Xác định trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hành vi phạm tội - Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện
Bài viết tập trung phân tích cơ sở pháp lý của chế định trách nhiệm liên đới của vợ, chồng, trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hành vi phạm tội, đánh giá thực tiễn áp dụng thông qua các bản án, đồng thời đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thống nhất nhận thức và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn xét xử.
Đặt vấn đề
Các tranh chấp tài sản trong quan hệ hôn nhân và gia đình luôn chứa đựng những yếu tố phức tạp, đặc biệt là khi có sự xuất hiện của các hành vi vi phạm pháp luật. Trong bối cảnh đó, việc xác định trách nhiệm pháp lý đối với nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hành vi gian dối của một bên vợ hoặc chồng trở thành một vấn đề pháp lý nan giải và cấp thiết. Nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của một bên vợ, chồng và chủ nợ mà còn đe dọa đến lợi ích chung của gia đình. Một mặt, pháp luật cần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của một bên không liên quan đến hành vi phạm tội của vợ, chồng. Mặt khác, nó cũng phải đảm bảo quyền lợi của bên thứ ba, người đã bị lừa dối. Do đó, việc làm rõ cơ sở pháp lý, phân định trách nhiệm một cách chính xác, hướng dẫn cụ thể là điều vô cùng cần thiết.
1. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với nghĩa vụ tài sản phát sinh phát sinh từ hành vi phạm tội
1.1. Quy định của pháp luật về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng
Tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình (HNGĐ) năm 2014 quy định:
“1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.
2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.”.
Điều 37 Luật HNGĐ năm 2014 quy định vợ, chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
“1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ, chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ, chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật Dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”.
Theo đó, vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện giữa vợ, chồng.
Tại các điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại, nguyên tắc bồi thường thiệt hại, thiệt hại về tài sản.
Điều 48 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 quy định về nghĩa vụ về tài sản từ hành vi phạm tội như sau :
“1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.
2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.”
Như vậy, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thì vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ chung về tài sản. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng, việc xác định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng còn tồn tại quan điểm chưa thống nhất, gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng.
1.2. Một số vướng mắc trong thực tiễn
Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, khi Tòa án xem xét vấn đề xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 48 BLHS năm 2015 thì phát sinh vướng mắc khi xác định trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hành vi phạm tội. Về vấn đề này còn nhiều quan điểm khác nhau. Để làm rõ luận điểm này, tác giả xin nêu 02 dẫn chứng sau đây:
Ví dụ 1: Bản án số 14/2026/HS-ST ngày 26/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực A - tỉnh C.
Nội dung vụ án: Năm 2021, Võ Thị C mở nhiều dây hụi tháng cho những người ở địa phương tham gia. Võ Thị C có hành vi gian dối trong việc làm chủ hụi đã tự ý hốt hụi và lấy tên 04 hụi viên trong 03 dây hụi để chiếm đoạt tổng số tiền 191.050.000 đồng nhằm mục đích tiêu xài cá nhân.
Hội đồng xét xử nhận định: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên đã phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự, do đó cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật. Hành vi của bị cáo Võ Thị C là nghiêm trọng, vì động cơ vụ lợi cá nhân bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi gian dối, tự ý hốt hụi của các hụi viên chiếm đoạt tổng số tiền 191.050.000 đồng của các bị hại nhằm mục đích chi xài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại lớn cho nhiều bị hại.
Về trách nhiệm thanh toán: Các bị hại đặt ra trách nhiệm thanh toán liên đới giữa bị cáo C và chồng là ông Kiều Văn B. Tuy nhiên, bản thân ông B có văn bản tường trình với nội dung xác định bản thân ông B không tham gia làm chủ hụi cùng bị cáo C nên không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại. Qua điều tra và tại phiên tòa đã chứng minh được việc bị cáo C làm chủ hụi ông B tuy có biết nhưng ông B không tham gia với bị cáo C làm chủ hụi nên không đề cập xử lý về trách nhiệm dân sự và hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Bản án trên đã tuyên về trách nhiệm hình sự, về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo Võ Thị C có trách nhiệm thanh toán cho các bị hại tổng số tiền 573.000.000 đồng, không đề cập trách nhiệm liên đới của ông Kiều Văn B.
Vụ việc này cho thấy, số tiền chiếm đoạt từ hành vi phạm tội là trách nhiệm cá nhân của người phạm tội theo Điều 48 BLHS năm 2015, mặc dù bên kia biết nhưng không có đồng phạm xảy ra thì bên còn lại không phải liên đới chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài sản với bên có quyền.
Sau khi Tòa án xét xử bản án hình sự trên thì các bị hại có các dây hụi khác không liên quan đến hành vi phạm tội đã đồng loạt khởi kiện dân sự đối với bà Võ Thị C và ông Kiều Văn B.
