Chế định những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự và mô hình lý luận của chế định này trong tương lai

Qua việc nghiên cứu và phân tích khoa học thực trạng của quy phạm về những nguyên tắc cơ bản tại Chương II Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với 20 điều, tác giả đưa ra định hướng tiếp tục hoàn thiện chế định này; đồng thời, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung, tách, nhập và biên soạn lại các điều này để xây dựng mới trong Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam tương lai mô hình lập pháp gồm 17 điều luật mới về những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự.

I. Thực trạng của chế định những nguyên tắc trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành

Một số nhận xét sơ bộ về chế định những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Khi phân tích các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (BLTTHS năm 2015), có thể nhận thấy những ưu việt mới được bổ sung như: 1) Có điều luật riêng biệt về Giải thích từ ngữ (Điều 4), công khai ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13) trên cơ sở cụ thể hóa quy phạm hiến định của Hiến pháp năm 2013 (khoản 2 Điều 32) với sự sửa đổi, bổ sung đầy đủ và cụ thể hơn so với BLTTHS năm 2003; 2) Đã bổ sung điều luật về kiểm soát quyền lực trong tố tụng hình sự (Điều 33) mà trong pháp luật tố tụng hình sự trước đây chưa có. Tuy nhiên, các quy phạm về chế định các nguyên tắc trong BLTTHS năm 2015 vẫn còn một số nhược điểm về mặt kỹ thuật lập pháp như:  

1. Nội hàm của toàn bộ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự được đề cập trong 27 điều khác nhau tại Chương II “Những nguyên tắc cơ bản” (các điều 7-33) thuộc Phần thứ nhất “Những quy định chung” là chưa phù hợp.

2. Trong số những nguyên tắc cơ bản nêu trên theo BLTTHS năm 2015, vẫn còn một số nguyên tắc mà nếu xét về bản chất pháp lý của chúng thì lại chính là những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) đã được ghi nhận trong các luật tương ứng về tổ chức các cơ quan này (như: Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân), mà không phải là đặc trưng riêng của pháp luật tố tụng hình sự (Ví dụ: 12 nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại các điều 17 - 22, 24 - 25, 27 - 30 BLTTHS năm 2015, nhất là điều luật đề cập đến việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự). Do đó, để chính xác hơn về mặt khoa học và bảo đảm tốt hơn về kỹ thuật lập pháp, cần chuyển các điều luật này sang các chương tương ứng khác.

3. Theo tác giả, nên thống nhất và quy định gộp lại đối với 27 điều (7 - 33) Chương II “Những nguyên tắc cơ bản” để thành 15, 16 hoặc 17 nguyên tắc. Bởi lẽ, “cơ bản” nghĩa là nền tảng chính để từ đó phát sinh ra những cái khác. Theo đó, chỉ cần ghi nhận rõ bản chất và nội hàm chủ yếu của những nguyên tắc cơ bản, mà không nên quy định quá cụ thể.

4. Toàn bộ nội hàm Điều 26 “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” đề cập đến tranh tụng trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự (nói chung), mà không phải là chỉ có trong “xét xử”. Chính vì vậy, cần rõ ràng và dứt khoát về mặt lập pháp rằng, đây chính là nguyên tắc tranh tụng của các bên trong tố tụng hình sự thì mới đầy đủ, toàn diện; hình thức (tên gọi của điều luật) mới đúng với nội hàm mà bên trong điều luật đó quy định.

II. Mô hình lý luận về các quy phạm để tiếp tục hoàn thiện chế định những nguyên tắc trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành

1. Các luận chứng của việc tiếp tục hoàn thiện

Từ sự phân tích khoa học về những nguyên tắc cơ bản trong BLTTHS năm 2015, tác giả cho rằng, để tiếp tục hoàn thiện chế định các nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành thì dưới góc độ nhận thức - khoa học, cần lưu ý đến vấn đề mang tính phương pháp luận liên quan đến kỹ thuật lập pháp về cơ cấu của pháp luật tố tụng hình sự thực định Việt Nam trong tương lai như sau:

1.1. Các quy phạm của 02 chương đầu tiên trong BLTTHS năm 2015 đề cập đến những vấn đề về đạo luật tố tụng hình sự, mà trong đó vẫn còn thiếu 02 điều rất quan trọng: 01 điều về nguồn của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và 01 điều về hệ thống các nguyên tắc, tức là chỉ mới liệt kê các tên gọi từng nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (trước khi quy định về nội hàm của từng nguyên tắc).

