương mại Pháp[11], sau khi lập bảng kê các khoản nợ phát sinh từ hợp đồng lao động, đại diện tư pháp phải trình bảng kê đó cho đại diện NLĐ để kiểm tra và phải cung cấp mọi tài liệu, thông tin hữu ích; nếu có khó khăn, đại diện NLĐ có thể yêu cầu thẩm phán xem xét. Theo đó, tác giả kiến nghị, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thể hướng dẫn theo hướng khi lập danh sách các khoản nợ lao động, Quản tài viên hoặc DN quản lý, thanh lý tài sản bắt buộc phải gửi dự thảo danh sách cho CĐ có thẩm quyền để kiểm tra, đối chiếu trong thời hạn nhất định trước khi công khai; CĐ có quyền yêu cầu giải trình, kiến nghị sửa đổi, bổ sung và lập văn bản bảo lưu đối với các khoản nợ bị ghi nhận thiếu hoặc sai; trường hợp còn có tranh chấp, Quản tài viên phải báo cáo Thẩm phán hoặc Tổ Thẩm phán xem xét, quyết định. Cơ chế này không làm thay đổi thẩm quyền quyết định của Tòa án và Quản tài viên, nhưng tạo thêm một cơ chế kiểm soát cần thiết nhằm bảo đảm các khoản nợ lao động được xác định đầy đủ, chính xác và khách quan hơn.
Thứ ba, cần nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ CĐ tham gia giải quyết các vụ việc phá sản.
Muốn CĐ thực hiện tốt chức năng đại diện tập thể trong thủ tục phá sản thì cần phải chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ có kiến thức chuyên sâu, có khả năng tham gia thực chất vào các giai đoạn của thủ tục phá sản. Nội dung đào tạo cần gắn với việc lập hồ sơ yêu cầu, rà soát các khoản nợ lao động, thu thập chứng cứ và tham gia Hội nghị chủ nợ. Đây là điều kiện quan trọng để quyền đại diện của CĐ có thể chuyển hóa thành hiệu quả bảo vệ trên thực tế.
Kết luận
Có thể thấy, Luật PHPS năm 2025 đã ghi nhận tương đối đầy đủ vai trò đại diện tập thể của CĐ thông qua quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, tham gia Hội nghị chủ nợ và bảo vệ quyền ưu tiên thanh toán của NLĐ. Đây là sự mở rộng chức năng đại diện của CĐ từ quan hệ lao động sang một thủ tục tư pháp đặc thù. Tuy nhiên, để vai trò này được thực hiện hiệu quả trên thực tế, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng làm rõ chủ thể có thẩm quyền đại diện, phạm vi và phương thức đại diện, cơ chế tiếp cận chứng cứ về các khoản nợ lao động, đồng thời nâng cao năng lực thực thi và cơ chế phối hợp với các chủ thể có liên quan.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Dũng Bình, Giới thiệu một số điểm mới cơ bản của Luật Phục hồi, phá sản, https://tapchitoaan.vn/gioi-thieu-mot-so-diem-moi-co-ban-cua-luat-phuc-hoi-pha-san14804.html.
2. P.V, Từ tháng 1/2015 đến tháng 9/2023, các TAND đã thụ lý 1.510 vụ việc phá sản, https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/dien-dan/tu-thang-1-2015-den-thang-9-2023-cac-tand-da-thu-ly-1-510-vu-viec-pha-san-163435.html.
3. Tú Uyên, Giải mã chuyện hơn 30.000 doanh nghiệp chia tay thị trường, https://plo.vn/giai-ma-chuyen-hon-30000-doanh-nghiep-chia-tay-thi-truong-post886361.html.
4. Hương Dịu, Làn sóng doanh nghiệp quay lại thị trường, niềm tin kinh doanh được củng cố, https://tapchikinhtetaichinh.vn/lan-song-doanh-nghiep-quay-lai-thi-truong-niem-tin-kinh-doanh-duoc-cung-co-152784.html&link=autochanger.
