Vợ chồng Trần Hữu S phạm tội gì?

Việc xác định tội danh đối với vợ chồng Trần Hữu S hiện đang có nhiều quan điểm khác nhau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Năm 2021, khi đang thiếu vốn làm ăn, tình cờ xem được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) của anh Nguyễn Thanh L, Trần Hữu S liền chụp ảnh lại và giao dịch qua mạng Internet nhờ người làm giả Giấy chứng nhận QSDĐ theo dữ liệu đất của anh L, nhưng mang tên vợ chồng Trần Hữu S, để thế chấp vay tiền ngân hàng. Sau khi nhận được Giấy chứng nhận QSDĐ giả, vợ chồng S làm thủ tục thế chấp vay 1,2 tỷ đồng ở Ngân hàng HP. Mục đích vay để sản xuất, nuôi trồng thủy sản. Do đơn giản trong thủ tục, không thẩm tra kỹ, Ngân hàng không phát hiện Giấy chứng nhận là giả và thửa đất thực tế không phải của vợ chồng S. Từ đó, Ngân hàng đồng ý làm thủ tục cho vợ chồng S vay 1,2 tỷ đồng. Sau khi vay được tiền, vợ chồng S đã đầu tư nuôi cá lồng bè trên biển. Tuy nhiên, do thiếu kinh nghiệm và ảnh hưởng của mưa bão, việc nuôi cá lồng bè thất bại, không thu được vốn, đến hạn, S không trả được tiền cho Ngân hàng. Vợ chồng S nhiều lần hứa hẹn trả đủ tiền cho Ngân hàng, nhưng thực tế, chỉ trả được 250 triệu đồng. Ngân hàng tố cáo S lừa đảo, trong quá trình xem xét, cơ quan chức năng phát hiện S làm giả Giấy chứng nhận QSDĐ để thế chấp vay tiền. Cơ quan tiến hành tố tụng đã điều tra, truy tố vợ chồng S. Việc xác định tội danh đối với vợ chồng Trần Hữu S còn có nhiều quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Vợ chồng Trần Hữu S phạm 02 tội “sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bởi vì, Trần Hữu S đã có hành vi gian dối nhờ người làm giả Giấy chứng nhận QSDĐ mang tên vợ chồng S, sau đó, thế chấp vay nhằm mục đích chiếm đoạt 1,2 tỷ đồng của Ngân hàng. Theo hướng dẫn của Công văn số  233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về việc trao đổi nghiệp vụ: Trường hợp người thực hiện nhiều hành vi (chuỗi hành vi) một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian, trong đó, hành vi trước là tiền đề, điều kiện để thực hiện hành vi sau thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về nhiều tội tương ứng với từng hành vi, nếu mỗi hành vi đều có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm”. Như vậy, sử dụng Giấy chứng nhận QSDĐ giả đem thế chấp là tiền đề để thực hiện chiếm đoạt tiền của Ngân hàng. Hành vi của vợ chồng S xâm phạm 02 khách thể gồm: xâm phạm trật tự quản lý hành chính, hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và quyền sở hữa tài sản của ngân hàng và thỏa mãn dấu hiệu của tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS năm 2015.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Vợ chồng Trần Hữu S phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bởi vì, S có hành vi gian dối nhờ người làm giả Giấy chứng nhận QSDĐ mang tên vợ chồng S, thế chấp vay Ngân hàng, nhằm mục đích chiếm đoạt 1,2 tỷ đồng, hành vi của vợ chồng S thỏa mãn dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, vợ chồng S đã trả Ngân hàng được 250 triệu đồng, nên chỉ xem xét xử lý vợ chồng S lừa đảo Ngân hàng số tiền còn lại là 950 triệu đồng (số tiền chưa trả cho Ngân hàng).

Quan điểm thứ ba cho rằng: Hành vi của vợ chồng S phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, bởi vì vợ chồng S vay tiền của Ngân hàng bằng hình thức thế chấp Giấy chứng nhận QSDĐ (việc Ngân hàng không thẩm định kỹ, không phát hiện S sử dụng Giấy chứng nhận QSDĐ giả là lỗi của Ngân hàng). Sau khi vay được 1,2 tỷ đồng, do đầu tư làm ăn thất bại, S mới có ý định chiếm đoạt tiền, cố tình không trả nợ cho Ngân hàng (đến hạn không trả, hứa hẹn nhiều lần nhưng vẫn không trả nợ cho Ngân hàng). Hành vi chiếm đoạt tiền của vợ chồng S có sau khi được Ngân hàng tin tưởng cho vay, như vậy hành vi của vợ chồng S đã thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 BLHS năm 2015.

Quan điểm thứ tư cho rằng: Vợ chồng Trần Hữu S không phạm tội bởi vì đây là quan hệ dân sự. Vợ chồng S thế chấp Giấy chứng nhận QSDĐ giả để vay Ngân hàng 1,2 tỷ đồng, nhưng không có ý định chiếm đoạt tiền của Ngân hàng. Trên thực tế, vợ chồng S vẫn ở tại địa phương, không bỏ trốn, đã trả Ngân hàng được 250 triệu đồng. Do việc làm ăn thất bại, vợ chồng S mới không có tiền để tiếp tục trả cho Ngân hàng (nếu việc làm ăn thuận lợi, vợ chồng S có thể đã trả hết nợ). Hành vi nhờ người làm giả Giấy chứng nhận QSDĐ để thế chấp vay vốn Ngân hàng chỉ có thể bị xử phạt hành chính, chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm (các tội danh sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đều không thỏa mãn). Nếu xử lý hình sự đối với vợ chồng S là hình sự hóa quan hệ dân sự. Ngân hàng có thể khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu vợ chồng S phải trả cho Ngân hàng số tiền còn lại là 950 triệu đồng.

Quan điểm thứ năm (cũng là quan điểm của tác giả) cho rằng: Hành vi của vợ chồng S phạm tội “sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 BLHS năm 2015. Bởi vì, S đã có hành vi nhờ người làm giả Giấy chứng nhận QSDĐ mang tên vợ chồng S để thế chấp Ngân hàng vay 1,2 tỷ đồng (tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức đã hoàn thành). Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phải có hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Trong vụ án này, vợ chồng S có hành vi gian dối nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt 1,2 tỷ đồng. Bởi vì, trên thực tế, sau khi vay được tiền, vợ chồng S thực hiện đúng mục đích vay là đầu tư nuôi cá lồng bè, không có ý định bỏ trốn để chiếm đoạt tiền, vẫn trả được 250 triệu đồng cho Ngân hàng và do nuôi cá lồng bè thất bại, nên không có tiền để tiếp tục trả cho Ngân hàng. Như vậy, hành vi của vợ chồng S không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cũng không cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, không xử lý vợ chồng S về tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là bỏ lọt tội phạm.

Trên đây là các quan điểm phân tích, đánh giá của tác giả về xác định tội danh đối với vợ chồng Trần Hữu S, rất mong nhận được sự trao đổi từ đồng nghiệp và quý bạn đọc.

ThS. LÊ ĐÌNH NGHĨA (Thẩm phán, Tòa án quân sự Khu vực 2 Quân khu 5)

Phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức tại huyện Bắc Trà My, TP. Đà Nẵng - Nguồn: VKSND huyện Bắc Trà My.