1.2. Về mặt nội dung:

1) Tiến hành sửa đổi, bổ sung, tách, nhập các điều này hoặc/và biên soạn lại để xây dựng mới về nội hàm của Chương những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam; từ 27 điều (7 - 33) BLTTHS năm 2015 để rút ngắn và quy định gọn lại chỉ còn 18 điều mới (8 - 25) trong Dự thảo BLTTHS tương lai. Theo đó, nhà làm luật phải có nhận thức khoa học chính xác để phân biệt rành mạch ranh giới của nguyên tắc thuộc lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự..., và nguyên tắc thuộc phạm vi của các luật về tổ chức các cơ quan tư pháp, Viện kiểm sát, các cơ quan bảo vệ pháp luật hay các hoạt động của Luật sư, công chứng,…      

2) Cần xây dựng một số điều luật mới hoàn toàn bảo vệ các quyền con người trong tố tụng hình sự như các điều 2, 8 và nhất là Điều 21 mới của Dự thảo mô hình lý luận dưới đây.

1.3. Về mặt hình thức (có thể gọi là về kỹ thuật lập pháp). Theo tác giả, dưới góc độ tiếp tục hoàn thiện chế định những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự trong BLTTHS năm 2015 theo hướng tiếp cận quyền đã được thừa nhận chung từ lâu trong khoa học luật tố tụng hình sự, thì trong Dự thảo BLTTHS tương lai (sau lần pháp điển hóa thứ tư), cần có một số sửa đổi, bổ sung theo hướng như sau:

1) Thay đổi tên gọi (tiêu đề) cũ của Phần thứ nhất BLTTHS năm 2015 hiện hành thành tên gọi (tiêu đề) mới là “Về đạo luật tố tụng hình sự” (gồm Chương I và Chương II) của Bộ luật này;

2) Trước khi ghi nhận các quy phạm trong 02 chương (I và II) sẽ quy định 02 điều (1-2) độc lập bằng cách: a) Chuyển vị trí Điều 4 Chương I thành điều độc lập ở vị trí đầu tiên - Điều 1 (mới) “Giải thích các từ ngữ” (việc bổ sung thêm từ “các” là để bảo đảm sự chính xác về mặt khoa học vì trong điều luật này ghi nhận việc giải thích nhiều); b) Bổ sung Điều 2 (mới) “Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” để khẳng định một cách công khai là BLTTHS Việt Nam (mới) được xây dựng từ các nguồn nào.

3) Bỏ 02 từ “cơ bản” và thay tên gọi mới của Chương II thành “Những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam”, đồng thời gộp, tách và loại bỏ một số điều trong Chương này (xét về bản chất pháp lý thì các điều bị loại ra không đúng là nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự).

2. Mô hình lý luận của các quy phạm về những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam tương lai

Tác giả cho rằng, một số quy phạm thuộc Phần thứ nhất “Đạo luật tố tụng hình sự” (nói chung) và Chương II “Những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự” (nói riêng) sẽ bao gồm 24 điều luật như sau:

2.1. Hai (02) điều độc lập đầu tiên (1 - 2) không thuộc chương nào sẽ đề cập đến các quy phạm về : 1) Giải thích các từ ngữ trong BLTTHS ; 2) Nguồn của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

2.2. Năm (05) điều tiếp theo (3 - 7) vẫn giữ nguyên như nội hàm các quy phạm tại 05 điều (1 - 3 và 5 - 6) Chương I BLTTHS năm 2015.

2.3. Mười bảy (17) điều cuối cùng (từ 8 - 25) là các quy phạm đề cập đến nội dung chế định những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

“Phần thứ nhất

VỀ ĐẠO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ (mới)

Điều 1.  Giải thích các thuật ngữ

(Trước mắt có thể vẫn tạm giữ nguyên như nội dung các quy phạm tương ứng của Điều 4 BLTTHS năm 2015).