Ví dụ 2: Bản án số 109/2026/DS-ST ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực A - tỉnh C.
Nội dung vụ án: Xuất phát từ mối quan hệ quen biết, bà Bùi Thị Kiều O có tham gia các dây hụi do bà Võ Thị C và chồng là Kiều Văn B là chủ. Đến ngày 30/10/2023 âm lịch vợ, chồng bà Võ Thị C và Kiều Văn B tuyên bố vỡ hụi, như vậy vợ, chồng bà Võ Thị C và Kiều Văn B còn nợ bà số tiền của các dây hụi với tổng số tiền là: 163.000.000 đồng. Bà O yêu cầu bà C và ông B có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ hụi trên.
Hội đồng xét xử nhận định về nghĩa vụ thanh toán: Xét tại thời điểm nợ hụi đến nay ông B và bà C là vợ, chồng vẫn còn trong thời kỳ hôn nhân, Tòa án căn cứ đối chiếu Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu thiết yếu của gia đình. Tuy nhiên quá trình xét xử vụ án hình sự ông Kiều Văn B không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, ông B khai mọi sinh hoạt gia đình ông B là người chịu trách nhiệm do ông có nuôi vuông, kinh tế tự chủ, cho nên ông B không có trách nhiệm toán số tiền nợ hụi cho nguyên đơn là phù hợp. Do đó, bản án trên tuyên buộc bà Võ Thị C có trách nhiệm thanh toán cho bà Bùi Thị Kiều O 163.000.000 đồng, không đề cập trách nhiệm liên đới của ông Kiều Văn B.
Trong vụ án này, Tòa án đã căn cứ vào Điều 48 BLHS năm 2015 về việc khắc phục bồi thường hậu quả của tội phạm là trách nhiệm cá nhân của bà C, Tòa án đã nhận định do ông Kiều Văn B không bị truy cứu trách nhiệm hình sự liên quan các dây hụi do bà C làm chủ, đồng thời Tòa án cũng căn cứ vào việc ông B tự khai ông là người chịu trách nhiệm đối với chi phí sinh hoạt trong gia đình nên nên không buộc nghĩa vụ liên đới của ông B.
Như vậy, trong vụ án này, việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ, chồng só sự khác nhau so với ví dụ nêu trên. Trường hợp này, tác giả cho rằng, mặc dù ông B không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng bà C làm chủ hụi nhiều dây hụi trong thời gian dài, ông B sống chung với bà C nên buộc ông B phải biết. Do đó cần buộc ông B và bà C có trách nhiệm liên đới trả nợ cho nguyên đơn.
Từ hai dẫn chứng nêu trên cho thấy, thực tiễn xét xử tồn tại hai vấn đề xung quanh nội dung nghiên cứu. Cụ thể
Thứ nhất, đối với trường hợp một bên vợ hoặc chồng thực hiện hành vi phạm tội, bên còn lại không biết được hành vi phạm tội nhưng số tiền chiếm đoạt được sử dụng chung vì nhu cầu thiết yếu của gia đình. Trong trường hợp này, ngoài việc xác định hành vi phạm tội của một bên thì Tòa án xác định khoản tiền khắc phục, bồi thường cho bị hại là nghĩa vụ chung và cả hai vợ, chồng phải chịu trách nhiệm liên đới theo Điều 27 Luật HNGĐ năm 2014.
Thứ hai, một bên vợ hoặc chồng thực hiện hành vi phạm tội, bên còn lại không biết được hành vi phạm tội, không có đồng phạm xảy ra nhưng không chứng minh được số tiền chiếm đoạt từ tội phạm phục vụ lợi ích chung của gia đình. Trường hợp này, Tòa án thường tuyên xử về trách nhiệm hình sự và xác định nghĩa vụ riêng của người phạm tội, người còn lại không phải chịu trách nhiệm liên đới.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, trong một số trường hợp, ranh giới giữa “mục đích cá nhân” và “lợi ích chung” đôi khi rất mờ nhạt, rất khó xác định; từ đó dẫn đến phán quyết khác nhau giữa các Tòa án.
Việc áp dụng trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hành vi phạm tội vẫn còn nhiều bất cập, thể hiện qua các khía cạnh sau:
- Mối liên hệ giữa tố tụng hình sự và dân sự:
Điều 27 Luật HNGĐ năm 2014 quy định vợ, chồng có trách nhiệm liên đới đối với các nghĩa vụ tài chính chung trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhấn mạnh là trách nhiệm liên đới này chỉ áp dụng cho “nghĩa vụ tài sản chung” của vợ, chồng. Vậy khoản nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hành vi tội phạm của một bên có phải là nghĩa vụ chung của cả hai vợ, chồng không hay là nghĩa vụ riêng của người vợ, chồng. Điều này xuất phát từ bản chất pháp lý của hành vi phạm tội.