5. Nguyễn Hải An, Nguyễn Thị Chinh, Quyền khởi kiện vụ án lao động của tổ chức đại diện tập thể lao động, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 01, năm 2025.
6. Đào Mộng Điệp, Các căn cứ phân loại đại diện lao động, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 29, năm 2013.
7. Phạm Thị Duyên Thảo, Khắc phục sự “nửa vời” của Công đoàn ở Việt Nam trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7, năm 2020.
8. Nguyễn Thị Tuyết Vân, Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của công đoàn Việt Nam - Tổ chức đại diện lớn nhất của NLĐ, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 2, năm 2022.
9. Trần Tú, Công đoàn cơ sở quan tâm, giúp đỡ ổn định cuộc sống người lao động khi doanh nghiệp phá sản, https://tapchitoaan.vn/cong-doan-co-so-quan-tam-giup-do-on-dinh-cuoc-song-nguoi-lao-dong-khi-doanh-nghiep-pha-san8760.html.
[1] Dũng Bình, Giới thiệu một số điểm mới cơ bản của Luật Phục hồi, phá sản, https://tapchitoaan.vn/gioi-thieu-mot-so-diem-moi-co-ban-cua-luat-phuc-hoi-pha-san14804.html, truy cập ngày 07/4/2026.
[2] P.V, Từ tháng 1/2015 đến tháng 9/2023, các TAND đã thụ lý 1.510 vụ việc phá sản, https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/dien-dan/tu-thang-1-2015-den-thang-9-2023-cac-tand-da-thu-ly-1-510-vu-viec-pha-san-163435.html, truy cập ngày 08/4/2026.
[3] Tú Uyên, Giải mã chuyện hơn 30.000 doanh nghiệp chia tay thị trường, https://plo.vn/giai-ma-chuyen-hon-30000-doanh-nghiep-chia-tay-thi-truong-post886361.html, truy cập ngày 07/4/2026.
[4] Hương Dịu, Làn sóng doanh nghiệp quay lại thị trường, niềm tin kinh doanh được củng cố, https://tapchikinhtetaichinh.vn/lan-song-doanh-nghiep-quay-lai-thi-truong-niem-tin-kinh-doanh-duoc-cung-co-152784.html&link=autochanger, truy cập ngày 07/4/2026.
[5] Khoản 2 Điều 5 Luật Phá sản năm 2014.
[6] Khoản 1 Điều 39 Luật PHPS năm 2025.
[7] Khoản 3, 4, 6 Điều 13 Luật PHPS năm 2025.
[8] Điều 19 Luật PHPS năm 2025.
[9] Trần Tú, Công đoàn cơ sở quan tâm, giúp đỡ ổn định cuộc sống người lao động khi doanh nghiệp phá sản, https://tapchitoaan.vn/cong-doan-co-so-quan-tam-giup-do-on-dinh-cuoc-song-nguoi-lao-dong-khi-doanh-nghiep-pha-san8760.html, truy cập ngày 03/4/2026.
[10] Khoản 3 Điều 33 Luật PHPS năm 2025.
[11] Bộ luật Thương mại Pháp,
https://www.legifrance.gouv.fr/codes/section_lc/LEGITEXT000005634379/LEGISCTA000006161415/?utm, truy cập ngày 03/4/2026.
Lãnh đạo LĐLĐ tỉnh Thái Nguyên thăm hỏi tình hình việc làm của công nhân lao động - Ảnh: Công đoàn Thái Nguyên.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Trao đổi về bài bài viết “Bàn về vấn đề có loại trừ tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” khi cộng tổng giá trị tài sản để xác định khung hình phạt hay không?’’
-
Tượng đài “Bác Hồ với ngày hội non sông”: Từ tri ân đến trách nhiệm với đất nước
-
Việt Nam - Đức thúc đẩy hợp tác, chuyển giao công nghệ đường sắt tốc độ cao
-
Một số vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện quy định về thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự
-
Trao đổi về việc áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” khi tổng giá trị tài sản các lần phạm tội được cộng dồn để xác định khung hình phạt
Bình luận