Điều 2. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (mới)

1. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam bao gồm Bộ luật này; bất kỳ một Luật mới nào quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đều phải được đưa vào Bộ luật này.

2. Bộ luật này dựa trên Hiến pháp Việt Nam, cũng như các nguyên tắc và các quy phạm được thừa nhận chung của pháp luật quốc tế về tố tụng hình sự.

3. Các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và các thông tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao với các cơ quan bảo vệ pháp luật, cũng như với các Bộ (ngành) cơ quan khác ở trung ương về việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật tố tụng hình sự nếu không mâu thuẫn với các quy định của Bộ luật này đều có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng và các Bộ (ngành) hữu quan trên lãnh thổ cả nước.

Chương I. Phạm vi điều chỉnh...

(Giữ nguyên tên gọi của Chương I; nội hàm của 05 điều luật (3 - 7) nó sẽ thuộc tương ứng với 05 điều 1 - 3 và 5 - 6 Chương I BLTTHS năm 2015).

Chương II. Những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Điều 8. Hệ thống những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự (mới)

1. Bộ luật này được xây dựng trên hệ thống 17 nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự với các tiêu đề (tên gọi) được nêu tại khoản 1 như sau:

a) Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự;

b) Tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm cá nhân, các quyền và tự do của con người và của công dân, cũng như tài sản và hoạt động kinh doanh hợp pháp của pháp nhân thương mại trong tố tụng hình sự;

c)  Nguyên tắc bình đẳng trước luật tố tụng hình sự và Tòa án;

d) Suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự;

đ) Xác định sự thật khách quan của vụ án;

e) Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tình nghi, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo;

g) Sự tham gia xét xử của Hội thẩm; Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự;

h) Chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử; Tòa án xét xử tập thể và công khai trong tố tụng hình sự;

i)  Hai cấp xét xử và giám đốc việc xét xử trong tố tụng hình sự;

k) Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự;

l) Dân chủ trong tố tụng hình sự;

m) Công khai trong tố tụng hình sự;

n) Minh oan trong tố tụng hình sự;

o) Bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án trong tố tụng hình sự;

p) Bảo đảm quyền khiếu nại và tố cáo trong tố tụng hình sự;

q) Tranh tụng của các bên trong tố tụng hình sự;

r) Kiểm soát quyền lực trong tố tụng hình sự.

2. Nội dung cơ bản của tất cả những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự có tiêu đề (tên gọi) nêu tại khoản 1 trên được quy định cụ thể tại các điều 9 - 25 Bộ luật này.

Điều 9. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự

1. Toàn bộ trình tự, thủ tục tiến hành việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự đều phải được quy định trong Bộ luật này.

2. Trong quá trình tiến hành tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Hiến pháp, cũng như các quy định của Bộ luật này.

3. Việc không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật tố tụng hình sự  vì bất kỳ động cơ hay lý do nào hoặc làm trái các quy định đó đều là sự vi phạm pháp chế trong tố tụng hình sự và chủ thể của vi phạm phải chịu trách nhiệm theo luật định.

4. Khi phát hiện có dấu hiệu của tội phạm, thì cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải có trách nhiệm kịp thời áp dụng các biện pháp do luật định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội; không được khởi tố vụ án hình sự ngoài những căn cứ, trình tự và thủ tục được quy định trong Bộ luật này.

5. Các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm kịp thời loại trừ hành vi đã được thực hiện, biện pháp đã được áp dụng hoặc quyết định đã được ban hành nếu nhận thấy hành vi, biện pháp hoặc quyết định đó vi phạm các quy định của Bộ luật này.

6. Không được giải quyết… (giữ nguyên và chuyển lên đây quy phạm đằng sau dấu chấm (.) mệnh đề của nội hàm Điều 7 BLTTHS năm 2015 thành quy phạm tại khoản 6 Điều 9 mới này).