Các tội phạm xâm phạm sở hữu quy định từ Điều 168 đến Điều 175 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025) là một hành vi vi phạm pháp luật hình sự, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi này là trách nhiệm cá nhân của người phạm tội theo quy định tại Điều 48 BLHS năm 2015.
- Khoản tiền chiếm đoạt từ hành vi phạm tội được sử dụng vì nhu cầu thiết yếu của gia đình: Bản án hình sự xác định trách nhiệm hình sự của một bên vợ, chồng, không có đồng phạm xảy ra nhưng số tiền chiếm đoạt lại được sử dụng sinh hoạt chung trong gia đình thì trách nhiệm liên đới của vợ, chồng được xem xét như thế nào.
Mặc dù về mặt pháp lý, khoản bồi thường, khắc phục hậu quả từ hành vi phạm tội là trách nhiệm cá nhân, thực tiễn xét xử lại cho thấy sự phức tạp và thiếu nhất quán, có những trường hợp Tòa án đã xác định khoản nghĩa vụ từ hành vi phạm tội do một bên vợ, chồng thanh toán, trong khi các trường hợp khác lại xác định là trách nhiệm liên đới của vợ, chồng. Đây là một vướng mắc gây khó khăn trong thực tiễn xét xử, đòi hỏi cần sớm được nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện để bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn.
2. Một số kiến nghị, đề xuất
Thứ nhất, hiện nay, quy định tại Luật HNGĐ năm 2014 mà cụ thể là quy định tại Điều 27 Luật này đã quy định về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng. Tuy nhiên, điều luật lại chưa đưa ra khái niệm thế nào là “trách nhiệm liên đới của vợ, chồng”. Vì vậy, việc áp dụng trong thực tiễn còn nhiều cách hiểu chưa thống nhất. Do đó, tác giả kiến nghị, khi sửa đổi, bổ sung Luật HNGĐ năm 2014 nhà làm luật cần nghiên cứu bổ sung vào Điều 3 khái niệm “trách nhiệm liên đới của vợ, chồng”. Từ đó, phân định phạm vi trách nhiệm chung và trách nhiệm riêng của vợ, chồng để tách bạch về nghĩa vụ trong các trường hợp cụ thể. Việc xác định rõ khái niệm này là cơ sở lý luận quan trọng để phân biệt giữa nghĩa vụ liên đới, nghĩa vụ chung về tài sản và nghĩa vụ riêng của mỗi bên vợ, chồng. Chỉ khi làm rõ bản chất của trách nhiệm liên đới, cơ quan áp dụng pháp luật mới có thể xác định đúng chủ thể có nghĩa vụ và phương thức thực hiện nghĩa vụ.
Thứ hai, tác giả kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao cần sớm ban hành văn bản giải đáp về việc xác định “trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hành vi phạm tội”. Đồng thời, hướng dẫn cụ thể căn cứ phát sinh trách nhiệm liên đới giữa vợ và chồng đối với nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hành vi phạm tội. Theo quan điểm của tác giả, trách nhiệm liên đới phát sinh khi một bên vợ hoặc chồng sử dụng tài sản chiếm đoạt từ hành vi phạm tội vì lợi ích chung của gia đình.
Ví dụ, trong trường hợp một bên vợ (hoặc chồng) không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng có căn cứ xác định số tiền chiếm đoạt sử dụng chung sinh hoạt trong gia đình thì cần buộc trách nhiệm liên đới của vợ, chồng
Thứ ba, cần bổ sung quy định về nghĩa vụ chứng minh. Người yêu cầu trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hành vi phạm tội cần chứng minh số tiền có được từ hành vi phạm tội của một bên vợ, chồng nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu (hoặc chứng minh người còn lại biết nhưng không phản đối); bên không đồng ý trách nhiệm liên đới cần chứng minh số tiền có được từ hành vi phạm tội của một bên vợ, chồng không phục vụ lợi ích chung của gia đình.
Kết luận
Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng là chế định quan trọng bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba, đặc biệt là trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng thận trọng để tránh phát sinh trách nhiệm bất công. Hoàn thiện pháp luật và hướng dẫn áp dụng thống nhất sẽ góp phần bảo đảm tính công bằng trong xét xử.
TAND khu vực 3 - Đà Nẵng phối hợp với VKSND tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm đối với vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung - Ảnh: Vân Anh.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Vướng mắc trong áp dụng pháp luật về tội “Đánh bạc”
-
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Phục hồi, phá sản
-
Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trong trường hợp đương sự từ chối nhận văn bản tố tụng, vướng mắc và kiến nghị
-
Một số điểm mới của Nghị định số 69/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2025/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ
-
Thể lệ, Quy trình phản biện, Hội đồng Biên tập và Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tạp chí Toà án nhân dân
Bình luận