Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 283/2026/NĐ-CP ngày 15/7/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/9/2026.

Theo Nghị định, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì bị xử phạt theo hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền.

Tùy tính chất, mức độ vi phạm, người vi phạm còn có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung như tịch thu tang vật vi phạm hành chính, tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề có thời hạn, đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc trục xuất người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. 

Đồng thời, Nghị định cũng quy định cụ thể về thời hiệu xử phạt, hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện. Đối với lĩnh vực việc làm, Nghị định quy định phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng đối với hành vi phân biệt đối xử trong việc làm khi không xuất phát từ yêu cầu đặc thù của công việc và các hành vi duy trì, bảo vệ việc làm cho người lao động dễ bị tổn thương. Hành vi khai thác, chia sẻ hoặc sử dụng trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin thị trường lao động chưa được cơ quan có thẩm quyền công bố bị phạt từ 20 - 40 triệu đồng.

Đáng chú ý, mức phạt từ 50 - 70 triệu đồng được áp dụng đối với các hành vi gian lận, giả mạo hồ sơ để thực hiện chính sách về việc làm hoặc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; lợi dụng hoạt động dịch vụ việc làm xâm phạm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; mua bán, trao đổi hoặc chiếm đoạt trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động khi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự,...

Đối với hành vi hoạt động dịch vụ việc làm khi chưa được thành lập hợp pháp, mức phạt từ 45 - 60 triệu đồng. Ngoài ra, tổ chức, cá nhân vi phạm còn bị buộc hoàn trả toàn bộ khoản tiền đã thu của người sử dụng dịch vụ việc làm cùng khoản lãi phát sinh theo quy định.

Trong lĩnh vực tuyển dụng, quản lý lao động, Nghị định quy định phạt từ 1 - 3 triệu đồng đối với các hành vi như không khai trình việc sử dụng lao động; thu tiền của người lao động khi tuyển dụng; không lập hoặc không xuất trình sổ quản lý lao động theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; Không xuất trình sổ quản lý lao động khi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền yêu cầu. Mức phạt từ 5 - 10 triệu đồng áp dụng đối với hành vi phân biệt đối xử trong lao động, sử dụng lao động chưa qua đào tạo đối với công việc bắt buộc phải qua đào tạo hoặc không thực hiện chế độ báo cáo về lao động theo quy định.

Đặc biệt, hành vi lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo gian dối hoặc sử dụng thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc tuyển dụng nhằm mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị phạt từ 50 - 75 triệu đồng. Trường hợp người sử dụng lao động thu tiền của người lao động trái quy định còn phải hoàn trả toàn bộ số tiền đã thu.

Về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội bắt buộc, Nghị định quy định phạt cảnh cáo đối với hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội khi số tiền vi phạm dưới 400.000 đồng tại thời điểm lập biên bản.

Đối với các hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội; không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng thuộc trường hợp pháp luật quy định không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật, mức phạt dao động từ 5 - 75 triệu đồng, tùy theo số lượng người lao động bị vi phạm.

Trường hợp chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, người sử dụng lao động bị phạt từ 12% - 15% tổng số tiền chậm đóng tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng. Đồng thời, người sử dụng lao động phải đăng ký đầy đủ người tham gia, đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội còn thiếu và nộp thêm khoản tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền và thời gian chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.

Đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, Nghị định quy định mức phạt từ 6 - 75 triệu đồng đối với hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội. Trường hợp đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định hoặc không đóng, đóng không đầy đủ sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị phạt từ 18% - 20% tổng số tiền trốn đóng, tối đa 75 triệu đồng.

Bên cạnh việc xử phạt, người sử dụng lao động vi phạm còn bị buộc đăng ký đầy đủ người tham gia bảo hiểm xã hội, đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội trốn đóng và nộp thêm khoản tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền và thời gian trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định.    

TOÀN VĂN NGHỊ ĐỊNH SỐ 283/2026/NĐ-CP NGÀY 15/7/2026

HOÀNG HIỆP

Ảnh minh họa. Nguồn ảnh: internet.