Điều 10. Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm cá nhân, các quyền và tự do của con người và của công dân, tài sản và hoạt động kinh doanh hợp pháp của pháp nhân trong tố tụng hình sự

1. Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng phải có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm cá nhân, các quyền và tự do của con người và của công dân, cũng như hoạt động kinh doanh hợp pháp của pháp nhân.

2. Quyền tự do thân thể của con người và của công dân, cũng như sở hữu hợp pháp của pháp nhân là bất khả xâm phạm; không ai có thể bị bắt, bị tạm giữ hoặc tạm giam và không có tài sản nào của pháp nhân bị kê biên nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát trên cơ sở các căn cứ pháp lý và theo đúng trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật này.

3. Cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm trả tự do ngay cho người hoặc tài sản của pháp nhân đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trái pháp luật.

4. Tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản, cũng như chỗ ở, an toàn và bí mật về đời tư của công dân và tài sản hợp pháp của pháp nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ; việc niêm phong tài sản hợp pháp của pháp nhân, cũng như việc khám xét chỗ ở, kiểm tra điện tín, điện thoại hoặc thư từ của công dân chỉ có thể được tiến hành trong những trường hợp do luật định và trên cơ sở các căn cứ do Bộ luật này quy định.

5. Nghiêm cấm việc thực hiện hành vi, áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc ban hành quyết định xâm phạm đến nhân phẩm cá nhân, mọi hình thức dùng bạo lực, nhục hình hoặc truy bức, đe dọa đến tính mạng, danh dự, sức khoẻ, tài sản của con người và của công dân, việc gây nên sự đau đớn về thể xác hoặc tinh thần cho họ, cũng như việc cản trở hoạt động kinh doanh hợp pháp của pháp nhân.

6. Việc khám xét chỗ ở, khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín… (giữ nguyên nội hàm tại đoạn 2 Điều 12 BLTTHS năm 2015 và chuyển lên đây thành quy phạm tại khoản 6 Điều 10 mới này).

7. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành... (giữ nguyên nội hàm và chuyển quy phạm tại đoạn 1 Điều 19 BLTTHS năm 2015 thành quy phạm tại khoản 7 Điều 10 mới này).

8. Không ai có thể bị xét xử hai lần vì một tội phạm (giữ nguyên tên gọi của Điều 14 BLTTHS năm 2015 và chuyển lên đây thành quy phạm tại khoản 8 Điều 10 mới này).

9. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử... (giữ nguyên nội hàm và chuyển lên đây quy phạm thứ hai sau dấu chấm (.) tại Điều 7 BLTTHS năm 2015 thành quy phạm tại khoản 9 Điều 10 mới này).

Điều 11. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật tố tụng hình sự và trước Tòa án

1. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật tố tụng hình sự và Tòa án, tuyệt đối không được có sự phân biệt nào về giới tính, dân tộc, tôn giáo, chính kiến, nghề nghiệp, địa vị xã hội và tình trạng tài sản của cá nhân, cũng như hình thức sở hữu và thành phần kinh tế của pháp nhân.

2. Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, các bên buộc tội và bị buộc tội đều bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đề xuất yêu cầu và tranh luận trước Tòa án.

3. Bất kỳ cá nhân phạm tội nào, cũng như bất kỳ pháp nhân nào có liên đới đến tội phạm được thực hiện thì đều bị xử lý hình sự theo đúng pháp luật.

4. Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự,... (giữ nguyên nội hàm và chuyển lên đây quy phạm tại đoạn 1 Điều 17 BLTTHS năm 2015 thành khoản 4 Điều 11 mới này).

5. Người vi phạm pháp luật trong việc giữ người,... (giữ nguyên nội hàm và chuyển lên đây quy phạm tại đoạn 2 Điều 17 BLTTHS năm 2015 thành khoản 5 Điều 11 mới này).

Điều 12. Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự

1. Không ai có thể bị coi là có tội khi mà tội phạm do họ thực hiện chưa được chứng minh theo đúng các quy định của Bộ luật này và chưa được xác định bằng bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

2. Nghĩa vụ chứng minh tội phạm là trách nhiệm của bên buộc tội, còn người bị buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình.

3. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát và bản án kết tội của Tòa án cần dựa trên các chứng cứ khẳng định lỗi của người bị buộc tội trong việc thực hiện tội phạm.

4. Tất cả mọi sự nghi ngờ về lỗi của người bị buộc tội nếu không thể loại trừ được theo trình tự do luật định, cũng như mọi sự nghi ngờ xuất hiện trong việc giải thích và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự, đều phải được giải quyết theo hướng có lợi cho họ.

Điều 13. Nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án

1. Chỉ có chứng cứ nào đã được phát hiện và tìm kiếm, kiểm tra và đánh giá theo đúng các trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, thì mới được sử dụng để xác định sự thật khách quan của vụ án.

2. Cơ quan và người tiến hành tố tụng phải áp dụng đúng các biện pháp do luật định để xác định sự thật khách quan của vụ án một cách toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ buộc tội và những chứng cứ gỡ tội, cũng như các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.

3. Nghiêm cấm việc thu thập chứng cứ bằng các thủ đoạn mớm cung, đe dọa, hoặc sử dụng bạo lực hay phương tiện hoặc phương pháp bị luật cấm đối với người bị tình nghi, bị can, bị cáo hoặc những người tham gia tố tụng khác.

4. Bất kỳ chứng cứ nào thu thập được trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự mà trái với các quy định của Bộ luật này, thì đều không có giá trị pháp lý để xác định sự thật khách quan của vụ án.

Điều 14. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tình nghi, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự

1. Người bị tình nghi trong việc thực hiện tội phạm, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can và bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình từ thời điểm người đó bị bắt, bị tạm giữ hoặc bị buộc tội.

2. Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có nghĩa vụ đảm bảo cho người bị tình nghi trong việc thực hiện tội phạm, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo được thực hiện đầy đủ quyền bào chữa của họ mà Bộ luật này quy định.

3. Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có nghĩa vụ giải thích đầy đủ cho người bị tình nghi trong việc thực hiện tội phạm, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về tinh thần và lời văn (nội dung) quyền bào chữa của họ mà Bộ luật này quy định.

4. Ngay từ thời điểm người phạm tội bị bắt, bị tạm giữ hoặc bị buộc tội, cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải có nghĩa vụ giải thích cho họ đầy đủ tất cả các nội dung cơ bản sau đây của quyền bào chữa:

a) Họ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình;

b) Họ có quyền im lặng và không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình;

c) Tất cả những gì họ nói ra có thể được sử dụng làm chứng cứ để chứng minh tội của họ tại phiên tòa.

5. Việc giải thích quyền bào chữa phải được lập thành văn bản và có chữ ký xác nhận của người được giải thích.

Điều 15. Nguyên tắc tham gia xét xử của Hội thẩm; Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự

1. Khi xét xử các vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, tại Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia; Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán.

2. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Điều 16. Nguyên tắc chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử; Tòa án xét xử tập thể và công khai trong tố tụng hình sự

1. Xét xử các vụ án hình sự là thẩm quyền riêng biệt do luật định mà chỉ có Tòa án với tính chất là cơ quan tài phán mới được pháp luật trao cho.

2. Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số; các phiên tòa xét xử được tiến hành công khai, trừ những trường hợp đặc biệt vì lý do giữ gìn bí mật quốc gia, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc bí mật đời tư của những người tham gia tố tụng khi yêu cầu này của họ được coi là chính đáng.

Điều 17. Nguyên tắc hai cấp xét xử và giám đốc việc xét xử trong tố tụng hình sự

1. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự; khi bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do luật định thì vụ án hình sự bắt buộc phải được xét xử phúc thẩm và bản án, quyết định phúc thẩm ấy có hiệu lực pháp luật ngay.

2. Nếu trong thời hạn do luật định mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật ngay sau khi thời hạn đó đã hết.

3. Để bảo đảm pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất, Tòa án cấp trên có quyền giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp dưới, Tòa án nhân dân tối cao có quyền giám đốc việc xét xử Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp.

