Có đủ căn cứ để tuyên tịch thu hoặc truy thu số tiền 12.280.000 đồng

Sau khi nghiên cứu bài viết “Xử lý số tiền bị chiếm đoạt nhưng chủ sở hữu, bị hại không yêu cầu trả lại tài sản” của tác giả Nguyễn Thị Kim Phượng, đăng ngày 05/4/2023, tôi cho rằng có đủ căn cứ để tuyên tịch thu hoặc truy thu số tiền 12.280.000 đồng.

Thứ nhất, xác định số tiền 12.280.000 đồng thuộc trường hợp “tiền do mua bán vật do phạm tội mà có” thuộc trường hợp tại điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS. Tuy nhiên nếu chỉ căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS là chưa đầy đủ vì “Vật là 18 bình ắc quy” là tài sản của Viettel và số tiền 12.280.000 đồng là tài sản của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không biết số bình ắc quy là tài sản do trộm cắp mà có nên những người này không có lỗi trong việc mua bán tài sản do trộm cắp căn cứ khoản 3 Điều 47 BLHS không tịch thu số tiền số tiền 12.280.000 đồng mà trả lại cho chủ sở hữu. Tại phiên tòa dù đã được Hội đồng xét xử giải thích quyền được đòi lại tài sản bị chiếm đoạt, quyền yêu cầu bồi thường nhưng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả lại số tiền 12.280.000 đồng, do đó không có căn cứ để trả lại số tiền cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 47 BLHS.

Thứ hai, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền do mua tài sản trộm cắp là 12.280.000 đồng. Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã từ bỏ quyền sở hữu, định đoạt số tiền 12.280.000 theo quy định tại Điều 194 của BLDS. Tuy nhiên, số tiền 12.280.000 đồng là “tiền do mua bán vật do phạm tội mà có” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS mà các bi cáo đang quan lý hoặc đã tiêu dùng hết do đó tuyên tịch thu hoặc truy thu số tiền 12.280.000 đồng sau khi chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu, định đoạt là có căn cứ

Việc xử lý số tiền 12.280.000 đồng có thể chia làm 03 trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, số tiền 12.280.000 đồng các bị cáo chưa sử dụng do các bị cáo hoặc người khác đang quản lý căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS tuyên tịch thu sung ngân vào sách nhà nước.

Trường hợp thứ hai, số tiền 12.280.000 đồng các bị cáo đã tiêu dùng một phần, số tiền còn lại do các bị cáo hoặc người khác đang quản lý. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền còn lại. Đối với số tiền các bị cáo đã tiêu dùng hết không thể tuyên tịch thu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS vì số tiền không còn. Trường hợp này có thể tuyên truy thu số tiền đã tiêu dùng  (BLHS, BLTTHS không có quy định. Sau khi Toà án tuyên truy thu việc thi hành án số tiền truy thu được thực hiện thế nào Luật Thi hành án hình sự và các văn bản hướng dẫn không có quy định) hoặc cũng có thể áp dụng Mục 3 Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 của TANDTC tuyên không tuyên tịch thu tài sản bị cáo do đã tiêu dùng hết và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả số tiền trên.

Trường hợp thứ ba, số tiền 12.280.000 đồng các bị cáo đã tiêu dùng hết thì không thể căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS để tuyên tịch thu. Trường hợp này có thể tuyên truy thu hoặc áp dụng Mục 3 Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 của TANDTC tuyên không tịch thu tài sản bị cáo do đã tiêu dùng hết và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả số tiền trên.

Trên đây là quan điểm cá nhân của tác giả về bài viết, mong nhận được sự trao đổi của đồng nghiệp và độc giả.

 

ThS. HOÀNG NGUYÊN THẮNG (Viện kiểm sát quân sự Quân khu 1)

Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, Thái Nguyên xét xử vụ án  trộm cắp tài sản - Ảnh: Hữu Được