Điều 18. Nguyên tắc thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự

1. Việc thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát bao gồm:

a) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra trong quá trình khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, áp dụng biện pháp ngăn chặn và các hoạt động điều tra khác;

b) Truy tố người phạm tội trước pháp luật bằng bản cáo trạng, thực hiện việc buộc tội bị cáo và tranh tụng với bên gỡ tội trước Tòa án;

c) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan Thi hành án hình sự.

2. Việc thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát nhằm đảm bảo:

a) Phát hiện kịp thời để loại trừ vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào;

b) Mọi hành vi phạm tội đều phải bị khởi tố, điều tra, xử lý nhanh chóng, kịp thời;

c) Việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được đúng người, đúng tội và đúng pháp luật;

d) Không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.

Điều 19. Nguyên tắc dân chủ trong tố tụng hình sự

1. Bất kỳ người tham gia tố tụng nào cũng được pháp luật bảo đảm quyền tự do lựa chọn tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trong tố tụng hình sự hoặc quyền được có phiên dịch trong trường hợp không sử dụng được ngôn ngữ tiến hành tố tụng.

2. Tham gia vào tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật này là quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và công dân; Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức và công dân thực hiện quyền này nhằm góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ các quyền và tự do của công dân.

3. Giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng là quyền của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc.

4. Khi phát hiện hành vi trái pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc những người tiến hành tố tụng, thì các cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử có quyền yêu cầu, còn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội thành viên của Mặt trận Tổ quốc có quyền kiến nghị với các cơ quan hoặc những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS; các cơ quan hoặc những người này phải có trách nhiệm xem xét, giải quyết và trả lời các yêu cầu, kiến nghị đó theo luật định.

Điều 20. Nguyên tắc công khai trong tố tụng hình sự

1. Bất kỳ người tiến hành tố tụng nào theo luật định, kể cả người phiên dịch và người giám định đều không được tiến hành hoặc tham gia tố tụng, nếu có lý do cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình.

2. Trên cơ sở các quy định của Bộ luật này, các cơ quan nhà nước khác phải:

a) Trong phạm vi trách nhiệm của mình phối hợp với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm;

b) Thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án biết mọi hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan mình và thực hiện yêu cầu của cơ quan hoặc người tiến hành tố tụng;

c) Tạo điều kiện để cơ quan hoặc những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền thực thi công vụ;

d) Không được cản trở hoạt động theo thẩm quyền do luật định của các cơ quan hoặc những người tiến hành tố tụng;

3. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong phạm vi thẩm quyền của mình có trách nhiệm:

a) Nhanh chóng phát hiện tội phạm và kịp thời khởi tố vụ án hình sự;

b) Tích cực áp dụng các biện pháp để xác định lỗi của người có tội, minh oan cho người vô tội và bảo đảm việc bồi thường thiệt hại cho họ theo luật định;

c) Tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan và tổ chức có liên quan áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục, ngăn ngừa; đồng thời, các cơ quan, tổ chức này phải trả lời về việc thực hiện yêu cầu đã được đưa ra.

4. Mọi hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật,... (giữ nguyên nội hàm và chuyển lên đây quy phạm tại đoạn 2 Điều 19 BLTTHS năm 2015 thành khoản 4 Điều 20 mới này).

Điều 21. Nguyên tắc minh oan trong tố tụng hình sự (mới)

1. Minh oan trong tố tụng hình sự là việc Nhà nước bồi thường hoàn toàn hoặc một phần thiệt hại về vật chất, khắc phục các hậu quả của thiệt hại về tinh thần và phục hồi lại các quyền bị tổn thất cho công dân, cũng như pháp nhân đã bị oan do cơ quan hoặc người tiến hành tố tụng tương ứng có thẩm quyền gây ra cho họ trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Công dân, cũng như pháp nhân đã bị oan có quyền được minh oan và cơ quan hoặc người tiến hành tố tụng tương ứng có thẩm quyền đã làm oan họ phải có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh và đầy đủ các quy định của pháp luật để kịp thời minh oan cho công dân đã bị oan.

3. Trình tự, thủ tục bồi thường thiệt hại về vật chất, khắc phục các hậu quả của thiệt hại về tinh thần và phục hồi lại các quyền bị tổn thất cho công dân, pháp nhân đã bị oan do cơ quan hoặc người tiến hành tố tụng tương ứng có thẩm quyền gây ra cho họ trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như việc quyết định các diện công dân được minh oan và công nhận quyền được minh oan của từng người phải do Bộ luật này quy định.

Điều 22. Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án trong tố tụng hình sự

1. Bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành trong thực tế, đồng thời phải được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng.

2. Tổ chức, cá nhân hữu quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và phải chịu trách nhiệm theo luật định về việc chấp hành đó.

3. Bất kỳ sự né tránh hoặc cố tình không chấp hành của tổ chức, cá nhân hữu quan nào đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đều là sự vi phạm pháp luật và phải bị xử lý nghiêm minh theo luật định.

Điều 23. Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại và tố cáo trong tố tụng hình sự

1. Khi nhận thấy có dấu hiệu của hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó, thì công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại và công dân có quyền tố cáo.

2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời theo luật định các khiếu nại và tố cáo, đồng thời thông báo bằng văn bản kết quả cho đương sự biết và có biện pháp khắc phục.

3. Trình tự, thủ tục và thẩm quyền của các cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự do Bộ luật này quy định.

Điều 24. Nguyên tắc tranh tụng của các bên trong tố tụng hình sự

1. Việc xét xử các vụ án hình sự của Tòa án các cấp được tiến hành trên cơ sở tranh tụng dân chủ và bình đẳng của các bên tại phiên tòa; Tòa án là cơ quan tài phán bảo đảm cho các bên những điều kiện cần thiết để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng, sự dân chủ và bình đẳng với nhau trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa.

2. Quá trình tranh tụng dân chủ và bình đẳng của các bên tại phiên tòa phải bảo đảm sự độc lập với nhau và phân định rõ ràng các chức năng buộc tội, biện hộ (gỡ tội) và phán xét (giải quyết) vụ án hình sự theo giới hạn như sau:

a) Chức năng buộc tội do Kiểm sát viên thực hiện;

b) Chức năng biện hộ do người bào chữa (Luật sư) thực hiện;

c) Chức năng phán xét do Tòa án thực hiện.

3. Bản án hoặc quyết định tương ứng về vụ án hình sự do Tòa án tuyên phải dựa trên cơ sở kết quả tranh tụng dân chủ và bình đẳng của các bên tại  phiên tòa.

4. Tại phiên tòa, nếu Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố, thì Tòa án không được tiếp tục xét xử vụ án hình sự nữa và phải tuyên bị cáo vô tội.

Điều 25. Nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong tố tụng hình sự

 (Trên cơ sở thay đổi 03 từ “tra, giám sát” trong tên gọi và giữ nguyên nội hàm các quy phạm của Điều 33 BLTTHS năm 2015 và chuyển về đây thành Điều 25 BLTTHS trong tương lai).

Như vậy, trong bài viết này, tác giả đưa ra các phân tích khoa học và đề xuất định hướng tiếp tục hoàn thiện những vấn đề có liên quan về kiến giải lập pháp cụ thể, tương ứng với sự ghi nhận các quy phạm của tổng số chỉ 18 điều luật gồm:

1. Một (01) điều chung được quy định theo hướng chỉ liệt kê về hệ thống tên gọi (tiêu đề) của tất cả 17 nguyên tắc cần được ghi nhận trong Dự thảo của mô hình lý luận về những nguyên tắc của BLTTHS Việt Nam trong tương lai.

2. Mười bảy (17) điều riêng biệt tương ứng với nội dung cơ bản của từng nguyên tắc cụ thể sẽ được ghi nhận trong Dự thảo của mô hình lý luận về những nguyên tắc của BLTTHS Việt Nam trong tương lai.

 

Theo Kiemsat.vn

Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử vụ án Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản- Ảnh: Nguyễn Huy Hoàng

GS. TSKH. LÊ CẢM - THS. LÊ THÚY HIỀN